- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Trường ca “MƯA CUỐI CÙNG”

13 Tháng Mười 202511:02 CH(Xem: 11224)

Thi sĩ NGUYỄN CHÍ TRUNG-Photo by Suol Chi Thien - Berlin 2023
Thi sĨ Nguyễn Chí Trung- Photo by Suol Chi Thien - Berlin 2023


Nguyễn Chí Trung

Trường ca “MƯA CUỐI CÙNG”

_________ 

 

LỜI DẪN I

 

Có những cơn mưa không chỉ rơi xuống mặt đất,

mà còn rơi vào bên trong con người.

Mưa Cuối Cùng là một cơn mưa như thế —

cuối cùng của Thời Gian,

và cũng là khởi đầu cho một cuộc rửa tội của Linh Hồn.

Trong tiếng mưa, Thi Sĩ nghe được tiếng dội của nhân loại:

những bước chân thất lạc, những linh hồn không còn chốn trở về,

và câu hỏi âm thầm về ý nghĩa của cuộc hiện sinh.

Ở đó, Thơ không còn là ngôn từ,

mà trở thành một hơi thở duy nhất – một tiếng vọng cuối cùng – một sự thử tìm cách sống sót.

Từ “Gió” đến “Mưa Cuối Cùng”,

Nguyễn Chí Trung đi hết một vòng của Tạo hóa:

từ hơi thở vô hình đến giọt nước hữu hình,

từ khởi nguyên đến tàn diệt,

để lại cho đời một ánh nhìn – trong suốt, đau đớn, và nhân từ.

Mưa Cuối Cùng không chỉ là Thơ,

mà là một nghi thức tiễn đưa con người về lại với thiên nhiên,

nơi mỗi giọt mưa là một linh hồn được trả về nguyên thủy.

 

 

 

MƯA CUỐI CÙNG

1.

Mưa liên tục hai ngày nay

Mưa tầm tã, mưa kéo dài … cơn điên

Nước từ đâu đổ liên miên

Như Trời trút cả buồn phiền một cơn

2.

Nơi chốn này, đâu trống trơn

Người, xe tháo chạy. Đã sờn lòng ai?

Nước từ đâu đổ về đây?

Nước sông Hằng rửa đọa đày hiện sinh?

3.

Vỉa hè đốt thuốc đứng nhìn

Mặt đường mưa vỡ linh tinh ánh đèn

Vàng cho thành phố thêm đen

Vọt cho thân phận càng hèn thêm ra

4.

Mưa từ hỏa ngục về qua

Đây là thủy ngục chứ là gì đâu!

Mưa từ cuối mưa từ đầu

Mưa suốt khoảng giữa cho sâu đọa đày

5.

Mưa nhiều thế kỷ đến nay

Xuống dân và nước bùn lầy chìm trong

Có ai còn được chút lòng

Nhìn mưa để thấy là … không còn gì!

6.

Có chắc không, không còn gì?

Mưa đâu trôi tuột thầm thì trong tim

Ở trong những mạch máu chìm

Những ngày tháng cũ còn tìm lẫn nhau

7.

Mưa đem nước từ chỗ nào

Về đây ướt sũng não đầu của ta

Hiên Tây ta đứng nhìn ra

Giữa đường dòng cũ cuộc xa linh hồn

8.

Tấm lòng riêng, tấm lòng chung

Còn lòng nào nữa mà trông mong giờ

Chúng ta không thể nào ngờ

Nước chôn toàn bộ, bây giờ là đây!

9.

Mưa khủng khiếp, ta ngất ngây

Mưa từ hồng thủy, về đây một lần

Giọt quất vào mặt không ngừng

Ta nhắm mắt lại, cõi trần hình dung

10.

Mưa trên trần thế lung tung

Giọt ngang bay khắp vào lòng trống không

Giọt dọc đổ xuống thành đòng

Cuốn trôi những cuộc đời không bến bờ

11.

Chúng ta đâu thể nào ngờ

Sau cuộc tiến hóa, bây giờ là đây!

Chúng ta có hết trong tay

Mà vĩnh viễn mất một bài đầu tiên

12.

Mưa nay: Trời Đất cơn điên

Chúng ta vẫn chưa diện tiền: không ta

Nước xuyên qua mọi mái nhà

Chỗ nào trú nữa, cũng là thế thôi

13.

Từ trên nước đổ liên hồi

Đường sông cuộc hết luân hồi nhân sinh

Bao trăm ngàn năm (?) tiến trình

Đến nay hội tụ sắp thành Số Không

14.

Không đâu ta không hề mong

Sau khi biến mất, sẽ không còn người

Trái tim ta quá yêu đời

Nhưng đầu ta thấy “con người hôm nay”

15.

Mưa dai dẳng giọt dằng dai

Nước đà phủ lấp cái ngày hoang sơ

Luận Tiêu dao chỉ trong tờ

Nào ai có thể đã ngờ đến đây?

16.

Sống là căn bệnh không hay

Chết là liều thuốc giải vây cuối cùng

(Nói ra chúng bảo điên khùng

Sống ngày nay, không điên khùng, làm sao?)

17.

Mưa làm những đời lao đao

Những đời lảo đảo từ đầu đến đuôi

Những đời không thể chôn vùi

Cũng không hề muốn, dù thời trầm luân

18.

Cho hay cuộc sống vô ngần

Muốn tiêu hủy được, phải cần bàn tay

Có thật không? Không đổi thay

Nếu thuần nhiên sống từ ngày hồng hoang

19.

Mưa từ cõi ấy địa đàng

Nay về địa ngục: trần gian chính là

Xưa Vô Cùng mở ngày ra

Nay đèn rạng sáng, ngày là đêm sâu

20.

Nhà em ở tận những đâu

Bờ tràn ngăn cách cơ hầu khó qua

Mưa chia hai thế giới ta

Trong linh hồn một mới là Tình Yêu

21.

Mưa khắp cảnh giới tiêu điều

Gió phành phạch đập mái lều giăng nghiêng

Ny lông manh áo qua đêm

Ôm nhau ngồi ngủ dựa bên hè tường

22.

Chung quanh ngạo nghễ xiển dương

Nhà cao hơn tháp, con đường văn minh

Thép và kính, tiền và danh

Đó là một cuộc chiến tranh không ngừng

23.

Trời mưa không thể nào ngưng

Chúng ta cũng thế, có ngừng được đâu!

Cho dù bao cuộc dãi dầu

Ở trong chỉ tấm lòng sâu là còn

24.

Nước trôi tan những dấu mòn

Ta tìm, ngu xuẩn trong cơn điên rồ

Bao nhiêu chữ nghĩa hồ đồ

Không ngăn ta khỏi ngây ngô kiếm tìm

25.

Mưa dử dội, đất này chìm

Nước làm sũng ướt quả tim mệt nhoài

Hồn ta tấm giẻ rách, dai

Mà như chứa hết đọa đày thế gian

26.

Làm sao vắt, vắt lại càng

Chưa khô cạn đã lại tràn đầy thêm

Đục ngầu cứ mãi dâng lên

Bùn lầy đã đến tận Thềm Bên Kia

27.

Mưa ngăn cách, mưa chia lìa

Bây giờ hẳn đã đầm đìa hơn xưa

Đây thành phố cũ như vừa

Mất đi. Hay đã mất từ Ra Đi?

28.

Đã nửa thế kỷ, còn gì

Đây con đường cũ, ta về nhìn quanh

Hàng cây me lá vẫn xanh

Còn mang chứng tích?Phong phanh trong đầu

29.

Mưa từ đâu, mưa về đâu

Mưa từ đầu xối dòng sầu trong ta

Mới đầu xứ sở là nhà

Nay Mặt Đất chẳng còn là Quê Hương

30.

Đâu phải là chuyện tha phương

Không riêng chỉ chuyện con đường nước trôi

Bây giờ Mặt Đất Trong Hồi

Tắt Hơi, trong một cuộc chơi hãi hùng

31.

Mưa đây một trận cuối cùng

Để đưa nhân sử vào vùng chiêm bao

(Phải đâu chỉ trận mưa rào

Làm ta xao xuyến tầm phào chyện riêng

32.

Cũng không phải cuộc buồn phiền

Vì đâu ta mở diện tiền cuộc sinh

Cuộc đi đầy ải thông minh

Đấy là nghiệp chướng. Hay Tình phải mang?)

33.

Mưa dài như là Thời Gian

Tự tại tuyệt đối không màng chúng ta

Trái đất Người có về qua

Ở trong vũ trụ có là gì không?

34.

Bao nhiêu là giọt dãi dầu

Bao nhiêu nước đổ lên tàu lá khoai

Những cơn mưa làm mệt nhoài

Mà hồn sao vẫn cần hoài mưa giông!

35.

Nhìn đây mưa ngập trong không

Xuyên qua ngõ ngách của lòng mở ra

Thấm vào mạch máu dưới da

Có gì khác biệt đời ta đời người

36.

Nếu là tài trí hơn đời

Thì đừng ngôn ngữ đừng lời, thừa dư

Bao nhiêu chữ nghĩa vốn từ

Ngàn xưa để lại, bây giờ cũng tan

37.

Mưa đây trận cuối cùng đang

Xóa sạch tội lỗi trần gian đã làm

Mặt Đất Rác Rưởi nhở nham

Con thuyền thủng lỗ nước tràn cuộc sinh

38.

Một lần ta đã hãi kinh

Bây giờ chấp nhận, chỉ đành nhìn thôi

Có không, còn chút ngậm ngùi?

Ấy là một nỗi ngậm-ngùi-vạn-năm

39.

Mưa như từ Chốn Xa Xăm

Trời tuôn nước mắt âm thầm xót thương

Có khi chỉ tại Con Đường

Người Đi dẫn đến vô thường, tất nhiên

40.

Chữ bóng bẩy, nghĩa quàng xiên

Cũng là trôi tuột xuống miền phù du

Trong đêm-thế-giới âm u

Đốt trái tim trên Đường Mù mà đi

41.

Mưa vật vã lòng từ bi

Hình như người chẳng còn gì với nhau

Vì chưng thế giới quá giàu

Đã ai biết Đất khổ đau cực cùng

42.

Vĩnh hằng ý niệm mông lung

Câu kinh được viết, tụng không có người

Bài Thơ từng khúc rã rời

Mà sao kỳ vọng cho đời mai sau!

43.

Mưa quất càng lúc càng đau

Lòng đà tuyệt vọng làm sao khẩn cầu?

Gọi nhau qua tiếng nguyện cầu

Trong im lặng của hố sâu đầm lầy

44.

Mưa trên những linh hồn say

Cho rượu ma túy cuồng quay với đời

Nếu ta chẳng bị làm người

Thì đâu phải viết những lời khổ đau!

45.

Mưa trên đời người lỡ tàu

(Những người kịp chuyến, về đâu thì về!)

Trên ga vất vưởng lê thê

Mai này chắc chắn chuyến về dưới kia

46.

Mưa dài đến tận cõi khuya

Nước dâng mãi, không còn chia hai bờ

Bên đây, bên đó, đến giờ

Tiếng chuông chùa dẫn qua bờ trầm luân?

47.

Mưa mới thật là vô ngần

Vì chưng nước mắt chỉ ngầm dưới thôi

Tất cả đây. Tôi đâu rồi?

Tôi không ngừng khóc từ hồi mới sinh

48.

Mưa theo Người cuộc hành trình

Không dừng lại được. Điêu linh là giờ!

Ôi bi thảm cuộc làm Thơ

Nói ra Sự Thật Không Ngờ. Làm chi

49.

Mưa ôi, một chút từ bi

Kiếp người hãy hóa, trả về thiên nhiên

Một lần chấm dứt đảo điên

Thơ ta hòn sỏi bình yên suối vàng

NGUYỄN CHÍ TRUNG

27.09. - 03.10.2016 Hotel Anh Tú - Saigon

© nguyenchitrung

 

Trường ca “MƯA CUỐI CÙNG” được viết ròng rã trong suốt một tuần lễ mưa từ 27.09. đến 03.10.2016 tại khách sạn Anh Tú, đường Bà Huyện Thanh Quan, Saigon, gồm 49 từ khúc, nhiều hơn trường ca “GIÓ” một từ khúc.

Buổi tối đó tôi đã lội mưa và bùn một mình sang quán Cơm Nam Định dùng bữa ăn tối, sau đó đứng dưới mái hiên ở vỉa hè, đốt thuốc hút và nhìn MƯA, nghĩ đến những cơn mưa của thời thơ ấu, thời thanh niên, và đến tiến trình của cả nhân loại.

27.09. – 03.10.2016

SAIGON

 

 

***

LỜI DẪN II

 

“Mưa Cuối Cùng” không nói về cơn mưa như hiện tượng, mà như một phép thử cho linh hồn con người.

Trong sự lặp đi lặp lại của giọt nước, thế giới hiện ra vừa mệt mỏi vừa nguyên sơ. Mưa rửa sạch lịch sử, rửa sạch ngôn từ, và cuối cùng rửa sạch chính ý nghĩa của cuộc hiện sinh.

Những từ khúc của Nguyễn Chí Trung là những mảnh nhận thức, rơi giữa Thời Gian và ký ức. Ông không tìm câu trả lời; ông chỉ ghi lại những khoảnh khắc khi câu hỏi tự nó tan trong tiếng mưa. Ở đó, con người không còn là chủ thể sáng tạo mà trở về làm hạt bụi thấm nước, tự soi mình trong tấm gương của địa cầu.

Đọc “Mưa Cuối Cùng” là đi ngược tiến trình của cái gọi là văn minh, trở lại điểm khởi nguyên của ý thức — nơi cái “tôi” và “thế giới” chưa từng tách biệt. Mưa, trong nghĩa ấy, chính là ký ức cuối cùng của vũ trụ về chính nó.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 844)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 876)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1172)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1036)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1256)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1363)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 202611:15 CH(Xem: 1325)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 202610:39 CH(Xem: 1191)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 1768)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
23 Tháng Tư 20264:50 CH(Xem: 1914)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9311)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16146)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15164)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15505)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 844)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1172)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1256)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 1768)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3500)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 5299)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 4840)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 5468)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1036)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1363)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 1678)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1665)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1325)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1191)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1463)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1524)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12189)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28571)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35068)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 34968)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9703)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 11922)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 876)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 1172)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 1768)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 1914)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2218)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 6937)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6345)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8301)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.