- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

NIỀM VUI CÔ ĐƠN

15 Tháng Tư 202511:27 CH(Xem: 16573)

TAC GIA TRIEU VU
Tác giả Triệu Vũ Người Bạn Đời


Triệu Vũ

NIỀM VUI CÔ ĐƠN

 

                                                                                                                                                             

 Tôi đã trở lại Mỹ vừa tròn một tháng, sau chuyến về thăm quê hương dài ngày. Cưỡi mây lướt gió, tổng cộng hơn 20 tiếng đồng hồ, suốt chặng đường dài nửa vòng trái đất, chỉ một lần chuyển máy bay ở Đài-Bắc, Đài-Loan. Với tuổi đời khá cao, giờ giấc khác biệt, nên tôi cần một  thời gian điều chỉnh để sống lại đời bình thường. Quê hương tuy xa rồi nhưng vẫn còn đó. Những ghi nhận, những suy tư, cảm xúc; những tao ngộ khó quên; những ước mong đã thành hiện thực; vẫn còn đây, còn trong trí tưởng, chưa phai mờ. Lòng tôi chất đầy luyến lưu thương nhớ khi rời xa và hòa quyện với những niềm vui khó tả. Đôi lúc tôi tự trách: đã một tháng trôi qua mà đầu óc còn mơ mơ màng màng, mgười bồng bềnh như đi trên mây, ngẩn ngơ ngơ ngẩn; đáng tiếc nhất là chưa ghi lại một dòng chữ nào, chưa đem tâm tình trải dài trên trang giấy. Không phải tôi không đủ khả năng, hoặc không biết cách diễn đạt thành văn. Thực ra vì đầu óc không tập trung, suy tư rối loạn, nên tôi không biết khởi đầu từ đâu; người cứ bần thần như bị ốm, bị bệnh gì đó, tôi không biết…Có những người bạn, người thân lâu không gặp, điện thoại thăm hỏi. Tôi chỉ đáp lại là chưa tỉnh táo, người cứ như trong cơn mê, hình như bị ốm, bị bệnh và hẹn một ngày gặp mặt, có nhiều chuyện để kể cho nhau nghe…

Chẳng lẽ để thời gian cứ vô tình trôi đi, cuốn theo, tất cả rồi chìm vào quên lãng hay sao? Đầu óc suy nghĩ mung lung, tôi như lạc vào chốn vô minh. Nhưng thực bất ngờ và thực lạ, không biết do đâu, có gì tác động đến não bộ mệt mỏi, khiến tôi nghĩ đến một vì sao tỏa sáng trên bầu trời Thơ Ca Việt-Nam vào nửa đầu thế kỷ 20, Nguyễn-Bính, nhà thơ của”đồng nội”. Những vần thơ của Ông thực bình dị, dễ hiểu nhưng chuyên chở cảm xúc, rung động thấm sâu lòng người. Từ “Cô Hàng Xóm”, “Chân Quê”, “Lỡ Bước Sang Ngang”, “Tương Tư” v.v., lời thơ không phải là những nhát búa chém đinh chặt sắt, cũng không là gào thét của phẫn nộ cuồng phong, bão tố, cũng không là thảm thiết bi thương của tim gan rỉ máu. Nó nhẹ nhàng, tình tự, lâng lâng; tim không nức nở thổn thức mà trí lại mơ màng thương nhớ mênh mang. Qua những vần thơ êm dịu, mượt mà, Nguyễn-Bính quả là người kể chuyện tình xuất sắc, duyên dáng, hấp dẫn. Đôi khi, dòng thơ Nguyễn Bính như mặt nước yên bình nhưng ẩn dấu những con sóng ngầm cuồn cuộn. Có thể nào vì yêu thơ Nguyễn-Bính, bồi hồi mê say khi nghe diễn ngâm thơ của Ông, qua những giọng ngâm truyền cảm tuyệt vời, nên tôi mơ mơ màng màng, bồng bềnh trên mây, như một người bệnh, người ốm….chăng? Tôi nghe ở đâu đó, có người bảo rằng Nguyễn-Bính là Nhà Thơ bị Giời đầy. Lạ nhỉ! Tôi nghĩ, biết bao người mong “bị” Giời đầy như thế. Thưa Ông Nguyễn-Bính, Ông thực hạnh phúc quá! Ước gì tôi cũng có một cô hàng xóm mang tơ vàng hong trước hiên; ước gì tôi cũng có người yêu với nét đẹp hương đồng gió nội; tôi ước …nhiều lắm, nhưng chỉ được một điều: bạn đời của tôi là người con gái xứ Đoài, nơi có thành Sơn-Tây, có con sông Đáy, có núi Ba-Vì. Và một thời, xa xưa lắm, vì không biết làm …thơ, nên mỗi khi nhớ đến nàng, tôi thường mượn câu thơ của Ông và ngân nga  “ Thôn Đoài ngồi nhớ Thôn Đông”...

Hôm qua, một người bạn cùng tù, hiện định cư ở San José, tiểu bang California. điện thoại; sau những lời thăm hỏi, anh “nghi” rằng tôi có khả năng mắc bịnh tương tư! Ối giời! Bạn tôi đi xa quá! Chỉ nghe tôi kể lại một chút tâm trạng mà anh bảo tôi mắc bịnh gì đó, nghe thực xấu hổ. Tôi không tin. Anh chưa bắt mạch, chưa khám lâm sàng, làm sao anh biết. Anh bảo rằng, dựa trên kết quả cận lâm sàng ( para-clinic ), có thể đoán biết. Tôi dốt về y học, không hiểu đúng hay sai. Hình như, tất cả sự việc bắt đầu từ hỗn danh “Sư 5”của tôi, cộng thêm tấm hình vãn cảnh chùa ở quê nhà, gửi cho anh qua điện thoại. Phải công nhận trí tưởng tượng của anh bạn quá phong phú, anh lại luôn ân cần, quan tâm lo lắng cho sức khỏe của tôi, người bạn già, từng chung tủi nhục trong các trại tù ở vùng thượng du Bắc-Việt. Do vậy, qua tấm hình vãn cảnh chùa, anh bảo rằng tôi đi tìm ai đó. Sợi dây kéo chuông ngày xưa không thấy đâu; trên tường chỉ có một núm hình tròn bằng nhựa mầu nâu, bên cạnh bốn chữ S.S.V.P.(chữ Pháp viết tắt, tiếng Việt có nghĩa : Vui lòng bấm chuông). Anh đoán rằng tôi đưa tay lên bấm vào nút trên tường, bị điện giật, té xuống ghế đá trước cổng chùa, cây ba- toong văng sang bên. Anh còn phụ đề : “Truyện xưa có anh chàng Điệp Vũ… Ngày nay cũng có chàng Triệu Vũ....” Chưa hết, anh còn đi xa hơn, bảo rằng: Vì là “Sư 5”, có thể tôi bị một cô “yếm thắm” nào đó bỏ bùa, bây giờ Sư về, ốm lăn ốm lóc …Thiệt tình, không ngờ bạn tôi suy diễn lung tung, vô tư, bao la. Tôi nghĩ không chừng mai kia, anh có thể trở thành nhà văn, nhà thơ lớn, bên cạnh công việc của người thầy thuốc mát tay. Không biết tôi có làm điều gì buồn lòng anh bạn chăng, hay là bây giờ, anh đang “nổi tiếng” ở thung lũng hoa vàng, nên nói năng không cần giữ ý? Với riêng tôi, tự nghĩ: Đừng bận tâm, ai nói gì thì nói, miễn là mình....có thì thôi.

 Thành phố Houston, tiểu bang Texas, nơi tôi định cư đã 35 năm, trong nhóm “Cà Phê Thứ Bẩy” của chúng tôi, có vợ chồng anh bạn trẻ. Cả hai, thơ văn đầy mình; được tin tôi đã trở lại Mỹ, điện thoại hỏi: Anh đi tìm Nàng Thơ, đã gặp chưa, có bài thơ nào mang về “trình làng” không? Đã biết tôi thích thơ, yêu thơ nhưng không phải là một nhà thơ và dĩ nhiên tôi không biết làm …thơ! Vậy mà vẫn hỏi. Vợ chồng anh bạn muốn làm khó tôi hay sao đây? Xấu hổ quá. Tôi còn nhớ, mùa Thu năm 2023, không biết do nguồn cảm hứng từ đâu, có lẽ do đầu óc muốn tìm tòi, khám phá, hoặc là do Trời chiều lòng người yêu và say mê thơ văn, tôi viết bài “ Đi Tìm Nàng Thơ”, trong đó, tôi giới thiệu bài thơ đầu tiên trong đời, sáng tác khi mới 84 tuổi với tựa đề “Em Còn Đó Không”. Tôi không đưa người bạn đời đọc bài thơ này. Nhưng ít lâu sau bài thơ được chắp cánh bay xa, qua kỹ thuật âm thanh của Đặng-Hiền, một thi sĩ kiêm nhạc sĩ ở tiểu bang California. Không ngờ bài thơ ấy, sau khi được phổ nhạc và lan tỏa, tuy được nhiều người ưa thích, nhưng đã ảnh hưởng, phần nào xáo trộn sinh hoạt, đời sống của riêng gia đình tôi. Hình như qua ánh mắt, trong giọng nói, tiếng cười của người bạn đời, có chút gì đó, nghi ngờ rằng bên kia bờ Thái-Bình-Dương, người em nào đó của tôi có còn đó không ? Thực khó giải thích. Chỉ là Thơ thôi mà, bay bổng một chút cũng khó khăn. Và từ đó, để giữ hòa khí trong gia đình, tôi không nhắc đến sáng tác thơ, giả vờ như chưa từng làm… thơ. Cũng bởi thế, đã từ lâu, tôi chưa có thêm bài thơ mới nào, để góp mặt với đời .

Nhưng, nhớ lại, vào một sáng Đầu Xuân Giáp-Thìn (2024), trong không gian ấm áp, chan hòa yêu thương nơi phòng khách của căn nhà nhỏ, người bạn đời đặt ly cà phê trên bàn, trước mặt tôi rồi nhẹ nhàng, âu yếm hỏi :

-“ Anh chưa làm …bài thơ nào nữa sao ? Hay là Anh giận em vì không khen thơ anh hay . Mới khởi đầu mà ! Cố lên ! Anh làm …thơ nữa đi ! Em chờ thơ của Anh” .

Tôi lúng túng, cầm ly cà phê còn bốc khói, uống ngay, cho bớt ngượng. Tôi không dám nói thực. Thay vì trả lời rằng thơ đã… làm rồi, nhưng muốn hay hơn, hoàn chỉnh hơn nên tạm thời giữ lại để nghiên cứu thêm; tôi lại vô tư trả lời một cách vô duyên :

-“OK, cám ơn em!”

 Bài thơ ấy, bài thơ giữ lại, chưa đưa nàng “duyệt”, chỉ với cái tựa “Em Còn Đó Không”, tôi e rằng người bạn đời, đã hốt hoảng, trau mày thắc mắc. Rồi qua 32 câu thơ tiếp theo, không biết còn bao nhiêu câu hỏi nêu lên. Tôi không muốn đưa trí tưởng đi xa quá …Nhưng chẳng lẽ để nàng chờ đợi mãi, tài làm …thơ của tôi sao. Do vậy, cố nặn óc, tập trung cao độ, tôi làm… được mấy câu có vần, có điệu, không dám gọi là “thơ”. Tôi nghĩ miễn là mình … có làm …là quý rồi . Xin đừng, nếu ai đó nghĩ rằng đây là một bài thơ. Chẳng qua vì trong lúc cấp bách, không biết chống đỡ ra sao, lại “sợ” rằng người bạn đời chê tôi là “đần”, là “kém” nên cố tuôn ra ít dòng như sau :

 

Em vẫn đợi hoài, mà  chẳng thấy…

Thơ của anh . Chắc khó lắm sao ?

Người ta bảo : làm….thơ dễ lắm !

Anh làm…đi ! Hãy cố lên nào .

**

-Tin nơi anh! Em yên lòng chờ đợi .

-Mau lên Anh ! Cho em được ….đọc thơ .

Xấu hổ quá!  Anh trách mình lỗi hẹn .

Để em yêu phải trông ngóng, đợi chờ .

**

Bỗng hôm nay, tình  Xuân ban ý lạ :

Anh đã làm …thơ,  thương  gửi về Em .

Đọc thơ Anh, Em rưng rưng ngấn lệ .

Anh làm…thơ, nghe thổn thức, con  tim!

**

Nữa đi Anh ! Anh nhớ làm …thơ tiếp .

Làm … bấy nhiêu, chưa đủ ! Anh yêu ơi !

Thời gian cứ trôi, nhưng em …vẫn đợi

Anh sẽ dìu Em,  đến …chốn tuyệt vời ..

 

Những dòng chữ còn chưa ráo mực, tôi đưa ngay cho người bạn đời; vì vui mừng và vội vàng, tôi quên cả đặt tựa đề. Người bạn đời đọc xong 16 dòng “chữ”vừa tuôn ra, thay đổi hẳn, nàng không nói nhiều, chỉ vỏn vẹn 3 tiếng: được lắm anh! Hú hồn. Tôi mừng thầm trong bụng. Tôi như đọc được suy nghĩ trong đầu của nàng, hiểu được ý nàng muốn  khuyến khích, cổ vũ tôi, rằng: Cứ thế mà làm! Nàng tươi vui, không nghi ngờ trách móc. Khi nhìn tôi, vẫn ánh mắt “dìu dịu” buồn Tây Phương của người con gái Xứ Đoài. Điều ngạc nhiên và thú vị hơn nữa là nàng đồng ý để tôi “hộ tống” về thăm quê hương vào dịp nghỉ lễ cuối năm. Dù chỉ là “hộ ăn theo” nhưng tôi đã rất vui và mãn nguyện, trong suốt cuộc hành trình dài ngày, từ khi chuẩn bị khởi hành đến lúc trở lại Mỹ .

Chuyến thăm quê nhà vừa qua, tôi tung tăng đó đây; khi thì ghé những quán cà phê sang trọng, ngang lưng trời, trong các tòa nhà cao tầng, như đang trên thảm mây; có lúc ngồi trên những chiếc ghế thấp bên vỉa hè; vừa uống cà phê vừa ngắm nhìn cảnh vật, dòng người, xe cộ qua lại, ngược xuôi. Tôi cũng đến thắp nhang tại Đền Thờ Quốc-Tổ Hùng-Vương, Đền Thờ Đức-Thánh Trần-Hưng-Đạo và chùa Ngọc-Hoàng ( nơi một Tổng-Thống Mỹ đã ghé thăm ) v.v nhưng không dám nhìn lại những nơi, trước đây giam cầm Sĩ-Quan Quân-Đội Việt-Nam Cộng-Hòa như chúng tôi, sau ngày 30-4-1975…. Chuyện xưa, lâu rồi, nay tôi không muốn gợi nhớ những kỷ niệm buồn; nhiều khi tôi quên mất là, thời gian bị giam cầm trong cái gọi là trại tù cải tạo, tôi đã để lại một phần thân thể ở “Dưới Chân Tam-Đảo”, thuộc tỉnh Vĩnh-Phúc, miền Bắc Việt-Nam. Với tuổi đời hiện tại, 86 tuổi, thể lực, trí lực lão hóa, tôi không còn đủ sức chịu đựng những oán hờn, uất nghẹn, hận thù dày vò xé nát, cấu cào, gậm nhấm tâm can… Thế nên tôi tìm lối thoát, tự an ủi, reo lên mừng rỡ: Tôi đã tiêu hết, xài hết cái buồn rồi, giờ chỉ còn vui thôi! Bằng hữu, người thân thực ngạc nhiên khi thấy tôi …trở thành một con người mới. Ngay cả những lúc thập tử nhất sinh, trên đường nhập viện để chữa trị căn bệnh quái ác -không có phương cách nào khác ngoài xạ trị và hóa trị-; tất cả cảm xúc, từng giai đoạn chữa trị, tôi ghi lại trong bài “ Trở Về Từ Tầng…14”. Ai cũng bảo đi chữa bệnh mà như đi du lịch!  Cũng trong bài “Trở Về ….” này, tôi xác quyết là cuộc chiến tranh xảy ra trên đất nước Việt-Nam mến yêu của tôi suốt 30 năm (1945-1975)  là cuộc chiến tranh của “Phước Đức”. Tôi cho rằng chỉ tôi mới biết tôi là ai, tôi nghĩ gì, cảm nhận gì? Hình như chỉ mình tôi hiểu, chỉ mình tôi vui. Phải chăng đây là niềm vui cô đơn?

Bên cạnh những chuyến tung tăng đó đây, tôi còn ghé thăm một số bạn cùng trang lứa, cùng đơn vị thuở xa xưa. Có vài bạn cư ngụ vùng ngọai ô Saigon, tôi điện thoại trước khi ghé thăm. Đầu dây bên kia : Dạ, Anh L, nhà em, mất năm ngoái, sắp tới ngày giỗ đầu … Cuộc gọi thứ hai, đầu dây bên kia: Dạ, Anh Th. ra đi hơn một năm rồi. Lòng tôi chùng xuống. Dòng người và xe cộ ngoài đường vẫn xuôi ngược chóng mặt, vô tình . Tôi đã ghé nhà của hai chú lính lái xe và cần vụ, luôn sát bên tôi khi xưa. Nhà N-V-Quang, dốc cầu Trương-Minh-Giảng (L-V-Sỹ); nhà N-N-Quỳnh, bên hông giáo đường Gò-Vấp. Hai chú lính ngoan, hiền, tốt bụng, tận tụy, chu đáo ngày nào, nay ẩn mình sau tấm ảnh chụp nghiêm chỉnh, lồng trong khung kính, để trên bàn thờ. Thời gian thật khắc nghiệt, đã nhẫn tâm cuốn đi mọi thứ. Tôi ngẩn ngơ, bâng khuâng, tiếc rằng mình không về thăm quê hương sớm hơn có thể. Bao nhiêu kỷ niệm thưở nào lại ùa về. Nhưng luật Tạo Hoá, có gì tồn tại mãi đâu. Bao người quen biết đã ra đi, đi thật xa, tôi còn ở lại. Hay là ý Trời muốn tôi là một chứng nhân. Tôi không nghĩ xa xôi quá. Chỉ tin là Nhờ Ơn Trời Phật, Tổ Tiên, những Đấng Linh Thiêng phù trợ, nên tôi, đã bao lần thóat khỏi Lưỡi Hái Tử Thần; nay còn được thở, tức là được sống, lại còn được bay bổng, đi mây về gió. Thế là hạnh phúc lắm rồi!

Có nhiều lúc tôi lẩn thẩn, suy nghĩ linh tinh về nhận xét của anh bạn ở bên San Jose, CA rằng tôi có thể bị bịnh… gì đó. Không ! Tôi tự thấy không ốm, không bịnh gì cả . Sở dĩ đầu  óc tôi mơ màng, bần thần, không tỉnh táo, chỉ vì sau cuộc hành trình dài, ngồi trên máy bay khá lâu, không thoải mái, ngủ không đủ, nay chỉ cần thời gian ngắn nghỉ ngơi, sẽ bình thường. Cũng có khi một mình suy tư và tự hỏi, có thể nào tôi trở thành một nhà thơ không nhỉ? Chắc không đâu, không thể nào. Tôi vẫn biết : không phải thích thơ, yêu thơ, mê thơ là trở thành một nhà thơ! Tôi không phải và chắc chắn không phải là một nhà thơ. Ông Nguyễn-Bính nhớ người tình da diết, nhớ đêm nhớ ngày; là nhà thơ nên ông gửi tâm tư nhớ nhung ấy vào những vần thơ tình tứ, nhẹ nhàng, âu yếm, cho vơi niềm nhớ thương. Thưở ấy, vào thời đại của Ông Nguyễn-Bính,  người tình chia xa, muốn  nhìn thấy nhau, gặp gỡ nhau, nhận được tin nhau thực vất vả khó khăn nên than van, rên rỉ, nguyện cầu. Nhớ người yêu quá, không có ai để tâm sự, nhà thơ “nuốt” nhớ thương vào lòng nên phát bệnh, phát ốm …tương tư. Người tình dù cùng thôn, cùng làng mà sao xa xôi quá. Ngay cô hàng xóm kế bên, chỉ một dậu mồng tơi yếu ớt phân ranh, mà nhà thơ cảm thấy, đó là bức tường kiên cố cách ngăn. Lâu lắm rồi, tôi có nghe câu: “ đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì ...”. Nghệ sĩ nhìn chung, nhà thơ nói riêng hình như yếu lòng, ngại khó; lá gan để một nơi nào rồi, cứ trông chờ phương tiện liên lạc duy nhất là “con bướm trắng” bay qua, bay về. Rất may, ngày nay văn minh hiện đại, khoa học tiến bộ, với những bước tiến nhảy vọt, truyền tin kỹ thuật số, thời đại năm chấm (5.) rồi sáu chấm (6.); dù xa xôi vạn dặm, rất nhanh và rất gần, không tới một giây đồng hồ, chỉ một “nốt nhạc”, chỉ một “sát na” lướt trên điện thoại là có đầy đủ : tin nhắn đi, về; chân dung người tình, giọng nói tiếng cười, ánh mắt người yêu hiện trên màn ảnh; bởi thế, căn bệnh mà người đời gọi là  tương tư, ngày nay, hình như chiếm tỷ lệ rất thấp và không có nguy cơ lan rộng …

Rồi cuộc sống hàng ngày cũng đưa tôi về thực tại; những trải nghiệm trong hành trình thăm quê hương từ từ đi vào vùng kỷ niệm. Tôi lại tiếp tục lái xe trên xa lộ, tiếp tục làm tài xế trung kiên cùng phụ việc trong nhà với người bạn đời, và đặc biệt vẫn tiếp tục đến điểm hẹn, gặp gỡ bằng hữu thân quen, trao đổi tâm tình văn nghệ . Trong những buổi gặp mặt cuối tuần, có nhiều người nói với tôi rằng, bây giờ cái gọi là trí thông minh nhân tạo (A.I) giúp ích rất nhiều cho con người. Một bạn nhà báo trẻ khoe với tôi : Bài em gửi đăng báo là do A.I làm, em có phải viết chữ nào đâu. Hay quá! Tôi nghĩ đây là cơ hội bằng vàng.Tôi sẽ nhờ A.I làm giúp bài thơ, với nội dung trả lời bài thơ “Em Còn Đó Không” mà tôi sáng tác trước đây. Quả nhiên A.I đáp ứng ngay, chỉ ít phút sau lời yêu cầu của tôi, A.I viết một bài thơ 20 câu, tựa đề “Em Vẫn Còn Đây”. Xin các nhà thơ thẩm định; riêng tôi vì không phải là nhà thơ, không quen biết A.I, nên không dám góp ý. Nguyên văn bài thơ như sau :

                  

EM   VẪN   CÒN   ĐÂY

 

Tin em chết, Anh kịp về vuốt mắt.

“Em vẫn còn đây”, nhưng xác không hồn .

Tiếp sinh khí, Anh nghiêng xuống môi, hôn .

Và nguyện cầu Em trở về dương thế .

**

Chiếc quan tài sao dài và rộng quá !

Em tôi bồng bềnh, sóng nước đại dương.

Trôi về đâu, trôi mãi mãi, chẳng ngừng .

Bến bờ nào ? Neo buông, vào bến đậu .

**

Phật, Chúa ơi ! Xin dang tay cứu độ .

Xin đừng đưa Em về cõi Vĩnh Hằng .

Cánh cửa Thiên Đường, vui lòng khép kín !

Để Em tôi trở lại chốn trần gian .

**

Trời cao quá và biển bao la quá !

Lời cầu xin, vang vọng chín tầng mây .

Đấng Linh Thiêng đã động lòng trắc ẩn .

Đưa Em về, nên “ Em vẫn còn đây ! ”

**

Kỳ diệu thay ! Đôi mắt Em hé mở,

Âu yếm nhìn  Anh . Môi điểm nụ cười .

Không, vạn lần không ! Không là ảo mộng.

Đó là Trời, Phật, Chúa,.. thương Anh thôi !

                         

Có A.I chống lưng, có bài thơ A.I sáng tác làm bằng chứng cụ thể, vậy mà tôi vẫn không muốn đưa người bạn đời đọc bài thơ trên. Tôi nhớ mãi, cổ nhân đã có câu nhắc nhở rằng “ Ớt nào là ớt chẳng cay, ...” Cho nên, vì sự yên vui hòa thuận của riêng gia đình tôi, một lần nữa tôi quyết định giữ lại bài thơ, không lan tỏa, cho dù ai chê ai cười …Tôi rất vui vì A.I tặng cho bài thơ tuyệt vời nhưng lại không biết chia xẻ niềm vui ấy với ai, có thể nói hầu như không có ai để chia xẻ nên cứ giữ kín trong lòng. Không biết đây có phải là Niềm Vui Cô Đơn hay chăng ? Nếu ai hỏi rằng sao lòng hớn hở, tâm hồn phơi phới, lại thấy niềm vui ấy cô đơn? Xin cho tôi giải thích một cách đơn giản và dễ hiểu : điều mà chỉ mình ta thấy vui, người ngoài  không cảm, không thấy, không hiểu được; vả lại, đâu đó, niềm vui không vỡ òa, mà trở thành niềm riêng giữ kín (không phải chôn kín) trong lòng, không biết tỏ cùng ai; như thế , theo tôi suy nghĩ một cách chủ quan, có thể gọi là “Niềm Vui Cô Đơn” vậy .

 

TRIỆU VŨ

(Houston, TX. March - 2025)

                                   

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
13 Tháng Mười Hai 20255:37 CH(Xem: 8862)
Thơ haiku của nhà thơ Nhật bản Miura Chora (1729–1780) trong sáng và giản dị, nhưng lại giàu chất thơ tao nhã. Miura Chora đã góp phần lãnh đạo phong trào phục hưng Matsuo Bashō vào thế kỷ 18. Những bài thơ dưới đây do Bạt Xứ dịch hầu hết là từ bản tiếng Anh của William Scott Wilson. ( Bạt Xứ )
13 Tháng Mười Hai 20254:25 CH(Xem: 7087)
Được tin nghệ sĩ Thương Tín mất, xin được thắp nén nhang tưởng nhớ anh bằng kỷ niệm sâu sắc này, trong lần duy nhất được cộng tác với anh trong bộ phim “Thì thầm cao nguyên”: ...Thế là, tôi đã có dịp lang thang mấy tuần liền ở những vùng sâu vùng xa gian khổ nhất của tỉnh Bình Phước để lấy cảm xúc và thu thập tư liệu viết kịch bản phim... Ở xứ sở cao su bạt ngàn, một số cán bộ huyện - xã đã trở thành những “lãnh chúa” mới, chiếm dụng những diện tích đất lớn cho bản thân, còn không ít người công nhân cao-su đang dần trở lại thân phận chẳng kém thời mộ phu thực dân… Tại những vùng của người dân tộc S’ tiêng nơi cực Nam dãy Trường Sơn này, cuộc sống của đồng bào vô cùng gian khổ…
13 Tháng Mười Hai 20254:12 CH(Xem: 9489)
bây giờ rụng tóc nhăn da / tới lui cũng chỉ có ta với người / có ta với một bầu trời / vẫn chung thủy giũa cõi đời đảo điên / anh về thành phố gọi tên / một vùng ký ức thôi miên anh về.
13 Tháng Mười Hai 20253:41 CH(Xem: 5388)
Từ tháng 5/2023 đến cuối năm 2025, kênh đào Funan Techo – dự án biểu tượng dân tộc Khmer do hai cha con Hun Sen và Hun Manet quyết liệt thúc đẩy – đã chính thức bước vào giai đoạn thi công thực địa, với sự tái khẳng định tài trợ 1,7 tỷ USD từ Trung Quốc. Dài 180 km, lấy nước trực tiếp từ cả hai phân lưu chính của sông Mekong (đầu nguồn sông Tiền và sông Hậu), con kênh không chỉ khó đạt được mục tiêu rút ngắn lộ trình và giảm chi phí vận tải như Cam Bốt tuyên truyền, mà còn có nguy cơ: (1) làm suy giảm nghiêm trọng lưu lượng nước mùa khô về hạ lưu, (2) chặn đứng phù sa, (3) đẩy nhanh xâm nhập mặn sâu thêm hàng chục kilômét, (4) đe dọa trực tiếp sinh kế của hơn 20 triệu cư dân Đồng bằng sông Cửu Long.
11 Tháng Mười Hai 20254:55 SA(Xem: 5485)
Trong phiên bản Dream Pop này, bài thơ Mỹ Hương được khoác lên một lớp không khí mờ ảo và chậm rãi, như bước chân ai đó đi giữa màn sương lạnh của San Francisco. Giọng nam trầm thì thầm, hoà vào reverb dày và những lớp ambient pads lơ lửng, tạo cảm giác như một ký ức đang tan ra trong ánh đèn vàng trên cầu Golden Gate.
10 Tháng Mười Hai 20257:12 CH(Xem: 8865)
Mùa thu sao lại buồn như cỏ / Trong gió hiu hắt buổi chợ chiều / Tôi trở về đây sau cơn lũ / Nghe hồn còn ngập nỗi cô liêu.
08 Tháng Mười Hai 20258:55 CH(Xem: 5994)
Câu chuyện phim giản dị diễn ra ở một khu chung cư cũ ở Sài Gòn vào thập niên 1980. Hai nhân vật chính: 1. Kỳ Nam, nguyên nữ sinh trường Tây và là vợ góa của một sĩ quan tâm lý chiến quân đội VNCH, từng nổi tiếng trên báo chí và truyền hình về tài dạy nữ công gia chánh. Sau 1975, trong căn bếp nhỏ tại Chung cư, Kỳ Nam sinh sống bằng việc nấu cơm tháng và có lúc nấu cả cỗ cưới; 2. Khang - người thuê nhà mới, một chàng trai đang nhận dịch lại tác phẩm “Hoàng tử bé” của nhà văn phi công Pháp Saint–Exupéry, sau bản dịch của thi sĩ Bùi Giáng đã xuất bản tại Sài Gòn trước 1975… Giữa những bề bộn đời sống, vượt lên tâm lý thóc mách, đố kỵ, ghen ăn tức ở của hàng xóm, Kỳ Nam và Khang đã đến với nhau trong sự đồng cảm thầm lặng mà sâu sắc – một thứ tình cảm cao hơn tình yêu trai gái thông thường…
08 Tháng Mười Hai 20258:05 CH(Xem: 7914)
Dã quỳ vàng giữa heo may / Thầm thì nắng sớm hong ngày yêu thương / Đồi cao gió quyện mờ sương / Hoa nghiêng lối nhỏ, vấn vương gót hài
08 Tháng Mười Hai 20257:59 CH(Xem: 6151)
Hồi còn nhỏ tôi thích nhất là được đi chùa với bà Nội. Lớn lên tí nữa tôi cũng thích đi chùa. Và sau này tôi không còn trẻ nữa tôi vẫn thích đi chùa nhưng thường tự đi chỉ một mình. Nơi tôi đến đó là chùa Long Khánh Qui Nhơn, nhưng chẳng phải đến để tu tập đâu mà đến chỉ để tìm khoảng không gian yên tĩnh chỉ có ở cảnh chùa.
08 Tháng Mười Hai 20256:59 CH(Xem: 6458)
Năm 2025 đánh dấu một bước ngoặt đặc biệt trong hành trình của Ocean Vuong (*). Nhà văn, nhà thơ gốc Việt nầy đã trở thành một trong những khuôn mặt quan trọng nhất của văn chương Mỹ đương đại. Không còn là “hiện tượng thơ”, không còn được biết đến qua nỗi đau di dân, không còn đứng trong hào quang của Night Sky with Exit Wounds hay thành công bất ngờ của On Earth We’re Briefly Gorgeous trước đây, Ocean Vuong năm 2025 là một nhà văn đang mở ra biên giới mới của chính mình với The Emperor of Gladness (397 trang; 25 chương đánh số từ 1 đến 25; Nhà Xuất bản Penguin Press, New York, 2025) . Tác phẩm mới nầy nhanh chóng được các danh sách uy tín của Amazon xếp vào một trong những cuốn sách được mong chờ nhất trong năm 2025(**) và xác nhận Ocean Vuong đã chuyển từ “ngôi sao mới của thơ ca” thành “một trong những giọng văn triển vọng của thế kỷ XXI”.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9441)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16245)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15256)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15606)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1541)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1717)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1826)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2172)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4288)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6091)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 5459)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 6053)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1524)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1779)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 1989)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1872)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1675)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1498)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1669)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1683)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12426)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28670)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35208)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 35077)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9952)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12053)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1200)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 1717)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 2172)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 2319)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2682)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7084)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6504)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8485)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.