- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Người Chết Hai Lần?

09 Tháng Sáu 200912:00 SA(Xem: 121861)

LTS: Là cơ quan ngôn luận triệt để tôn trọng và cổ súy tự do tư tưởng, ngôn luận, và đệ tứ quyền, Hợp Lưu nhiều lần minh định vị trí diễn đàn tự do, dân chủ của mình. Hợp Lưu chủ trương giành đất cho mọi khuynh hướng đối nghịch nhau, miễn hồ không công kích cá nhân chỉ với mục đích đả kích.

Bài viết về Trịnh Công Sơn dưới đây xứng đáng được phổ biến rộng rãi. Chúng tôi sẵn sàng đăng tải những ý kiến bạn đọc, với điều kiện duy nhất là trong tinh thần tương kính và làm sáng tỏ hơn vấn đề.

Socratus từng nói: “Điều tội lỗi nhất là cứ tưởng mình biết điều mình thực sự chẳng biết gì cả.”

San bằng được khoảng cách giữa thành kiến [perceptions] và sự thực lịch sử là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển tinh thần quốc gia và tình người.

Tạp Chí Hợp Lưu

 

Kể từ năm 1975, hàng năm cứ đến mùa giỗ Đệ Nhị VNCH dịp tháng Tư là những kẻ thua cay lại lôi Trịnh công Sơn ra làm quả banh da của võ sinh quyền Anh đấm cho đỡ ngứa tay ngứa miệng.


Hiện tượng đó kể cũng khó chịu nhưng xét cho cùng kể cũng là một điều đáng tự hào cho những ai cảm mến họ Trịnh.


Thật vậy, trong khi tại các xứ tạm dung hải ngoại những xác chết chưa chôn dồn đống trở mùi ra của đào binh bại tướng chính khách, lãnh tụ, nghị sĩ, dân biểu... quốc gia CCCB, CCCĐ 4 không, 5 không... lền khên hà rần... chẳng ai thèm nhắc tên sao không nhắc mà lại đi nhớ một anh hom hem chẳng có phẩm hàm gì như Trịnh công Sơn?


Một số quan ôn cấp tướng, cấp tá vẫn tiếp tục tính thâm niên từ ngày lọt được ra ngoại quốc để tự động lên cấp và đòi đàn em phải rửa lon mới và gọi mình bằng cấp bậc mới thường hò hét rần trời trong những buổi họp cộng kẽm cộng chì cộng rau muống, chưa đã mồm lại còn tung hê cả tên nhóc đề đốc ma, tên khùng phi công dổm chuyên cướp tàu bay giấy hay tên ăn rồi đi tìm đảo để lập chính phủ hay thủ tướng ma để móc túi kẻ nhẹ dạ... kể không hết tên sao không nhắc mà lại nhắc tên một anh nhất quyết trốn lính không nhúng tay chém giết như Trịnh công Sơn?!...


Một số khác vẫn vỗ ngực tự hào là lãnh tụ đảng điếc, là chiến lược gia chiến lược thịt, những nhà ý thức hệ, nhà lý thuyết, nhà chính trị kiêm nhà kho nhà tiêu... sau một thời gian ngậm miệng nhận trợ cấp hay làm thợ đi bán chạp phô... bây giờ thấy thiên hạ bắt đầu bớt oán giận lại nhấp nhem ló mặt ra tranh tiếng với Nguyễn hữu Chánh, Lý Tống và Đào minh Quân, Trần trung Quân! nên trương gân cổ tố cáo những kẻ bị coi như ký sinh trùng, chủ hòa phản chiến làm lợi cho địch, nằm vùng, ăn cơm quốc gia thờ mà cộng sản... như Đặng văn Sung, Võ Phiến, Sơn Điền Nguyễn viết Khánh, Nguyễn tiến Hưng, Nguyễn văn Chức, Nguyễn bá Long, Dương ngọc Dũng, Lâm Lễ Trinh, Lữ Giang Nguyễn Cần, Nguyễn văn Canh, Nguyễn hữu Thống, Vũ quốc Thúc, Trần đình Phục, Trần văn Tích, Nguyễn văn Lục, Lê hữu Mục, Liên Thành, Nhử văn Úy, Hoàng đức Nhã... Chưa kể đám liên danh ‘thao tháng’... ngày xưa còn Mỹ bảo hộ cho nên nhất quyết thà mất nước không thà mất... Đấng Tối Cao. Đến khi mất nước nhà tan, đấng tối cao cũng e thẹn ẩn mình, lêu bêu thật rồi thì mấy vị trong đám ‘thao tháng’ đó như Nguyễn gia Kiểng, Nguyễn gia Hiến, Nguyễn lý Tưởng, Bùi văn Giải... thay vì bắt đền Nixon, Kissinger hay Mao Trạch Đông, Chu An Lai... đành tâm đem sinh mạng của VNCH đổi lấy tù binh và ngưng bắn cho Mỹ an toàn tháo chạy lại khăng khăng đòi tổ quốc phải ăn năn vì mấy ông trong Văn Thân Cần Vương hay Phật tử hết chống Pháp đến chống Mỹ nên quốc gia mất...


Điều đáng nực cười là hào khí hận thù chất ngất của người hùng VietHaiTran với địa chỉ email viethai712 nào đó.


Những tiếng gáy tào lao ba lơn ba trợn hơi khác thường người ta vẫn nghe trong dịp tháng Tư. Ba mươi tháng Tư là cuối tháng nhưng vẫn còn là tháng Tư, mà tháng Tư bên Pháp có tục lệ Cá Tháng Tư, Poisson d’Avril cho phép thiên hạ tha hồ láo vàng trời, láo chết bỏ, láo vô tội vạ... Cái anh chàng VietHaiTran không hiểu có biết Pháp nằm đâu trên bản đồ không mà cũng biết lệ Poisson d’Avril của Pháp và tài ca sáu câu không thua gì hề Tùng Lâm-Thanh Việt ngày xưa khi đích danh hạch tội Trịnh công Sơn nguyên văn là... 

- Một kẻ ích kỷ - Một tên hèn nhát trốn lính - Một tên nằm vùng - Một loại ký sinh trùng - Một kẻ phản bội - Một tên lừa dối - Một tên ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản. Trước lịch sử, Trịnh Công Sơn đã hiện nguyên hình. Không nên bóp méo lịch sử bằng cách choàng lên đầu Trịnh Công Sơn vòng hào quang Quốc Gia không hề có thật; cũng đừng hô biến “Nối Vòng Tay Lớn” trở thành một biểu tượng đoàn kết đấu tranh dân chủ, trong khi bài hát ấy đã được tác giả của nó hát lên để đón mừng cái chế độ phi nhân bóp họng dân chủ! TCS của những ô nhục tội lỗi, mi phải trả lại sự thật cho lịch sử!


Những dòng chữ bôi vàng cà ri là theo hứng của ông tác giả thầy chạy VietHaiTran đó! Xin để yên cho khách quan sòng phẳng. Trả lại sự thật cho lịch sử!? Nghe rùng rợn thật! Nhưng đâu là sự thật lịch sử? Trịnh Cung hay VietHaiTran aka viethai712 hình như là hai đấng muốn trả lời câu hỏi đó... Còn hai vị ấy có chịu đưng được sự thật lịch sử ấy không thì là chuyện khác...


Chẳng ai ngạc nhiên gì khi đọc bài Trịnh Công Sơn & Tham Vọng Chính Trị của Trịnh Cung hay những tiếng gáy tè te te của VietHaiTran aka viethai712 qua bài Vinh Danh Tên TCS Vào Dịp 30-04.


Không có Trịnh công Sơn thì ai biết Trịnh Cung hay VietHaiTran là cha căng chú kiết nào đâu!? Thời Trịnh công Sơn sống có người đã nhờ Trịnh công Sơn mà nổi đình nổi đám. Giờ thì anh linh và tiếng tăm của Trịnh công Sơn cũng làm việc đó. Qúy ông Trịnh Cung, VietHaiTrần phải cám ơn Trịnh công Sơn mới phải?! Quên chuyện đó rồi trách gần trách xa thì kể cũng quá tay thật?


Trịnh Cung anh thợ vẽ già không nên nếp có xôi nói xôi có rượu nói rượu chẳng đáng...! Nhưng còn cái ông tên VietHaiTran aka viethai712?


Xin để Trịnh Cung lại cho những bằng hữu một thời của cặp bài trùng Sơn-Chỉ như gia đình ông bà Tuyết Hoa, ông bà Mỹ Dạ, Bửu Ý, Nguyễn đắc Xuân, Đặng Tiến, Trần Thanh Hải, thế hệ thứ hai như Cao hữu Điền, Thái Hòa... Còn Khánh Hà, Khánh Ly thì xin miễn bàn. Thiếu gì người một thời nổi danh nhờ Trịnh công Sơn nhưng giờ kẹt đang kiếm cơm, kiếm cháo, kiếm thuốt hút nhờ những người như Trịnh Cung hay VietHaiTran nên họ yên lặng. Cũng dễ hiểu thôi!

Một chuyện mới nghe như chuyện thần tiên đó là sáng ngày 30-04-1975, một ông nguyên là ông lớn trong đài Dạ Lan chuyên hát ‘... anh không chết đâu anh...’ hay ‘... cờ bay... cờ bay trên thành phố thân yêu...’


Vì chậm chân ông phải đi tù mấy năm vì cái tội hô hào tất cả mọi người, trừ ông, hy sinh xương máu cho chính nghĩa nhân vị, nhân quyền, tự do kinh tế thị trường... sống sót ra khỏi tù nhờ HO tới nơi tới chốn an toàn tha hồ viết sách viết báo lải nhải như voi nhai bã mía rủ rê bạn ta và một vị thượng tọa cùng ông tố những tên hèn, những tên thân cộng, những tên nằm vùng, những tên ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản y hệt cái ông VietHaiTran aka viethai712 khi muốn tố khổ Trịnh công Sơn như vừa kể trên... Nhưng trong sách của chính ông cái ông chủ đài phát thanh nhà binh đó thì lại kể rằng ngày 30 tháng Tư sau khi nghe Tướng Dương văn Minh đầu hàng ông đã phẫn uất tuyệt vọng vào phòng ngủ chốt kín cửa khóc hu hu khiến cho phu nhân ông nóng ruột phải vào năn nỉ mãi mới nín!


So sánh tiếng khóc của ông quan thủ đài lính này với tiếng hát của Trịnh công Sơn trên đài phát thanh Sàigòn qua bài Nối Vòng Tay Lớn bày tỏ nỗi vui mừng vì chém giết đã ngưng, đất nước không còn chia cắt. So sánh thì ai HÈN hơn ai?!


Ông VietHaiTran aka viethai712 ước muốn trả lại sự thật cho lịch sử thì cũng dễ thôi. Xin ông chịu khó qua Sydney một chuyến hỏi tìm mua cuốn sách có ký tên tác giả đang ế sưng ế sỉa vứt lăn vứt lóc trong xó nhà hay nghe đàn em tà lọt của ông ngày xưa kể chuyện những tiếng khóc não nề sáng ngày 30-04-75 của ông này thì biết thôi!


Mới nghe những lời đay nghiến Trịnh công Sơn thiên hạ có thể tưởng VietHaiTran là kẻ trung trinh không chịu bỏ chạy từng nán lại để đi chôn cất những kẻ tuẫn tiết ngày 30-04-75 như Tướng Lê văn Hưng, Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai, hay Đại Tá Phước, Trung Tá Long... rồi âm thầm phò gia đình thân nhân các vị này để cùng di tản vượt biên?...


Không biết trong ngày 30 tháng Tư cái ông VietHaiTran này và gia đình ở đâu ở VN và ông đến Mỹ bằng cách nào?! Thấy lối viết và nghe cái giọng nhi nhô lấc khấc văn tiếng Việt câu kéo ăn cắp chắp vá không đâu ra đâu, người ta cũng có thể phỏng đoán thời ấy cái ông này dám đang còn được mẹ bồng nách và táy máy nghịch ngực mẹ đòi... bú tí trong lúc thiên hạ bấn xúc xích vì chạy loạn?!


Nếu vậy thì mong ông VietHaiTran chịu khó thưa lại hai cụ xem so sánh hành động của đám tướng tá đào binh, đám bát nháo giỏi tài nói phét để chạy tội vừa kể và nhất là hành động của ông chủ đài nhà binh hay của ông nguyên thủ, khi đối đầu với địch thì cứ một mực em chả! em chả! bàn dài không thèm ngồi bàn tròn lắc đầu nguầy nguậy, cuối cùng chỉ thích nằm ọp trong gầm xe tòa đại sứ Mỹ để ra phi trường bỏ chạy mặc ai sống chết với hành động của Trịnh công Sơn thì Ai HÈN NHÁT, ÍCH KỶ HƠN AI?!


Trịnh công Sơn làm lợi cho bên kia như ông Trịnh Cung và VietHaiTran tố cáo đâu không thấy chứ chắc chắn là bên kia phải cám ơn hai ông Trịnh Cung và VietHaiTran đã giúp những kẻ... đại thắng mùa xuân biện minh cho hành động sang sông phụ sóng của họ từ ngày 30-04-75 đến nay!


Ông Võ văn Kiệt, ông Lê Duẩn đã chuyển nghiệp, ông Trần văn Trà đã về hưu... non. Thôi để các ông ấy yên. Nhưng những người còn sống như đang thừa hưởng thành quả chiến thắng như Trương tấn Sang, Trần bạch Đằng, Đỗ trung Hiếu... có thể vẫn còn nhớ là người ta đã đuổi anh linh của một anh hùng du kích đi chơi chỗ khác để dành tên đường cho một kẻ từng chống quyết định ngưng chiến của Mỹ, từng nằn nì Mỹ phải dùng bom nguyên tử ở Hà nội hay đánh phá đê điều ngoài Bắc, chứ mấy ai còn nhớ những bạn bè năm châu từng hết mình ủng hộ VN... những người đã tự thiêu chống chiến tranh như Nhất Chi Mai, Morrison kẻ đã tự thiêu trước Ngũ Giác Đài ngày 2-11-1965, những người từng kiên trì chống chiến tranh như qúy ông U Thant, Fulbright, McGovern, McCarthy, J.P. Sartre, B. Russell, bà S.de Beauvoir... những người bỏ mình trong các cuộc biểu tình phản chiến bị Johnson và Nixon nổi dóa đàn áp thẳng tay... thì mấy ai nhớ tới, nói gì tên đường, công viên, bia đài kỷ niệm!? Nói gì Trịnh công Sơn kẻ vì niềm đau dân tộc mà viết Gia Tài Của Mẹ, Tình Ca Người Mất Trí...


Tại sao Điện Biên Phủ lại không thể là một địa danh để hủy tráp biểu hàng như thời nhà Trần sau khi thắng Nguyên?


Tại sao Điện Biên Phủ lại không thể là một địa danh hòa giải dân tộc xóa bỏ hận thù xá tội vong nhân cởi trói cho những oan hồn đã chuyển nghiệp không thuận duyên?


Tại sao Điện Biên Phủ lại không thể là một công viên quốc tế để cám ơn bạn bè năm châu và nói lên cái tinh thần đem đại nghĩa thắng hung tàn của người Việt?


Ừa, tại sao không?!


Trịnh công Sơn là bạn thân của Tướng Lưu kim Cương. Ông Cương có đùm bọc cho Sơn trong những ngày Sơn không chịu đi quân dịch thì cũng là chuyện đương nhiên. Nhất là ông Cương không phải là đại điện chính thức của quốc gia VNCH hay cầm chìa khóa của cái tủ vàng gọi là quyền ký giấy hoãn dịch như Tướng Trần quốc Hoàn!


Ai cũng biết Trịnh công Sơn là Phật tử gộc thế mà trong bài requiem Anh Nằm Xuống cho Lưu kim Cương, Sơn đã cầu nguyện cho Lưu kim Cương... ‘Thấy bóng Thiên Đường cuối trời thênh thang...’ Những con chiên cừu đang để cho thiên hạ gõ đầu tẩy não hoán não vượt qua hàng rào tín lý nguyện cầu cho Sơn vãng sanh lạc quốc khi nghe tin Sơn chuyển nghiệp chưa hay chỉ lăm le hàng năm lôi tên Sơn ra chửi như kiểu ông thầy chạy VietHaiTran aka viethai712?! 


Cho nên không thể trách Trịnh công sơn là vong ân bội nghĩa như Hoa quốc Phong trách ông Lê Duẩn nhân chuyện ông Lê Duẩn theo Liên Xô và mở một kỷ lục vô tiền khoáng hậu nôm na mách qué đem mấy chữ Xã Hội Chủ Nghĩa vào quốc huy! Mà Hoa quốc Phong, dù vô duyên nhưng bực là phải! Bởi muốn chơi chữ và tỏ rõ tinh thần tự quyết tự cường đối với Trung Hoa thì mấy chữ Việt Nam Văn Hiến cũng đủ làm cho Hoa quốc Phong hay Đặng tiểu Bình tức ói mật rồi đâu cần phải CHXHCN lôi thôi dài dòng tốn giấy!?


Lần đầu tiên trong lịch sử lập quốc, Trung Hoa thoát cảnh đói rách một phần cũng nhờ Mỹ bỏ cấm vận để đền ơn Trung Hoa đã tiếp tay giúp Mỹ an toàn tháo chạy khỏi VN. Hoa quốc Phong đã cám ơn Mỹ bằng cách nặng lời với VN, Đặng tiểu Bình còn cám ơn Mỹ long trọng hơn bằng bài học 1979. Nhưng một lần nữa lại nhờ tay VN triệt bớt đám tàn binh Tưởng Giới Thạch bỏ lại cho Mao trạch Đông nuôi báo cô trước khi chạy ra Đài Loan!


Ai mắc nợ ai? Ai vong ân bội nghĩa?


Hồi nào tới giờ Trung Hoa nhịn ăn nhịn mặc giúp VN vì muốn dùng VN như lớp độn để bảo vệ cạnh sườn phía Nam hay sợ kẻ thù dùng VN như bàn đạp đánh Trung Hoa.


VN hình như cũng biết như vậy cho nên biết ơn thì biết nhưng VN cứ một mặt đòi Trung Hoa phải cắm mốc biên giới phân minh?! Đó là điều mà Trung Hoa chỉ chịu làm trước áp lực của Pháp và họa bát quốc liên quân trong hòa ước Thiên Tân-2 1885! Mặt khác VN lại cố lơ không làm rùm beng vụ hải đảo. Cú kêu ma ăn, vụ hải đảo mà quốc tế hóa thì ai lợi đây? Phi luật Tân, Singapore, Malaysia, Indonesia?...


Dầu khí? Nghèo mà ham! VN mà có nhiều dầu khí thật thì Mỹ đã không bỏ cuộc! Cho nên cố dựng xác chết Trịnh công Sơn dậy để theo mình chống Trung Hoa bằng mồm nếu không muốn bị tố là Ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản... thì đúng là khùng, ba trợn ba lơn?! 


Mà Ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản... Thật không? Quốc gia nào? Pháp thấy Trung Hoa thừa nhận ngoại giao VNDCCH nên vội vàng tạo ra État du Vietnam và đẩy Bảo Đại ra làm bình phong gỡ huề?


Kẹt cái là năm 1945, Bảo Đại đã chính thức thoái vị, không thể bổn cũ soạn lại làm vua hai lần cho nên Pháp bèn mang hia đội mũ cho Bảo Đại làm Quốc Trưởng, Chef d’État, để làm trùm cái gọi là Quốc Gia Việt Nam, l’État du Vietnam. Trong quốc gia đẻ non vội vàng ấy, công thần của quốc trưởng thì gọi là công chức quốc gia, lính của quốc trưởng thì gọi là lính quốc gia mà người cầm đầu là Lê văn Tỵ , thống tướng tổng tham mưu trưởng đệ nhất cộng hòa. Nói thế khác, cầm đầu QLVNCH là một anh lính khố đỏ khố xanh!? Mấy kẻ ức Đỗ Mậu, Tôn thất Đính, Dương văn Minh thường đàm tiếu biếm nhẽ mấy ông này là khố xanh khố đỏ mà quên chuyện đó!


Để duy trì tính liên tục quyền hành, làm như không có chuyện gì xảy ra, không có chuyện Bảo Đại thoái vị, không có việc Pháp đầu hàng Nhật, không có việc thành lập VNDCH mà đại diện chính thức của Pháp đã long trọng ký tên trong Hiệp Định Sơ Bộ 06-03-1946 hay còn gọi là hiệp định Hạ Long 1946... Pháp đã tổ chức cho Bảo Đại hồi loan rầm rộ về làm quốc trưởng quốc gia VN và trả lương hồi tố cho công chức quân nhân từ khi chính quyền Pháp bị Nhật đảo chính dẹp tiệm. Lương hồi tố này gọi là Rappel, tiếng U tiếng Mỹ là Back Pay!


Có thể tìm thấy chi tiết những diễn biến từ Nhật lật đổ chính quyền thực dân, Nhật thay Pháp cai trị rồi đầu hàng, chính quyền quốc gia khai sinh từ Bảo Đại rút lui hết làm vua đến làm vua hồi loan dưới danh nghĩa quốc trưởng rồi quốc trưởng bị truất phế qua trưng cầu dân ý khai sinh đệ nhất cộng hòa, hay quân lực VNCH từ Việt Binh Đoàn, Bảo Vệ Quân hay lính bảo vệ đến lính quốc gia... v.v... trong quyển Histoire du Vietnam de 1940 à 1952 của Philippe Devillers, Ed. du Seuil Paris 1952. Đây là quyển thủ bản lịch sử về VN thời khai sinh cũng như cái gốc gác mù mờ của quốc gia VNCH khá cân bằng và dễ hiểu còn hơn cả quyển Vietnam: A History của Stanley Karnow, Century Publ. London 1983. Philippe Devillers viết đâu ra đó, rất nhiều tài liệu vì, ngoài công việc trợ bút cho tờ Le Monde, Devillers từng là tùy viên báo chí của Tướng Leclerc, thái thú cuối cùng của Pháp trên thuộc địa Đông Dương. Muốn có chi tiết về cái gọi là lá cờ quốc gia thì có thể tìm thấy trong hồi ký Một Cơn Gió Bụi của Trần trọng Kim, Vĩnh Sơn 1969. Nhưng một đấng như đức VietHaiTran aka viethai712 và bè bạn chắc không có can đảm đọc những sách đó, hoặc nếu có thì chỉ đọc bằng lỗ mũi thôi?!


Những tài liệu trên phần nào cho thấy muốn có quốc gia mà thờ, có cờ quốc gia để mà chào kính thì cũng khó mà tìm ra. Chưa kể những chuyện tréo cẳng ngỗng là thời VNCH khai sinh thường dân ăn gạo Thái Lan hay Phi luật tân, lính đi hành quân thì cơm sấy hai ngày ăn ba, ba ngày ăn năm, của Đại Hàn chứ đào đâu ra cơm quốc gia mà ăn?! Chuyện khi chào kính cờ quốc gia người ta phải hát bài Thanh Niên Ca, với chữ thanh niên sửa thành công dân, mà tác giả là một người đang theo bên kia là Lưu hữu Phước! Chuyện bên này đã dùng một bài của cũng của người bên kia để chiêu hồi người bên kia về bên này như bài Tung Cánh Chim!...


Chuyện ký sinh trùng, ai dựa vào ai để sống còn thì thật là khỏi nói. Bởi chẳng có một người lính tác chiến nào mà không nhớ là chính Mỹ đã dùng mánh lới MỘT ĐỔI MỘT để bó tay rồi giết lần giết mòn VNCH mà VNCH không kêu vào đâu được vì chính Mỹ đã thi hành Hiệp Định Paris không sai một chấm một phết!


Căn bản một đổi một đó đã vắt cạn tiềm lực, trói tay trói chân của VNCH về yểm trợ tiếp vận nên TT Thiệu đã quyết định bỏ Ban Mê Thuột, Kontum, Pleiku đem chủ lực của SĐ23BB và LĐBDQ 21 về giữ đồng bằng và ven biển trong cuộc họp thượng tầng bỏ túi tại Cam Ranh ngày 14-03-1975 với Trần thiện Khiêm, Cao văn Viên, Đặng văn Quang Phạm văn Phú. Không kể chuẩn tướng Trần Văn Cẩm, người được giao cho lập và thực hiện kế hoạch rút lui theo quốc lộ 19, hoàn toàn bí mật để đánh lạc hướng địch, bí mật đến độ ngay cả những tiểu khu trưởng hay tỉnh trưởng cũng không biết! Cho nên khi biết ra thì chỉ có cắm đầu cắm cổ chạy thôi. Hỗn loạn là ở đó.


Hậu quả chiến lược của quyết định chiến thuật đó là thế nào ai cũng biết rồi... bởi như lời Tướng Cao văn Viên khi nói về đường rút: trong lịch sử chiến tranh ở Đông Dương, chưa có lực lượng nào rút theo đường 19 mà không bị tiêu diệt…!


Lãnh đủ thảm bại chiến lược trong chiến thuật di tản Ban Mê Thuột-Kontum-Pleiku chẳng ai khác hơn là TT Dương văn Minh, kẻ cầm cờ trắng cho Mỹ thiệt thoái. Giả dụ ông Minh muốn đánh thì lấy gì mà đánh đây? Cắn và vật lộn để giữ Sàigòn như phe quốc gia chống pháo kích của Khmer Đỏ bên Nam Vang à? Hay rút về Hậu giang bên kia phà Mỹ Thuận lập chiến khu? Tiền, đạn, gạo, xăng dầu... đâu mà đánh trong khi Mỹ đã bỏ cuộc?


Xét về những điều vừa nói thì việc tố cáo Trịnh công sơn là hèn nhát, ký sinh trùng, phản bội, ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản thì hình như chỉ có cỡ ông thầy chạy VietHaiTran aka viethai712 là dám mạnh miệng thôi?


Mới đây, Lữ Giang Nguyễn Cần đã vớ phải của ói ra của VietHaiTran aka viethai712 nên tố Tướng Dương văn Minh ăn hớt số vàng tịch thu của Bảy Viễn mà không chịu thưa trình cụ, ông cố vấn và đức tổng của Lữ Giang. Lại vàng!


Tháng Tư sang năm không khéo thiên hạ lại nghe cái ông thẩm phán này ngứa miệng điều tra điều trẻ về chuyện ông Minh tịch thu vàng của Ba Cụt mà không trình?! Nhưng có chuyện này thì phải hỏi Lâm lễ Trinh, người đã ngồi lên án tử hình và đích thân chứng kiến cảnh chặt đầu và hỏa thiêu Ba Cụt rồi đem tro cốt Ba Cụt vứt xuống sông trôi hết cho tín đồ Hòa Hảo khỏi nhớ. Gì chứ chuyện vàng bạc thì làm sao qua mặt ông Lâm lễ Trinh được?!


Cái tài phán xét lịch sử của thẩm phán Lữ Giang Nguyễn Cần này hình như rất nổi tiếng từ lâu... như chuyện Tướng Minh với vàng Bình Xuyên thì ông quan tòa này dựa vào lý chứng của hai người là Tướng Thi và Đại Tá Y để luận tội.


Mặc dù đã thừa nhận rằng hai lý chứng đó có nhiều điểm khác [sic] nhau nhưng ông vẫn tin rằng [sic] Tướng Minh có tội chấm mút vàng Bình Xuyên! Lữ Giang TIN và Lữ Giang KẾT TỘI thì Tướng Minh chỉ có nước chết thôi. Như ngày xưa Ba Cụt vậy đó! Không hiểu sao mà ông thẩm phán này lại không chịu tới luôn để ví von là Tổng Thống Dương văn Minh đã lấy vàng của Bảy Viễn để không chịu tử thủ Dinh Độc Lập ngày 30-04-75 nên VNCH mới chết?!


Kẻ thất trận chưa hoàn hồn đau cay mà bàn chuyện lịch sử thì cũng như ếch ngồi giếng loạn nhìn trăng sao. Dù sao Lữ Giang Nguyễn Cần vẫn còn liêm sĩ của trí thức. Chỉ cần ông chịu khó suy và can đảm nghĩ chút nữa như khi ông nhắm mắt đoạn lìa Saigòn Nhỏ mấy tháng trước đây hay khi ông viết những bài như Thiếu Think Tank để đạp đổ nồi phở Việt Tân, Hànội Sắp Hành Động, hay Anh Hai Cán Bộ...


Lữ Giang Nguyễn Cần nhắc tôi nhớ đến Phạm Duy. Có một thời Phạm Duy có vẻ gần gũi với cái lực lượng bình định bằng ám sát của bộ ba Colby-Komer- Nguyễn đức Thắng dưới cái tên Phượng Hoàng-XDNT. Khó chịu thật! Nhưng tôi không bao giờ mất lòng tin vào tình tự dân tộc nơi anh kể từ khi tôi được nghe bài Người Về hay Lời Mẹ Dặn phổ nhạc thơ Phùng Quán của Phạm Duy.


Bài Người Về hình như được tái bản có những câu như: 


Mẹ ơi, mẹ ơi, chuông chùa nào la đà
Nhớ tới, nhớ tới những linh hồn vắng nhà
Một vòng hương trắng xóa

Tình người trong thương nhớ


Đã vòng hương trắng xóa lại còn chuông chùa nào la đà trong một thời kỳ mà tín ngưỡng trở thành động lực dẹp bàn thờ tổ tiên ông bà và cần câu câu cơm gạo và danh chức đúng chóc Phạm Duy có máu kẻ sĩ đến độ gàn hết thuốc chữa! Tại sao lại không phải là ánh nến, chuông nhà thờ?! có phải chắc ăn không?! Băn khoăn đó chỉ giảm bớt đi khi tôi nghe bản Lời Mẹ Dặn phổ nhạc thơ Phùng Quán với những câu như:


Người làm xiếc đi dây rất khó
Nhưng không khó bằng làm một nhà văn
Muốn trọn đời đi mãi không ngưng
Trên con đường của lòng chân thật.
Tôi muốn làm nhà văn chân thật, chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Giấy bút tôi, ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá

Chân thật! Có lòng! Đởm lược!... của một trí thức, một kẻ sĩ. Tôi nghĩ Lữ Giang Nguyễn Cần đôi khi cũng nhớ mật ngữ ấy dù mật ngữ ấy có thể làm ông trở thành một con chiên khác màu lông trong đàn chiên cừu. 

Trịnh công Sơn cũng đã không quên mật ngữ ấy khi viết Gia Tài Của Mẹ và Tình Ca Của Người Mất Trí... Hay khi lên đài Sàigòn hát bài Nối Vòng Tay Lớn ngày 30-04-75. 

Dân tộc này còn có chút hy vọng nhận nhau như đồng bào anh em hay không điều ấy còn tùy những kẻ can đảm không quên mật ngữ ấy và chấp nhận sống với mật ngữ ấy. 

Tiếng súng đã im, máu đã thôi chảy hơn một phần tư thế kỷ rồi mà còn thâm thù, còn tranh nhau ai thắng ai bại và tại sao, còn hận còn đòi ăn tươi nuốt sống nhau thì ê quá! Phải không Trịnh công Sơn ơi?! 

Hoàng Nguyên Nhuận
Trại Đỗ Quyên 30-04-2009

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 112648)
Bạn có thấy đâu đó, người ta bày bán ba hình tượng ngồi riêng rẽ với hai bàn tay bịt kín hai mắt, bịt kín đôi tai, bịt kín miệng? Hay có lúc ba người ngồi chồng lên nhau theo thể hình tháp. Đứng nhìn lâu, có chút sảng khoái ở nghệ thuật mời chào. Nhưng đem về tập tành chủ nghĩa sống theo. Không thấy. Không nghe. Không nói. Bạn mới thấy nỗi niềm của từng nhịp thở ở đôi tay người.
17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 145040)
Em Người đàn bà sống dậy lúc nửa đêm icon bật sáng Lang thang trong thế giới ngôn từ Đi về bằng đôi chân giả Dối gạt nhau qua lũ hình nhân sặc sỡ Sắc màu
17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 99607)
Một cái chết tức tưởi, phi lí như thân phận con người trên cõi đời, như Albert Camus đã nhận xét trước kia. Ở tuổi 46, hai năm sau ngày lãnh giải Nobel. Trong túi xách của ông có đựng bản thảo cuốn tự sự hư cấu còn dang dở Le Premier Homme (Người đầu tiên), kí ức tặng mẹ, “người sẽ không đọc được nó’’. Cây ngô đồng (không hiểu sao) nay không còn nữa, chỉ có đài tưởng niệm dựng ở ven làng. (1)
17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 125567)
Sự thật là tôi không khóc khi chị cướp mất người đàn ông của tôi. Chị trơ trẽn mơn trớn anh ngay trước mắt tôi, rồi lại giả đò lúng túng vì những hành động ấy. Giá tôi có thể đẩy chị về nơi thật xa. Đẩy chị vào khoảng không vô chừng của bóng tối, trong sa mạc, cát bụi.
17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 113362)
Thật trơ trẽn, chúng nó hít hà, giá mà bóp vú em - dù chỉ qua lớp áo bà ba và áo nịt - được cái thì dù tử thần bảo phải nhượng cho mươi tuổi thọ, chúng cũng ký cả hai tay. Chàng cười diễu, bọn mày chẳng biết thế nào là tình ái. Chẳng chịu khó tìm phương đến đích. Nếu chinh phục được họ, sá gì hai quả đào mưng sữa kia chứ, bao nhiêu hầm mỏ ruộng nương mà các cô không dâng sạch cho tình lang?
17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 125979)
...Cô y tá nựng tôi! Tôi chồm lên ngang vai rồi liếm vào mồm, cô ngã ngửa ra, tôi tiếp tục vồ lấy. Tôi hôn cô. Tôi hít cô. Tôi xé quần áo cô. Tôi kiên quyết không rời cô. Tôi không có ý thức, mà cũng chẳng biết đạo đức là gì? Tôi đã tấn công cô y tá, đấy là họ bảo tôi thế, có người bàn thiến hai hạt dái của tôi...
17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 120265)
Nơi nào mùa xuân bắt đầu? Mùa Xuân bắt đầu từ những mầm cây non còn ngủ sâu dưới lòng đất giữa mùa Đông giá buốt. Chúng là những đứa con của các cây bố cường tráng, khỏe mạnh; và những cây mẹ dẻo dai, sum suê kết quả suốt mùa Hạ thơm lừng; sau những đêm ấm nồng lửa nhiệt đới và mặt trời không bao giờ tắt giữa đôi tay. Các bố mẹ cây gửi tình yêu của họ trong bọc lụa theo gió, để những đứa con mang mùa Xuân đến cho mặt đất và muôn loài.
15 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 125932)
Chuyên đề Tạp chí Văn : Nhiều Tác Giả (văn hóa) Sau chuyên đề về Tập san văn chương Ý THỨC, Văn Chương Việt hân hạnh được giới thiệu chuyên đề về Tạp chí Văn và chân dung những người đã dựng nên tờ tạp chí một thời vang bóng này.
14 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 149110)
Cũng chẳng cần mầu xanh của lá mầu đỏ của hoa hồng chỉ thấy trong veo như nước lọc nước tan trên môi nước hòa trong mắt làm thế nào mà tách được nước ra
14 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 153799)
Tháng sáu bắt đầu bằng cành hoa mong manh Trưa nắng chói chang lấp lánh mảnh thuỷ tinh vỡ Theo vòng tay buông lơi Mùa hè trở lại ở góc 360 Những cánh phù du trĩu nặng mắt chiều
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3805)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13236)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19624)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18608)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1554)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1724)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2236)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2363)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1416)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2179)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1908)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1947)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1315)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2351)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2545)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2327)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 216)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 764)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 971)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1053)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6379)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15860)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32118)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38827)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1412)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13871)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6868)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10631)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9830)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9953)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10756)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3424)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11097)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10331)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi