- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,449,506

THƠ NGUYỄN ĐỨC HẠNH

24 Tháng Giêng 202012:31 SA(Xem: 1523)


Ao Anh - photo NguyenHoangNam
Ảo Ảnh-photo Nguyễn Hoàng Nam

1.

SÔNG

 

Sông là thiếu phụ đã tắt lửa lòng

Trong và buồn thăm thẳm

Đôi bờ khát khao

Sắp lở hết rồi mà sông vẫn chảy

 

Sông là thi sĩ không gặp thời

Một đời đam mê một đời thất vọng

Chiều nay nằm ngửa mặt lên trời

Nghe hồn mình nhằm phía bể mà trôi

 

Sông là cụ già gần đất xa trời

Lặng lẽ nhìn trời như nhìn đình màn

 

Đếm từng mối tình

            từng nỗi buồn

                        từng đứa con đánh rơi

Phía thượng nguồn của một đời xa lắc

 

Sông là cô gái lẳng lơ về già

Nằm xoài khóc lặng

Tiếc những gì đã qua

Sợ những gì sắp tới

Sông hay tôi?!

 

 

2.

BÀI HÁT CỦA KHÚC NHAU THAI BÊN SÔNG CẦU

 

Mẹ sinh tôi

Cha chôn khúc nhau bên bờ sông Cầu

Người cùng hoàng hôn đổ bóng đầy bến Tượng

Cầu phao quằn quại qua sông

Có cô bé mười lăm

Lần đầu tiên giọt thiếu nữ đỏ mặt bao con sóng

Tôi mắc nợ dòng sông và phụ nữ

Rung giật như cầu phao muốn thoái khỏi đôi bờ

Thèm khát những chuyến đi

Ra bờ sông mặt buồn hơn đá cuội

Tôi mắc nợ các thiếu nữ vừa hôn vừa khóc

Giọt máu rơi nhuộm đỏ cỏ xanh

Nhuộm một đời lá mong manh

                                                            như thiếu nữ

Phút chảy xuống- giọt hạnh phúc đầu tiên nức nở

 

Một vũ trụ tan rồi, vũ trụ mới hồi sinh

Khúc nhau tôi nhảy ùm vào sóng

Rồi nổi chìm như một câu thơ

Sông ru nó! Quạ diều moi rỉa nó

Câu thơ đau ngửa mặt mà trôi

Tôi lớn lên đi đuổi bắt chân trời

Sông Cầu ôm khúc nhau ru thăm thẳm

Tôi làm sông khóc! Tôi khóc vì sông

Tôi mắc nợ cái đẹp và sóng nước

Khi tôi chết dòng sông đưa tang

Vài phụ nữ liệm tôi bằng nước mắt

Khúc nhau tôi luân hồi thành sông lớn

Chảy nôn nao về phía MẶT TRỜI!

 

 

3.

CỔ THÁP

 

Cổ tháp ngoái nhìn mười thế kỉ

Thở vào trời biếc những lời xanh

Kinh kệ thấm vào lòng cổ thụ

Bão đổ còn thơm cả lá cành

 

Một chùa, một tháp, một sư nữ

Đứng ngắm nhìn nhau giữa hoàng hôn

Tôi đang trôi hay thành tiếng mõ

Cứ lửng lơ mê giữa vườn thiền?

 

Giếng cổ cúi soi trong một thoáng

Mặt mình có lẫn với ngàn năm?

Huyền sử thở dài trong nước lạnh

Thảng thốt mặt ai với trăng rằm

 

Tháp lạnh... phù điêu run run vỡ

Cánh sen rơi suốt cuộc bể dâu

Hương sen từ đá bay thoang thoảng

Vừa chạm...tóc tôi đã trắng đầu

 

Có phải ngón tay chỉ mây trắng?

Hay sầu chất ngất dựng dưới trời?

Những vô tự khẽ theo chuông sớm

Mắc vào diều sáo trẻ con chơi.

 

 

4.        

XEM TUỒNG

           

Tượng phật mất bảy còn ba

Chùa thiêng lạnh quá mưa nhòa hoàng hôn

Nhặt sao hết hạt táo buồn

Rơi sân chùa vắng hát Tuồng tối qua

Bao nhiêu công chúa, tiên sa

Vỉa hè bán bún cười òa như mưa

Bao hoàng tử, bao ông vua

Xe ôm kiếm sống tít mù phố đông

Sông thì đục đục trong trong

Tuồng thì trống thúc mà không muốn vào

Giấc mơ cổ tích năm nào

Bao nhiêu nước mắt ướt vào ngây thơ

  

Cái đã biết? Tưởng nằm mơ

Cái chưa biết? Lại tưởng sờ tận tay

Chỉ thương thằng bé ăn mày

Tan mơ lại bị gậy này cầm lên

Tuồng hài đã diễn mấy đêm

Có người đứng khóc mà quên cả cười./.


5.

KHÚC MƯA

 

Dấu chân mưa

Dẫm đau bao kỉ niệm

Thấp thỏm đèn nhà ai sương lạnh

Ánh sáng vẫy bàn tay nhỏ

Rỏ máu chân đi vọt đỏ cánh hoa trắng.

 

Úp mặt vào ly cà phê chiều

Từng năm rớt thật nhanh

Từng giọt em rơi chậm

Cà phê đắng mà em thì mặn

Uống làm sao cho hết những nổi chìm.

 

Câu thơ rơi chầm chậm

Chiếc cốc đời tràn những hoang mang

Bạn bè thành mưa đi ngoài phố

Vừa chạm đến tiền đã vỡ tan.

 

Em cũng thành mưa bay đẫm nhớ

Một giọt trong veo thủa phượng hồng

Chạm tay đau mưa đục quá

Bụi cuộc đời có để mấy ai trong ?!

 

Đi chậm thôi kẻo làm rách gió

Nước mắt người yêu trắng cả trời

Heo may quàng cổ thơm lành lạnh

Tóc bạc ngược đường chạy: - Mưa ơi!

 

NGUYỄN ĐỨC HẠNH

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 2041)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 5944)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
06 Tháng Bảy 20153:00 SA(Xem: 2978)
Ngày 4/7/1407, tại Kim Lăng, kinh đô đầu tiên của Đại Minh từ 1368 tới khoảng năm 1421, Chu Lệ hay Đệ [Zhou Li] miếu hiệu Thành Tổ (Ming Zhengzu, 17/7/1402-22/8/1424) họp triều thần, chấp thuận lời xin của “1120” kỳ lão xứ Giao Châu [An Nam] hơn hai tháng trước là “con cháu nhà Trần đă chết hết không người thừa kế…. Giao Châu là đất cũ của Trung Hoa xin đặt quan cai trị, để sớm được thánh giáo gột rửa thói tật man di.” (1) Hôm sau, 5/7/1407, Chu Lệ ban chiếu thành lập “Giao Chỉ Đô Thống sứ ti” [Jiaozhi dutong tusi], một đơn vị quân chính cấp phủ hay tỉnh [Provincial Commandery]. (2) Và, như thế, sau gần 500 năm tái lập quốc thống dưới tên Đại Việt—hay An Nam, từ 1164/1175—nước Việt trung cổ tạm thời bị xóa tên.
26 Tháng Năm 20209:11 CH(Xem: 207)
Lưng chiều gió lượn bờ tre Lao xao tháng Sáu gọi Hè bâng khuâng Đong đưa phượng nở trước sân Mênh mang nhẹ khúc ve ngân ru sầu
17 Tháng Năm 20208:12 CH(Xem: 576)
Mẹ còn có mỗi lời ru / Buồn như ngọn gió mùa thu thổi về / Xưa ru con giấc ngủ mê / Giờ hiu hắt bóng lê thê đêm dài.
17 Tháng Năm 20208:00 CH(Xem: 558)
vui buồn ở một khúc quanh giữa tối và sáng / giữ lấy hơi ấm mùa xuân của ngày tàn / mùi thơm của nhánh hoa trên tay / khu vườn đẹp như cổ tích
17 Tháng Năm 20206:43 CH(Xem: 603)
Quang “bản phủ”, vốn là chánh án ở Toà án nhân dân huyện. Nhưng hình dáng bên ngoài, giống y như nhân vật Bao Thanh Thiên bên tàu trong bộ phim truyền hình nhiều tập chiếu trên đài. Tối hôm trước xem phim, sáng hôm sau đến toà, từ bị can, đương sự đến nhân viên, thư ký toà…giật mình thon thót, nhìn lên ghế chánh án, cứ như thấy ông Bao Chửng ngồi trên thật. Cũng tai to mặt lớn đen sì.
14 Tháng Năm 20209:18 CH(Xem: 781)
đã qua hơn hai ngàn ba trăm bốn mươi lăm ngày đêm / thời gian không gian ngả màu / cái còn lại duy nhất / của anh của em / vẫn không ngừng mọc lên
14 Tháng Năm 20209:02 CH(Xem: 563)
Ầu ơ ru lại ầu ơ / Mẹ tôi gánh nước trăng mờ bến sông / Chưa khôn mẹ đã theo chồng / Chốn quê mẹ gửi bụi hồng níu chân / Dây trầu non nhánh ngoài sân / Mẹ theo cha bước duyên trần từ đây /
14 Tháng Năm 20208:50 CH(Xem: 535)
những hạt mưa lớn từ cơn u uất tháng tư mộng du / vấp vào giấc mơ đóng kín cửa / ngã sóng xoãi / vỡ tràn trên mặt kính /