- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

BÓNG TRANH TRÊN ĐỒI CỎ

11 Tháng Mười Một 20196:47 CH(Xem: 48473)

kt 7
Tranh Khánh Trường

 

Hắn nhìn chăm chú bức tranh treo trên tường, đôi mắt hắn lóe lên một tia nhìn đầy cảm xúc. Có lẽ hắn đang liên tưởng hình ảnh người thiếu nữ trong tranh là một người có thật ngoài đời. Người thiếu nữ có đôi mắt rất buồn, một nỗi buồn tận cùng của sự đau khổ, tuyệt vọng. Người thiếu nữ trong tranh với tư thế nằm nghiêng khoát trên người mảnh áo rách nát tả tơi phất bay trong gió. Đôi tay gầy guộc giơ cao níu kéo niềm hy vọng từ đỉnh trời như đang cầu cứu một phép lạ từ đấng quyền năng ở trên cao đứng trước sự sống chết gần kề giữa cơn chìm đắm của sóng biển mênh mông. Bức tranh không diễn tả toàn bộ chi tiết để nói lên cái thảm trạng của thuyền nhân vượt biển đi tìm tự do, nhưng vô tình nó đã gieo vào trong lòng hắn một cảm giác mênh mang thương cảm cho thân phận của những người phụ nữ Việt Nam phải trả một cái giá quá đắt trên bước đường đi tìm tự do.

 

Hắn thả hồn chìm đắm trong suy tưởng những thắc mắc ngờ vực trong đầu chưa được sáng tỏ về bức tranh, về người thiếu nữ và về cuộc đời trôi nổi của những thuyền nhân khốn cùng bất chấp mọi hiểm nguy, cạm bẫy, và những thứ hung dữ nhất có thể giáng xuống từ con người hung bạo, từ đất trời làm mưa làm gió, dìm họ xuống đáy sâu của lòng biển khơi.  

 

Hắn nhìn bức tranh khá lâu; đôi mắt hắn nhìn chằm chặp chữ ký nhỏ nhắn nằm khiêm nhường ở góc bên phải của bức tranh. Hắn cố nhớ lại những khuôn mặt sinh viên đã theo học lớp hội họa cách đây vài năm, nhưng hắn không nhớ một ai trong lớp của hắn có cái tên lạ như thế. Đối với hắn, bức tranh không có gì nổi bật trên phương diện nghệ thuật, cũng như hầu hết những tác phẩm trưng bày trong phòng triển lãm của trường là do sinh viên sáng tác, họ mang nhiều màu da chủng tộc khác nhau đến từ các quốc gia trên thế giới. Tác giả của bức tranh không rõ là ai, bằng nhìn vào cái phong cách đậm nét Phương Đông, hình cô thiếu nữ nổi bật cái vóc dáng mảnh mai, chiếc áo cô mặc trên người thấp thoáng một tà áo dài duyên dáng thướt tha của các cô thiếu nữ Việt Nam. Hắn kết luận : tác giả bức tranh ấy ắt hẳn phải là người Việt Nam. Chỉ có hắn mới nhận ra điều “ bí ẩn ” ấy từ sự giao cảm “ thầm kín ”, chính hắn cũng không thể giải thích được.

 

Hắn mơ màng nhìn thấy người thiếu nữ đang nhìn hắn mỉm cười ( nụ cười che giấu nỗi tan nát của một thân phận bất hạnh ). Hắn đã từng được nghe kể những câu chuyện về cuộc đời của những cô thiếu nữ Việt bất hạnh gặp nạn trên đường vượt biên qua báo chí, sách vở và thân phận bi thương của những con người sau cuộc chiến đi tìm hơi thở tự do. Cái giá mà họ phải trả bằng sự lường gạt, lòng tham lam của những kẻ bất lương, tướt đoạt hết tài sản, đẩy họ vào con đường cùng của sự khốn khổ cùng cực, tù tội. Hắn đã từng chứng kiến tận mắt những xác người nằm la liệt bên bờ sông sau khi chiếc ghe chở người vượt biển bị đắm chìm sau một cuộc xô xát tranh giành giữa những lằn đạn bắn xối xả từ bên kia bờ sông. Hiểm nguy không ngăn cản bước chân người tiếp tục ra đi, và hắn đã may mắn đến được bến bờ tự do.

     

Hắn bước ra khỏi phòng tranh, đi về hướng thư viện, vào đó để tìm cho riêng mình phút giây tĩnh lặng. Thư viện kê đầy những kệ sách dài và cao, chứa đầy một rừng sách in ấn đẹp đẽ trang nhã. Hắn ngồi ở hàng ghế được ngăn cách bằng những kệ sách dọc sát bờ tường, xem tập tranh Van Gogh giữa cái không gian yên lặng ấm cúng mà lòng hắn vẫn thấy buồn  cô đơn, trống vắng. Cái cảm giác ấy vẫn còn đang kéo dài trong suốt nhiều năm như một vết thương chưa thành sẹo. Vết thương đã được cứu chửa bằng lòng nhân ái của đất nước tự do, bằng sự hy sinh của những con người đã nằm xuống vĩnh viễn để cho những kẻ như hắn được sống và nhìn thấy cái bao la rộng lớn của trời đất nơi xứ sở đang cưu mang hắn. 

 

Ngày hắn bước xuống phi trường quốc tế San Fancisco là hắn biết mình đã đặt chân xuống mảnh đất của “ vùng trời mơ ước”, nơi mà hắn có thể sống chính hơi thở và con tim của mình. Hình ảnh mà hắn đã tưởng tượng nước Mỹ về sự phồn thịnh, giàu có đang hiển hiện trước mắt hắn. Đất nước Mỹ rộng lớn với hệ thống xa lộ chằn chịt đông nghịt xe cộ chạy vun vút làm hắn choáng ngộp; hai bên đường là những building, dinh thự, khu thương mại, công xưởng rộng lớn làm hắn bị cuốn hút say mê nhìn ngắm cảnh vật xung quanh mà lòng đầy thán phục. Hắn không hề hay biết mình đang đặt chân đến vùng đất được mệnh danh là “ Silicon Valley ”. Vùng đất hứa cho những ai muốn mưu tìm cuộc sống tương lai đầy hứa hẹn. Hắn chỉ là một kẻ xa lạ, những gì hắn đang nhìn thấy chỉ là cái vẻ hào nhoáng của một cuộc sống văn minh vật chất trên một đất nước phát triển phồn thịnh. Dù sao hắn cũng đã đi đến đích cuối cùng, nhưng là sự khởi đầu của một điểm móc cho bước đường rong ruổi trên đất lạ quê người…

 

Hắn nhìn những bức tranh in trong tập sách Van Gogh, nét vẽ sắc bén như lưỡi gươm chém trên thân thân thể già nua cằn cỗi, hằn lên những vết sẹo cào cấu của một tâm hồn bi đát đầy phẫn nộ. Ông đã kết liễu đời mình bằng một phát súng. Hắn nghĩ đến thảm trạng bi kịch trong quá khứ vẫn còn ám ảnh trong cuộc sống. Hắn liên tưởng đến những nạn nhân trong chiến tranh Việt Nam : Những góa phụ, những đứa trẻ mồ côi sống lây lất nghèo khổ, những binh lính tàn phế sống lê lết trong tăm tối tuyệt vọng. Tù cải tạo đói khát trong rừng sâu núi thẳm. Cuộc chiến đã chấm dứt, nhưng nỗi buồn quá khứ vẫn âm ĩ kéo dài trong tâm hồn của những kẻ còn ở lại, và những người ra đi mang theo quê hương một trời nhung nhớ bên kia bờ đại dương.  

 

Có bóng người đi qua khiến hắn chợt giật mình tỉnh giấc cơn muộn phiền. Hắn gấp sách đứng dậy, đặt cuốn sách lên kệ rồi bước ra ngoài thư viện. Hắn đi dọc theo hành làng lớp học, chiếc bóng hắn hắt xuống lối đi chập chờn như bóng ma; một mình cô đơn lặng lẽ bước đi giữa một buổi trưa các lớp học đã đóng kín cửa. Một mình. Chung quanh không có ai, rất buồn nhưng không rùng rợn ghê sợ vì ngôi trường là một kiến trúc hiện đại nằm trên một ngọn đồi nhìn xuống thung lũng Silicon Valley; quang cảnh yên tĩnh, quang đãng, tươi mát khiến hắn an tâm. Hắn đi đến cuối dãy hành lang lớp học, bước xuống bậc thềm trên một lối đi dẫn ra bãi đậu xe, phía trái con đường sau tòa nhà là ngõ cụt dẫn lên một ngọn đồi. Thay vì băng qua bãi đậu xe đến trạm xe bus như thường lệ, hắn đi ngược lên trên ngọn đồi. 

 

Đứng trên lưng chừng sườn đồi thoai thoải giữa đất trời mênh mông, bất thần hắn cảm nhận một cảm giác lơ lững chênh vênh như được nhấc bổng lên cao nhìn xuống lũng sâu. Toàn cảnh vùng Silicon Valley nằm trong tầm mắt hắn là một không gian rộng lớn bao bọc xung quanh là hai rặng núi Mount Hamilton và Santa Cruz Mountains xanh ngắt trời mây.Thành phố San Jose nằm phía dưới thung lũng, nhà cửa, dinh thự, công xưởng nằm san sát, ẩn núp trong những lùm cây xanh ngắt, những bãi cỏ công viên, sân vườn trải dài dệt thành một nền xanh bao la ngút ngàn. Hắn nhìn xuống khuôn viên trường chiếm một diện tích lớn nằm dựa lưng trên sườn đồi cao, những lối đi rộng dẫn đến các phòng ốc, lớp học, thư viện, nhà sách trông rất tươm tất sạch sẽ, có trồng cây cảnh dọc theo lối đi. Xa xa hai bãi đầu xe chiếm hết một diện tích rộng nối dài với một công viên nhỏ có hồ nước hình hạt đậu, cách đồi cỏ và hàng cây xanh là sân vận động tennis, bóng chuyền, bóng chầy nằm phơi mình trong ánh nắng chiều đang buông xuống phủ lên không gian một màu xanh long lanh xanh mát. Ngôi trường được bao quanh bằng những dải đất rộng nối dài lên tận đồi cao của những trang trại trồng nho, vườn cây cherry vùng Evergreen Hill. Màu xanh ngút ngàn như trải trong lòng hắn một cảm giác bình yên nhẹ nhàng, thư thái. Hắn mơ màng thả hồn lắng đọng hòa vào nhịp chuyển động nhẹ nhàng của thiên nhiên đang đổi thay từng giây từng phút…

 

Đứng giữa trời đất bơ vơ ở một xứ lạ, hắn nhớ quê hương mình quá đổi. Quê hương hắn nghèo sau hai mươi năm chiến tranh tàn phá trở nên kiệt quệ. Đoàn tàu thống nhất nối liền Nam Bắc chở theo những con người lam lũ, cùng khổ sau những mất mát chia lìa đang nhen nhóm trong lòng niềm hy vọng cho một cuộc sống tự do, ấm no hạnh phúc. Hắn cũng muốn điều ấy như mọi người mong muốn, nhưng niềm hy vọng như một que diêm tàn lụi phủ chụp màn đêm bao phủ chung quanh cuộc đời vẫn còn những gian nan , khốn khổ. Hắn nhớ có một lần hắn bắt gặp một anh bộ đội hy sinh một phần thân thể với đôi nạn gỗ, khập khiễng bước xuống một sân ga, mặt mày nhễ nhại mồ hôi trong cơn đói lả, mặt tái xanh, tay chân run rẩy chỉ vì anh vừa mới phát hiện chiếc ba lô của mình vừa bị đánh cắp. Lúc ấy trong lòng hắn dấy lên một lòng thương cảm chỉ vì nghĩ rằng anh bộ đội kia chẳng có gì quí giá ngoài vài bộ áo quần cũ mèm, và cũng có thể  trong ấy có một vài món đồ “ quý giá ” mà anh đã “ gói gém ”làm quà để mang về Bắc tặng cho vợ con trong chuyến xuôi Nam. Nhìn nét mặt lo lắng, sợ hãi của anh bộ đội khiến hắn không thể tin rằng người đang đứng trước mặt hắn là một chiến sĩ anh dũng đã từng cầm súng chiến đấu đánh “ quân thù ”  không sợ chết, vậy mà anh đã phải rung sợ chỉ vì mất đi cái  “ tài sản quý giá ” anh mang theo trên chiến tàu xuôi Nam ngược Bắc. Hắn không biết cách nào để giúp đở kẻ bị nạn vì hắn cũng nghèo như anh. Có biết bao thân phận ngặt nghèo khốn khổ hơn anh như những người lính thương phế binh VNCH sống lây lất không được đối xử bình đẳng chỉ vì bóng đen quá khứ. Và những sĩ quan quân lực VNCH đang bị giam cầm trong ngục tù cộng sản; có người tìm đường vượt thoát nhưng đã bị bắt và bị xử bắn một cách tàn bạo. Sự hận thù của kẻ chiến thắng vẫn còn là một nỗi ám ảnh kinh hoàng trong tâm tưởng của kẻ chiến bại. Tất cả mọi người đều khao khát được sống tự do sau ngày êm tiếng súng, thế nhưng lớp người trẻ như hắn cũng phải lên đường tay cầm súng tiếp tục cuộc chiến đấu trên chiến trường Campuchia. Hắn đã bỏ trốn vì hắn không muốn chết một cách vô nghĩa và hắn đã ra đi. 

  

Hắn đã may mắn trốn thoát đến được xứ sở tự do, giàu có để thực hiện những ước mơ như bao nhiêu người Việt đang sinh sống trên đất Mỹ. Có đôi lúc hắn buồn vì cảm giác đơn độc một mình không có người thân bên cạnh: nửa đêm thức giấc bất chợt thấy dòng lệ lăn dài trên đôi má xanh xao. Hắn khóc thật. Giấc mơ hãi hùng rượt đuổi hắn, như một con vật bé nhỏ yếu đuối đang bị một con mảnh thú săn mồi rượt bắt. Hắn đã vượt thoát như một phép lạ. Nhưng dưới chân hắn đã có hàng hàng lớp lớp người đã ngã gục để lót đường cho hắn đi qua. Như cây cầu xây bằng xương máu của người đồng loại bắt qua bờ đại dương, cho hàng triệu người đã đến được bến bờ tự do…

Nhiều lần hắn ngồi trước cái giá vẽ, cố tập trung ý tưởng nhìn vào khoảng trống trên mặt phẳng của chiếc canvas trước mặt. Đôi tay hắn cảm thấy bất lực, cây cọ lạnh lùng biến thành cây gỗ cứng ngắt, niềm đam mê không khỏa lấp được nỗi ám ảnh mơ hồ hư thực trong cuộc sống đấy rẫy sự nghịch lý. Hắn tiếp tục tìm kiếm trong cái khoảng trống trắng ngần trong cái không gian bàng bạc kia chưa định hình rõ rệt những gì hắn đang tưởng tượng. Hắn vẫn còn đang trong trạng thái mơ màng như người chưa hoàn hồn sau một cơn say.

 

Hắn nhìn xuống ngọn đồi, trước mắt hắn là bức tranh thiên nhiên trong sáng và an lành. Hắn muốn hòa mình vào sự tĩnh lặng ấy để sự ưu tư phiền muộn lắng đọng chìm vào quên lãng. Đang mơ màng bất chợt hắn nhìn thấy từ dưới chân đồi một bóng người xuất hiện. Chiếc bóng bước nhanh thoan thoát trên lối đi ngoằn ngoèo dẫn ra công viên sau hồ nước là một thiếu nữ tóc dài bay phất phới thoáng hiện sau lùm cây chạy ngược lên đồi cỏ. Hai cánh tay sãi dài dang rộng như cánh bướm đang thực hiện một vũ điệu của một loài chim. Hắn mỉm cười trước cảnh tượng ngộ nghĩnh đẹp một cách lạ lùng như một đoạn phim quay chậm. Hắn nhanh chân bước xuống chân đồi đi đến chỗ người thiếu nữ đang đứng .

 

Xuống tới chân đồi đứng trên chiếc cầu bắt qua bờ hồ nhìn qua đồi cỏ, người thiếu nữ đột nhiên biến mất. Hắn đảo mắt nhìn quanh, không thấy một bóng người, khung cảnh hoàn toàn yên lặng. Hắn đứng trên cầu nhìn xuống hồ, những bóng hình phản chiếu lung linh mờ ảo từ bầu trời và những hàng cây bụi cỏ tạo ra một phong cảnh tuyệt đẹp như một bức tranh. Đàn vịt trời bay qua đỉnh đồi, cất tiếng kêu quang quác bất thần đáp xuống mặt hồ, nước bắn tung tóe, đàn vịt nhởn nhơ đùa giỡn, khuấy động mặt nước tạo ra những lượn sóng lăn tăn lan rộng ra bờ hồ. Một luồng gió lạnh thổi qua, hàng cây nghiêng ngả, chao đảo, lao xao kéo theo những cành lá phong trĩu xuống, lá rơi tung tóe trên mặt hồ. 

 

Hắn bước nhanh qua cầu, đi dọc theo con đường uốn khúc dẫn qua một lùm cây rậm. Hắn dừng lại, mắt nhìn thấy cái thanh gỗ màu nâu vàng của chiếc giá vẽ bằng gỗ loáng thoáng ẩn hiện sau tán lá phủ che khuất không nhình thấy rõ. Hắn bước nhanh dọc theo bụi cây tìm lối vào.Từ xa hắn đã nhìn thấy cái giá vẽ dựng sát góc dưới tàn cây cổ thụ, nó đứng một mình lẻ loi, đơn độc, gieo vào lòng hắn một cảm xúc nhẹ nhàng như tình cờ bắt gặp một ký ức xa xưa. Hắn tới gần đứng sau cái giá vẽ, đôi mắt hắn mở lớn nhìn chằm chặp bức tranh đang vẽ dở dang. Bức tranh làm hắn sững sờ, ngạc nhiên liên tưởng đến bức tranh người thiếu nữ treo trong phòng triển lãm mà hắn đã nhìn thấy trước đó. Màu sơn loang loáng, đường nét mềm mại uyển chuyển giống hệt nhau, chỉ có riêng một người vẽ ra nó, không nhầm lẫn với ai khác được. Bức tranh chưa hoàn tất, màu nền mang sắc nâu sậm trầm mặc, buồn bã, không ăn nhập gì với cảnh sắc trước mặt. Hắn chưa hiểu rõ hình tượng của bức tranh khi nó hình thành; màu sắc trong tranh như đang cuốn hút ánh nhìn của hắn một nỗi buồn miên man bất tận.

 

Có tiếng động sau lưng, hắn giật mình quay lại, bất thần nhìn thấy người thiếu nữ mặc chiếc váy dài màu trắng với chiếc áo len màu tím nhạt khoát trên dáng người mảnh mai duyên dáng. Người thiếu nữ thản nhiên, lạnh lùng đưa mắt nhìn bâng quơ không hề để ý đến sự có mặt của hắn dù khoảng cách giữa hắn và người thiếu nữ rất gần. Hắn lúng túng nhìn người thiếu nữ vẻ mặt vô cảm, lạnh nhạt, và cảm nhận sự hiện hữu của mình là một điều vô lý. Người thiếu nữ giương đôi mắt to chăm chú nhìn như đang thôi miên cái điểm tựa trên khung tranh, hình như cô ta đang tìm kiếm một điều gì đó rất mơ hồ, một cảm giác giao cảm rung động của người họa sĩ đang hòa những dòng suy tư của mình trên khung vải. Hay cô ta đang suy tư một điều gì khác ? 

Người thiếu nữ đứng bất động như pho tượng, những đường cong thân thể lồ lộ hiện lên sau lớp vải trắng bị một luồng ánh sáng mặt trời chiếu xuyên qua người cô. Hắn định thần cố nhớ lại bức tranh trong phòng triển lãm mà hắn đã nhìn thấy, hình tượng người thiếu nữ trong tranh như đang bước ra đứng trước mặt hắn. Vóc dáng, nét mặt, đôi mắt buồn kia vẫn còn ám ảnh hắn về thân phận bất hạnh của những người thiếu nữ Việt trên những con thuyền vượt biển trôi dạt trên biển Đông bị hải tặc bắt cóc, hảm hiếp. 

 

Người thiếu nữ đứng yên một hồi lâu, bất chợt hai bàn tay bắt đầu run rẩy. Cây cọ lông nhúng sơn cầm trên tay dí dí trên mặt canvas một cách lấp lững hờ hững. Mảng màu đỏ chói như giọt máu rỉ ra từ da thịt trên mặt phẳng của bức tranh chưa định hình. Nó im lặng nhưng có một dòng xoáy cực sâu trong tim khiến hắn choáng váng. Những cảm xúc nhẹ nhàng khi hắn vừa đến đã biến mất, trước mặt hắn hoàn toàn là một cảnh tượng kỳ quái khó hiểu. Người thiếu nữ đến đây không phải làm một công việc đam mê nghệ thuật như lúc đầu hắn đã tưởng. Bàn tay cô cứng đơ bất thần run lên khe khẽ, cây cọ chơi vơi rơi xuống đất. 

 

Người thiếu nữ nghiêng người choáng váng, tưởng chừng như đang té nhào xuống đất. Hắn định chạy tới nói một điều gì đó nhưng bất thần người thiếu nữ quay mặt lại nhìn hắn bằng đôi mắt hoang dại, trắng dã toát lên vẻ sợ hãi. Đôi mắt mở lớn trừng trừng nhìn hắn như nhìn một con thú hung dữ đang chuẩn bị vươn vai phóng tới vồ lấy con mồi trước mặt. Hắn biết có một điều bất ổn đang xảy ra. Hắn định trấn an bằng một cử chỉ thân thiện nhưng người thiếu nữ giơ hai cánh tay ra dấu hắn thôi đừng bước tới. Chưa kịp phản ứng bỗng người thiếu nữ thét lên giơ hai bàn tay che mặt thụt lùi về phía sau va phải cái giá vẽ làm bức tranh rơi xuống đất. Người thiếu nữ bất thần bỏ chạy tưởng như có người đang rượt đuổi mình phía sau lưng. Cái ảo giác rùng rợn tái hiện trước mắt cô những khuôn mặt “ đầu trâu mặt ngựa hung tợn, khát máu, dâm đản, tay cầm vũ khí xông lên chiếc thuyền chở hàng chục người tỵ nạn vượt biển trôi dạt trên vịnh Thái Lan. Những tiếng khóc, tiếng la thét kinh hoàng, tiếng cầu kinh tạo ra một chuỗi âm thanh rùng rợn đã in sâu trong tiềm thức của người thiếu nữ như khúc phim chiếu chậm đang diễn ra trước mặt cô. Bọn hải tặc mặt mày hung tợn lôi kéo những người con gái nhốt vào phòng cabine, lột hết áo quần, hãm hiếp dã man. Những người phản đối bị chúng đâm chết, ném xác xuống biển, máu nhuộm đỏ trên mặt sóng nhấp nhô rờn rợn xác người. Con thuyền rách nát tả tơi như một con vật vấy máu đầy thương tích sau một cuộc hỗn chiến với bầy thú dữ, nó là chứng tích của tội ác trôi dạt trên bờ vịnh Thái Lan.

 

Hắn thẫn thờ dõi mắt nhìn theo người thiếu nữ tiếp tục chạy qua đồi cỏ, và không hề biết chuyện gì đang xảy ra cho cô ta. Hắn có cảm tưởng chính hắn đã làm cho cô ấy hoảng sợ khi đôi mắt của cô ta nhìn hắn đăm đăm đầy vẻ kinh hãi, ghê tởm. Vì sao ? Hắn không hiểu. Hắn không hề cảm nhận được dưới thảm cỏ xanh mướt kia mà đôi chân nhỏ bé trắng muốt của người con gái đang giẫm lên là những dòng máu tuôn chảy từ tiềm thức không bình yên, từ những đớn đau tận đáy con tim. Hắn đứng ngẩn ngơ đưa mắt nhìn theo bóng dáng xinh đẹp của người thiếu nữ trong chiếc váy trắng nổi bậc trên nền cỏ xanh. Hắn bước tới đi qua khỏi hàng cây rồi dừng lại đưa mắt nhìn qua đồi cỏ. Người thiếu đi xuống con đường thấp tiến sát bên hàng cây phía xa. Bỗng hắn nghe có tiếng người nói vọng tới từ sau lưng :

 

- Chắc anh đã làm cho cô ta hoảng sợ.

 

Hắn quay mặt lại nhìn thấy người đàn bà trên tay cầm một cuốn sách đang đọc. Bà gấp sách bỏ vào trong túi xách tay rồi đứng dậy tiến đến chỗ hắn đang đứng :

 

- Anh là người Việt Nam ?

 

Hắn gật đầu nhìn người đàn bà định nói một điều gì đó để giải thích sự tình cờ có mặt của hắn ở đây, nhưng bà ta tiếp tục nói:

 

  • Tội nghiệp cho Thanh Hồng. Tâm thần cô ấy không bình thường, lúc vui lúc buồn không đoán trước được. Cô ấy sống ở đây một mình…nghe nói gia đình cô ấy đã chết hết sau chuyến vượt biển vài năm trước …tàu bị cướp…

 

Người đàn bà ngừng nói nhìn hắn với dáng vẻ đăm chiêu, dường như bà không muốn nói rõ câu chuyện buồn của người khác lẽ ra bà không được tiết lộ cho bất kỳ một người nào khác biết về cầu chuyện đời tư của người thiếu nữ .

 

Người đàn ba tự giới thiệu :

 

  • Tôi là nhân viên sở xã hội. Thanh Hồng là thân chủ của tôi, nhưng tôi xem cô ấy như em gái đáng yêu của tôi. Có lẽ anh ngạc nhiên khi gặp cô ấy lần đầu và không biết chuyện gì xảy ra phải không ? Cô ấy rất thích đến đây; thiên nhiên xanh mát làm cho cô ấy cảm nhận được sự thanh thản trong lòng.

 

Hắn nhìn người đàn bà :

 

- Thưa bà. Cô ấy là họa sĩ ?

 

Người đàn bà lắc đầu :

 

  • Không phải. Nhưng cô ấy rất thích màu sắc. Chúng tôi muốn đưa cô ấy vào đây để cô ấy thích nghi với mọi sinh hoạt bình thường. Thấy hội họa là môn học nhẹ nhàng thích hợp với cô ấy hơn.

 

Hắn gật đầu tỏ vẻ hiểu biết câu chuyện người nhân viên xã hội vừa tiết lộ. Bây giờ hắn đã hiểu tại sao Thanh Hồng thích thả hồn mình hòa nhập vào thiên nhiên xanh mát của vùng đồi Evergreen nơi cô đang cố gắng tìm lại một cuộc sống yên bình trên đất nước tự do đang cưu mang mình. Hắn hỏi người đàn bà :

 

 - Bức tranh kia có phải do chính tay Thanh Hồng vẽ ?

 

Người đàn bà buồn rầu lắc đầu:

 

  • Không phải. Bức tranh ấy là do một người bạn học vẽ…nghe nói họ rất thân nhau... Thanh Hồng tìm được niềm vui hạnh phúc tưởng sẽ ở với mình mãi mãi, nhưng một tai nạn lưu thông đã mang người bạn ra đi vĩnh viễn…Tội nghiệp cho cô ấy.

 

Người đàn bà ngừng nói khi bà nhìn thấy từ dưới bãi đậu xe một chiếc xe cảnh sát tuần tra xuất hiện. Một viên cảnh sát cao lớn bước xuống xe tiến về chỗ hai người đang đứng. Người đàn bà đưa tay vẫy chào viên cảnh sát, bà đon đả bước tới, hai người đứng giữa đường đi, cười nói thân thiện như đã quen thân từ trước, trao đổi những mẩu chuyện đã và đang xảy ra, những câu chuyện buồn vui của cuộc sống thường nhật trên đất Mỹ.

 

Hắn đón chuyến xe bus cuối cùng rời khỏi trường, trong lúc nhìn xuyên qua cửa xe, hắn vẫn còn nhìn thấy chiếc bóng người thiếu nữ trong tranh mà hắn đã nhìn thấy trong phòng triển lãm đang đứng yên bất động. Những thắc mắc ngờ vực về bức tranh đã được giải đáp. Những gì hắn nghĩ về thảm trạng của cuộc vượt thoát tìm tự do của hằng triệu người đã phải trả bằng giá của máu và nước mắt, đã làm cho hắn rúng động con tim. Hình ảnh trong tranh là bóng hình có thật, bằng xương thịt của người con gái như một chứng tích đau buồn khắc sâu trong lòng của những người đã bỏ quê hương ra đi…

 

Hắn mỏi mệt ngả lưng dựa vào chiếc ghế nệm êm ấm của chiếc xe bus cuối cùng đang từ từ lăn bánh. Chiếc xe bus to cồng kềnh lắc lư nghiêng ngả chạy chậm chạp, thỉnh thoảng dừng lại đón khách ở trạm xe bên đường. Hắn nhắm mắt tìm trong hai cái hố mắt sâu thẳm đen ngòm kia một sự yên lặng, nhưng càng chăm chú hắn lại càng thấy mình như bị cuốn hút lún sâu vào cái ý tưởng bi quan đầy ắp những phiền muộn suy tư. Hình ảnh người con gái xinh đẹp chạy trên đồi cỏ bất chợt hiện lên trên tấm canvas mộng ảo có màu nền màu xanh thiên thanh, xua tan đi cái sắc đen ảm đạm trong ý nghĩ buồn phiền của hắn. Màu sắc xanh xanh của bầu trời bồng bềnh hòa cùng những cụm mây trắng quyện vào thân thể mong manh mềm yếu của người con gái đang dang hai cánh tay ôm lấy những cụm hoa màu sắc vàng rực rỡ, tỏa sáng vòng hào quang chiếu xuống từ trên cao. Hắn mơ màng thiếp đi trong giấc ngủ chập chờn, và hình như có tiếng người nói vọng lại từ cõi xa xăm nào : Em ơi ! Hãy nguyện cầu, tình yêu mãi mãi sẽ đến với em. Bên ngoài màn đêm đang buông xuống, thành phố đã lên đèn.

 

 Minh Lâm

 (Viết 2010 chỉnh sửa 6- 2019)

 

                                     

 

          

 

  

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
03 Tháng Mười Một 202410:25 CH(Xem: 24980)
Trăng về kịp đêm nay / Nghe em hát tình ca / Bằng ngón tay chờ đợi / Lưng đêm mỏi rã rời
02 Tháng Mười Một 20244:14 CH(Xem: 22531)
Thử đặt giả thuyết: Nếu người Pháp bị một thế lực ngoại bang bắt buộc phải viết lại chữ Pháp bằng một ngữ tự khác, không phải ngữ tự La tinh (ngữ tự Ả Rập chẳng hạn), và thứ chữ Pháp mới này, sẽ là chữ quốc ngữ Pháp, do người ngoại quốc sáng chế ra mà không cần tới sự hướng dẫn của một người Pháp nào. Người ngoại quốc này có thể là ông Nguyễn Văn Mỗ, tương tự như ông Alexandre de Rhodes, chẳng hạn. Thì người Pháp sẽ nghĩ sao? Họ có tin được việc này không? Tôi không nghĩ có người Pháp nào chấp nhận việc một người Việt đến Pháp ở vài năm, có thể sáng chế ra chữ mới cho người Pháp viết, làm tự điển cho người Pháp học, mà không cần sự giúp đỡ, của một người (Pháp) bản xứ nào.
02 Tháng Mười Một 20241:29 SA(Xem: 26616)
Những bài thơ dưới đây được tuyển dịch từ cuốn ”Một Trăm Bài Thơ Nhật” rất nổi tiếng của thi sĩ-dịch giả Mỹ Kenneth Rexroth với thơ của các thi sĩ Nhật qua nhiều thế kỷ. Trong cuốn này, dịch giả Rexroth đã nắm bắt được rất nhiều tính cách tinh tế của thi ca cổ điển Nhật Bản: chiều sâu của niềm đam mê chừng mực, văn phong sang trọng khắc khổ, và hình tượng phong phú nhưng cô đọng. - Bạt Xứ
02 Tháng Mười Một 202412:22 SA(Xem: 25724)
Đối với người Việt, dù trong nước hay ở nước ngoài, nhắc đến phở là tự nhiên nước miếng tứa ra. Đi ra nước ngoài, người Việt chỉ mong chóng trở về, ào ra quán phở gần nhà gọi tô phở nóng thưởng thức bù lại những ngày nhớ quê hương.
02 Tháng Mười Một 202412:17 SA(Xem: 28298)
Anh Phước là con ông cậu ruột của tôi. Nhà tôi ở kế bên nhà anh. Anh thứ nhất mà cũng là con duy nhất của cậu tôi nên anh em chúng tôi thường gọi anh là anh Hai Phước. / Anh mồ côi cha từ thuở chưa lọt lòng. Anh có tuổi thơ thật “dữ dội”. (Tuổi thơ dữ dội- tên tác phẩm của nhà văn Phùng Quán). Trong tác phẩm, các cậu thiếu niên trẻ tuổi ấy đều có một câu chuyện riêng đầy cảm xúc, những hoàn cảnh éo le không ngờ tới nhưng họ vẫn đối diện bằng tinh thần lạc quan, vui vẻ. Mỗi người có một số phận riêng và tôi nhìn thấy hình ảnh một thế hệ và bóng dáng anh cũng có phần trong đó.
01 Tháng Mười Một 202410:05 CH(Xem: 26471)
Mùa ngâu tháng Bảy! / Anh đi xa, năm nào / Ngày Cali buồn, chẳng có mưa ngâu, / chỉ ướt nhoè, nước mắt em / khóc anh ngày ấy!
29 Tháng Mười 202411:53 CH(Xem: 32228)
Em còn đó không? / Bờ Tây Thái Bình. / Muôn trùng xa cách! / Vẫn hoài đợi mong? / ** Em còn đó không? / Anh nay phương trời. / Ôm đầy nỗi nhớ! / Xa vời vợi trông. /
23 Tháng Mười 202411:04 CH(Xem: 23162)
The week - from October 16th to 20th, 2024, the largest book fair in the world will take plac: the book fair in Frankfurt, Germany. This year the theme of the book fair is: the country Italy, especially with its great culture and literature. The southern Italian publisher SECOP Edizioni is presenting, among other books, one of my poems in a special volume of poetry in a quadrolingual edition - Italian - Vietnamese - German and English. The title of the long poem is "CASA MIA - NHÀ TÔI - MEIN ZUHAUS - MY HOME"
10 Tháng Mười 20244:15 SA(Xem: 33253)
Tôi trở về Half Moon Bay / Đếm từng con sóng biển / Đếm từng nỗi ưu phiền / Lòng buồn như sương mù / Từ độ ánh trăng tan...
05 Tháng Mười 20244:58 CH(Xem: 34073)
NCT sinh năm 1948 tại Vũng Tàu, cha mẹ là người Hà Nội. Từ đầu những năm 1950er NCT lớn lên ở thành phố Sài Gòn, học tiểu học ở trường Bàn Cờ, trung học ở trường Chu Văn An. Năm 1967 ông từ chối những học bổng của những quốc gia khác, chọn học bổng quốc gia (VNCH) để sang CHLB Đức du học. Tại Viện Đại Học Stuttgart NCT học Triết học và Toán Học & Cơ Học Áp Dụng. Vào thời điểm đó những triết gia Đức có tiếng như Martin Heidegger, Karl Jaspers, hay Ernst Bloch đã hưu trí, ông đã làm luận án tiến sĩ ở Viện Cơ Học & Toán Học Áp Dụng. Ông là sinh viên trẻ nhất xưa nay có bằng Tiến Sĩ Kỹ Sư (Doktor-Ingenieur), vào năm 1977.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3873)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13302)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19671)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18652)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1660)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1820)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2353)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2444)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1490)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2230)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1962)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 2014)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1397)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2445)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2648)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2389)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 267)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 825)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1059)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1143)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6438)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15908)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32168)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38872)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1504)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13905)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6924)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10739)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9978)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 10053)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10848)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3473)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11164)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10379)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi