- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

BÓNG TRANH TRÊN ĐỒI CỎ

11 Tháng Mười Một 20196:47 CH(Xem: 45568)

kt 7
Tranh Khánh Trường

 

Hắn nhìn chăm chú bức tranh treo trên tường, đôi mắt hắn lóe lên một tia nhìn đầy cảm xúc. Có lẽ hắn đang liên tưởng hình ảnh người thiếu nữ trong tranh là một người có thật ngoài đời. Người thiếu nữ có đôi mắt rất buồn, một nỗi buồn tận cùng của sự đau khổ, tuyệt vọng. Người thiếu nữ trong tranh với tư thế nằm nghiêng khoát trên người mảnh áo rách nát tả tơi phất bay trong gió. Đôi tay gầy guộc giơ cao níu kéo niềm hy vọng từ đỉnh trời như đang cầu cứu một phép lạ từ đấng quyền năng ở trên cao đứng trước sự sống chết gần kề giữa cơn chìm đắm của sóng biển mênh mông. Bức tranh không diễn tả toàn bộ chi tiết để nói lên cái thảm trạng của thuyền nhân vượt biển đi tìm tự do, nhưng vô tình nó đã gieo vào trong lòng hắn một cảm giác mênh mang thương cảm cho thân phận của những người phụ nữ Việt Nam phải trả một cái giá quá đắt trên bước đường đi tìm tự do.

 

Hắn thả hồn chìm đắm trong suy tưởng những thắc mắc ngờ vực trong đầu chưa được sáng tỏ về bức tranh, về người thiếu nữ và về cuộc đời trôi nổi của những thuyền nhân khốn cùng bất chấp mọi hiểm nguy, cạm bẫy, và những thứ hung dữ nhất có thể giáng xuống từ con người hung bạo, từ đất trời làm mưa làm gió, dìm họ xuống đáy sâu của lòng biển khơi.  

 

Hắn nhìn bức tranh khá lâu; đôi mắt hắn nhìn chằm chặp chữ ký nhỏ nhắn nằm khiêm nhường ở góc bên phải của bức tranh. Hắn cố nhớ lại những khuôn mặt sinh viên đã theo học lớp hội họa cách đây vài năm, nhưng hắn không nhớ một ai trong lớp của hắn có cái tên lạ như thế. Đối với hắn, bức tranh không có gì nổi bật trên phương diện nghệ thuật, cũng như hầu hết những tác phẩm trưng bày trong phòng triển lãm của trường là do sinh viên sáng tác, họ mang nhiều màu da chủng tộc khác nhau đến từ các quốc gia trên thế giới. Tác giả của bức tranh không rõ là ai, bằng nhìn vào cái phong cách đậm nét Phương Đông, hình cô thiếu nữ nổi bật cái vóc dáng mảnh mai, chiếc áo cô mặc trên người thấp thoáng một tà áo dài duyên dáng thướt tha của các cô thiếu nữ Việt Nam. Hắn kết luận : tác giả bức tranh ấy ắt hẳn phải là người Việt Nam. Chỉ có hắn mới nhận ra điều “ bí ẩn ” ấy từ sự giao cảm “ thầm kín ”, chính hắn cũng không thể giải thích được.

 

Hắn mơ màng nhìn thấy người thiếu nữ đang nhìn hắn mỉm cười ( nụ cười che giấu nỗi tan nát của một thân phận bất hạnh ). Hắn đã từng được nghe kể những câu chuyện về cuộc đời của những cô thiếu nữ Việt bất hạnh gặp nạn trên đường vượt biên qua báo chí, sách vở và thân phận bi thương của những con người sau cuộc chiến đi tìm hơi thở tự do. Cái giá mà họ phải trả bằng sự lường gạt, lòng tham lam của những kẻ bất lương, tướt đoạt hết tài sản, đẩy họ vào con đường cùng của sự khốn khổ cùng cực, tù tội. Hắn đã từng chứng kiến tận mắt những xác người nằm la liệt bên bờ sông sau khi chiếc ghe chở người vượt biển bị đắm chìm sau một cuộc xô xát tranh giành giữa những lằn đạn bắn xối xả từ bên kia bờ sông. Hiểm nguy không ngăn cản bước chân người tiếp tục ra đi, và hắn đã may mắn đến được bến bờ tự do.

     

Hắn bước ra khỏi phòng tranh, đi về hướng thư viện, vào đó để tìm cho riêng mình phút giây tĩnh lặng. Thư viện kê đầy những kệ sách dài và cao, chứa đầy một rừng sách in ấn đẹp đẽ trang nhã. Hắn ngồi ở hàng ghế được ngăn cách bằng những kệ sách dọc sát bờ tường, xem tập tranh Van Gogh giữa cái không gian yên lặng ấm cúng mà lòng hắn vẫn thấy buồn  cô đơn, trống vắng. Cái cảm giác ấy vẫn còn đang kéo dài trong suốt nhiều năm như một vết thương chưa thành sẹo. Vết thương đã được cứu chửa bằng lòng nhân ái của đất nước tự do, bằng sự hy sinh của những con người đã nằm xuống vĩnh viễn để cho những kẻ như hắn được sống và nhìn thấy cái bao la rộng lớn của trời đất nơi xứ sở đang cưu mang hắn. 

 

Ngày hắn bước xuống phi trường quốc tế San Fancisco là hắn biết mình đã đặt chân xuống mảnh đất của “ vùng trời mơ ước”, nơi mà hắn có thể sống chính hơi thở và con tim của mình. Hình ảnh mà hắn đã tưởng tượng nước Mỹ về sự phồn thịnh, giàu có đang hiển hiện trước mắt hắn. Đất nước Mỹ rộng lớn với hệ thống xa lộ chằn chịt đông nghịt xe cộ chạy vun vút làm hắn choáng ngộp; hai bên đường là những building, dinh thự, khu thương mại, công xưởng rộng lớn làm hắn bị cuốn hút say mê nhìn ngắm cảnh vật xung quanh mà lòng đầy thán phục. Hắn không hề hay biết mình đang đặt chân đến vùng đất được mệnh danh là “ Silicon Valley ”. Vùng đất hứa cho những ai muốn mưu tìm cuộc sống tương lai đầy hứa hẹn. Hắn chỉ là một kẻ xa lạ, những gì hắn đang nhìn thấy chỉ là cái vẻ hào nhoáng của một cuộc sống văn minh vật chất trên một đất nước phát triển phồn thịnh. Dù sao hắn cũng đã đi đến đích cuối cùng, nhưng là sự khởi đầu của một điểm móc cho bước đường rong ruổi trên đất lạ quê người…

 

Hắn nhìn những bức tranh in trong tập sách Van Gogh, nét vẽ sắc bén như lưỡi gươm chém trên thân thân thể già nua cằn cỗi, hằn lên những vết sẹo cào cấu của một tâm hồn bi đát đầy phẫn nộ. Ông đã kết liễu đời mình bằng một phát súng. Hắn nghĩ đến thảm trạng bi kịch trong quá khứ vẫn còn ám ảnh trong cuộc sống. Hắn liên tưởng đến những nạn nhân trong chiến tranh Việt Nam : Những góa phụ, những đứa trẻ mồ côi sống lây lất nghèo khổ, những binh lính tàn phế sống lê lết trong tăm tối tuyệt vọng. Tù cải tạo đói khát trong rừng sâu núi thẳm. Cuộc chiến đã chấm dứt, nhưng nỗi buồn quá khứ vẫn âm ĩ kéo dài trong tâm hồn của những kẻ còn ở lại, và những người ra đi mang theo quê hương một trời nhung nhớ bên kia bờ đại dương.  

 

Có bóng người đi qua khiến hắn chợt giật mình tỉnh giấc cơn muộn phiền. Hắn gấp sách đứng dậy, đặt cuốn sách lên kệ rồi bước ra ngoài thư viện. Hắn đi dọc theo hành làng lớp học, chiếc bóng hắn hắt xuống lối đi chập chờn như bóng ma; một mình cô đơn lặng lẽ bước đi giữa một buổi trưa các lớp học đã đóng kín cửa. Một mình. Chung quanh không có ai, rất buồn nhưng không rùng rợn ghê sợ vì ngôi trường là một kiến trúc hiện đại nằm trên một ngọn đồi nhìn xuống thung lũng Silicon Valley; quang cảnh yên tĩnh, quang đãng, tươi mát khiến hắn an tâm. Hắn đi đến cuối dãy hành lang lớp học, bước xuống bậc thềm trên một lối đi dẫn ra bãi đậu xe, phía trái con đường sau tòa nhà là ngõ cụt dẫn lên một ngọn đồi. Thay vì băng qua bãi đậu xe đến trạm xe bus như thường lệ, hắn đi ngược lên trên ngọn đồi. 

 

Đứng trên lưng chừng sườn đồi thoai thoải giữa đất trời mênh mông, bất thần hắn cảm nhận một cảm giác lơ lững chênh vênh như được nhấc bổng lên cao nhìn xuống lũng sâu. Toàn cảnh vùng Silicon Valley nằm trong tầm mắt hắn là một không gian rộng lớn bao bọc xung quanh là hai rặng núi Mount Hamilton và Santa Cruz Mountains xanh ngắt trời mây.Thành phố San Jose nằm phía dưới thung lũng, nhà cửa, dinh thự, công xưởng nằm san sát, ẩn núp trong những lùm cây xanh ngắt, những bãi cỏ công viên, sân vườn trải dài dệt thành một nền xanh bao la ngút ngàn. Hắn nhìn xuống khuôn viên trường chiếm một diện tích lớn nằm dựa lưng trên sườn đồi cao, những lối đi rộng dẫn đến các phòng ốc, lớp học, thư viện, nhà sách trông rất tươm tất sạch sẽ, có trồng cây cảnh dọc theo lối đi. Xa xa hai bãi đầu xe chiếm hết một diện tích rộng nối dài với một công viên nhỏ có hồ nước hình hạt đậu, cách đồi cỏ và hàng cây xanh là sân vận động tennis, bóng chuyền, bóng chầy nằm phơi mình trong ánh nắng chiều đang buông xuống phủ lên không gian một màu xanh long lanh xanh mát. Ngôi trường được bao quanh bằng những dải đất rộng nối dài lên tận đồi cao của những trang trại trồng nho, vườn cây cherry vùng Evergreen Hill. Màu xanh ngút ngàn như trải trong lòng hắn một cảm giác bình yên nhẹ nhàng, thư thái. Hắn mơ màng thả hồn lắng đọng hòa vào nhịp chuyển động nhẹ nhàng của thiên nhiên đang đổi thay từng giây từng phút…

 

Đứng giữa trời đất bơ vơ ở một xứ lạ, hắn nhớ quê hương mình quá đổi. Quê hương hắn nghèo sau hai mươi năm chiến tranh tàn phá trở nên kiệt quệ. Đoàn tàu thống nhất nối liền Nam Bắc chở theo những con người lam lũ, cùng khổ sau những mất mát chia lìa đang nhen nhóm trong lòng niềm hy vọng cho một cuộc sống tự do, ấm no hạnh phúc. Hắn cũng muốn điều ấy như mọi người mong muốn, nhưng niềm hy vọng như một que diêm tàn lụi phủ chụp màn đêm bao phủ chung quanh cuộc đời vẫn còn những gian nan , khốn khổ. Hắn nhớ có một lần hắn bắt gặp một anh bộ đội hy sinh một phần thân thể với đôi nạn gỗ, khập khiễng bước xuống một sân ga, mặt mày nhễ nhại mồ hôi trong cơn đói lả, mặt tái xanh, tay chân run rẩy chỉ vì anh vừa mới phát hiện chiếc ba lô của mình vừa bị đánh cắp. Lúc ấy trong lòng hắn dấy lên một lòng thương cảm chỉ vì nghĩ rằng anh bộ đội kia chẳng có gì quí giá ngoài vài bộ áo quần cũ mèm, và cũng có thể  trong ấy có một vài món đồ “ quý giá ” mà anh đã “ gói gém ”làm quà để mang về Bắc tặng cho vợ con trong chuyến xuôi Nam. Nhìn nét mặt lo lắng, sợ hãi của anh bộ đội khiến hắn không thể tin rằng người đang đứng trước mặt hắn là một chiến sĩ anh dũng đã từng cầm súng chiến đấu đánh “ quân thù ”  không sợ chết, vậy mà anh đã phải rung sợ chỉ vì mất đi cái  “ tài sản quý giá ” anh mang theo trên chiến tàu xuôi Nam ngược Bắc. Hắn không biết cách nào để giúp đở kẻ bị nạn vì hắn cũng nghèo như anh. Có biết bao thân phận ngặt nghèo khốn khổ hơn anh như những người lính thương phế binh VNCH sống lây lất không được đối xử bình đẳng chỉ vì bóng đen quá khứ. Và những sĩ quan quân lực VNCH đang bị giam cầm trong ngục tù cộng sản; có người tìm đường vượt thoát nhưng đã bị bắt và bị xử bắn một cách tàn bạo. Sự hận thù của kẻ chiến thắng vẫn còn là một nỗi ám ảnh kinh hoàng trong tâm tưởng của kẻ chiến bại. Tất cả mọi người đều khao khát được sống tự do sau ngày êm tiếng súng, thế nhưng lớp người trẻ như hắn cũng phải lên đường tay cầm súng tiếp tục cuộc chiến đấu trên chiến trường Campuchia. Hắn đã bỏ trốn vì hắn không muốn chết một cách vô nghĩa và hắn đã ra đi. 

  

Hắn đã may mắn trốn thoát đến được xứ sở tự do, giàu có để thực hiện những ước mơ như bao nhiêu người Việt đang sinh sống trên đất Mỹ. Có đôi lúc hắn buồn vì cảm giác đơn độc một mình không có người thân bên cạnh: nửa đêm thức giấc bất chợt thấy dòng lệ lăn dài trên đôi má xanh xao. Hắn khóc thật. Giấc mơ hãi hùng rượt đuổi hắn, như một con vật bé nhỏ yếu đuối đang bị một con mảnh thú săn mồi rượt bắt. Hắn đã vượt thoát như một phép lạ. Nhưng dưới chân hắn đã có hàng hàng lớp lớp người đã ngã gục để lót đường cho hắn đi qua. Như cây cầu xây bằng xương máu của người đồng loại bắt qua bờ đại dương, cho hàng triệu người đã đến được bến bờ tự do…

Nhiều lần hắn ngồi trước cái giá vẽ, cố tập trung ý tưởng nhìn vào khoảng trống trên mặt phẳng của chiếc canvas trước mặt. Đôi tay hắn cảm thấy bất lực, cây cọ lạnh lùng biến thành cây gỗ cứng ngắt, niềm đam mê không khỏa lấp được nỗi ám ảnh mơ hồ hư thực trong cuộc sống đấy rẫy sự nghịch lý. Hắn tiếp tục tìm kiếm trong cái khoảng trống trắng ngần trong cái không gian bàng bạc kia chưa định hình rõ rệt những gì hắn đang tưởng tượng. Hắn vẫn còn đang trong trạng thái mơ màng như người chưa hoàn hồn sau một cơn say.

 

Hắn nhìn xuống ngọn đồi, trước mắt hắn là bức tranh thiên nhiên trong sáng và an lành. Hắn muốn hòa mình vào sự tĩnh lặng ấy để sự ưu tư phiền muộn lắng đọng chìm vào quên lãng. Đang mơ màng bất chợt hắn nhìn thấy từ dưới chân đồi một bóng người xuất hiện. Chiếc bóng bước nhanh thoan thoát trên lối đi ngoằn ngoèo dẫn ra công viên sau hồ nước là một thiếu nữ tóc dài bay phất phới thoáng hiện sau lùm cây chạy ngược lên đồi cỏ. Hai cánh tay sãi dài dang rộng như cánh bướm đang thực hiện một vũ điệu của một loài chim. Hắn mỉm cười trước cảnh tượng ngộ nghĩnh đẹp một cách lạ lùng như một đoạn phim quay chậm. Hắn nhanh chân bước xuống chân đồi đi đến chỗ người thiếu nữ đang đứng .

 

Xuống tới chân đồi đứng trên chiếc cầu bắt qua bờ hồ nhìn qua đồi cỏ, người thiếu nữ đột nhiên biến mất. Hắn đảo mắt nhìn quanh, không thấy một bóng người, khung cảnh hoàn toàn yên lặng. Hắn đứng trên cầu nhìn xuống hồ, những bóng hình phản chiếu lung linh mờ ảo từ bầu trời và những hàng cây bụi cỏ tạo ra một phong cảnh tuyệt đẹp như một bức tranh. Đàn vịt trời bay qua đỉnh đồi, cất tiếng kêu quang quác bất thần đáp xuống mặt hồ, nước bắn tung tóe, đàn vịt nhởn nhơ đùa giỡn, khuấy động mặt nước tạo ra những lượn sóng lăn tăn lan rộng ra bờ hồ. Một luồng gió lạnh thổi qua, hàng cây nghiêng ngả, chao đảo, lao xao kéo theo những cành lá phong trĩu xuống, lá rơi tung tóe trên mặt hồ. 

 

Hắn bước nhanh qua cầu, đi dọc theo con đường uốn khúc dẫn qua một lùm cây rậm. Hắn dừng lại, mắt nhìn thấy cái thanh gỗ màu nâu vàng của chiếc giá vẽ bằng gỗ loáng thoáng ẩn hiện sau tán lá phủ che khuất không nhình thấy rõ. Hắn bước nhanh dọc theo bụi cây tìm lối vào.Từ xa hắn đã nhìn thấy cái giá vẽ dựng sát góc dưới tàn cây cổ thụ, nó đứng một mình lẻ loi, đơn độc, gieo vào lòng hắn một cảm xúc nhẹ nhàng như tình cờ bắt gặp một ký ức xa xưa. Hắn tới gần đứng sau cái giá vẽ, đôi mắt hắn mở lớn nhìn chằm chặp bức tranh đang vẽ dở dang. Bức tranh làm hắn sững sờ, ngạc nhiên liên tưởng đến bức tranh người thiếu nữ treo trong phòng triển lãm mà hắn đã nhìn thấy trước đó. Màu sơn loang loáng, đường nét mềm mại uyển chuyển giống hệt nhau, chỉ có riêng một người vẽ ra nó, không nhầm lẫn với ai khác được. Bức tranh chưa hoàn tất, màu nền mang sắc nâu sậm trầm mặc, buồn bã, không ăn nhập gì với cảnh sắc trước mặt. Hắn chưa hiểu rõ hình tượng của bức tranh khi nó hình thành; màu sắc trong tranh như đang cuốn hút ánh nhìn của hắn một nỗi buồn miên man bất tận.

 

Có tiếng động sau lưng, hắn giật mình quay lại, bất thần nhìn thấy người thiếu nữ mặc chiếc váy dài màu trắng với chiếc áo len màu tím nhạt khoát trên dáng người mảnh mai duyên dáng. Người thiếu nữ thản nhiên, lạnh lùng đưa mắt nhìn bâng quơ không hề để ý đến sự có mặt của hắn dù khoảng cách giữa hắn và người thiếu nữ rất gần. Hắn lúng túng nhìn người thiếu nữ vẻ mặt vô cảm, lạnh nhạt, và cảm nhận sự hiện hữu của mình là một điều vô lý. Người thiếu nữ giương đôi mắt to chăm chú nhìn như đang thôi miên cái điểm tựa trên khung tranh, hình như cô ta đang tìm kiếm một điều gì đó rất mơ hồ, một cảm giác giao cảm rung động của người họa sĩ đang hòa những dòng suy tư của mình trên khung vải. Hay cô ta đang suy tư một điều gì khác ? 

Người thiếu nữ đứng bất động như pho tượng, những đường cong thân thể lồ lộ hiện lên sau lớp vải trắng bị một luồng ánh sáng mặt trời chiếu xuyên qua người cô. Hắn định thần cố nhớ lại bức tranh trong phòng triển lãm mà hắn đã nhìn thấy, hình tượng người thiếu nữ trong tranh như đang bước ra đứng trước mặt hắn. Vóc dáng, nét mặt, đôi mắt buồn kia vẫn còn ám ảnh hắn về thân phận bất hạnh của những người thiếu nữ Việt trên những con thuyền vượt biển trôi dạt trên biển Đông bị hải tặc bắt cóc, hảm hiếp. 

 

Người thiếu nữ đứng yên một hồi lâu, bất chợt hai bàn tay bắt đầu run rẩy. Cây cọ lông nhúng sơn cầm trên tay dí dí trên mặt canvas một cách lấp lững hờ hững. Mảng màu đỏ chói như giọt máu rỉ ra từ da thịt trên mặt phẳng của bức tranh chưa định hình. Nó im lặng nhưng có một dòng xoáy cực sâu trong tim khiến hắn choáng váng. Những cảm xúc nhẹ nhàng khi hắn vừa đến đã biến mất, trước mặt hắn hoàn toàn là một cảnh tượng kỳ quái khó hiểu. Người thiếu nữ đến đây không phải làm một công việc đam mê nghệ thuật như lúc đầu hắn đã tưởng. Bàn tay cô cứng đơ bất thần run lên khe khẽ, cây cọ chơi vơi rơi xuống đất. 

 

Người thiếu nữ nghiêng người choáng váng, tưởng chừng như đang té nhào xuống đất. Hắn định chạy tới nói một điều gì đó nhưng bất thần người thiếu nữ quay mặt lại nhìn hắn bằng đôi mắt hoang dại, trắng dã toát lên vẻ sợ hãi. Đôi mắt mở lớn trừng trừng nhìn hắn như nhìn một con thú hung dữ đang chuẩn bị vươn vai phóng tới vồ lấy con mồi trước mặt. Hắn biết có một điều bất ổn đang xảy ra. Hắn định trấn an bằng một cử chỉ thân thiện nhưng người thiếu nữ giơ hai cánh tay ra dấu hắn thôi đừng bước tới. Chưa kịp phản ứng bỗng người thiếu nữ thét lên giơ hai bàn tay che mặt thụt lùi về phía sau va phải cái giá vẽ làm bức tranh rơi xuống đất. Người thiếu nữ bất thần bỏ chạy tưởng như có người đang rượt đuổi mình phía sau lưng. Cái ảo giác rùng rợn tái hiện trước mắt cô những khuôn mặt “ đầu trâu mặt ngựa hung tợn, khát máu, dâm đản, tay cầm vũ khí xông lên chiếc thuyền chở hàng chục người tỵ nạn vượt biển trôi dạt trên vịnh Thái Lan. Những tiếng khóc, tiếng la thét kinh hoàng, tiếng cầu kinh tạo ra một chuỗi âm thanh rùng rợn đã in sâu trong tiềm thức của người thiếu nữ như khúc phim chiếu chậm đang diễn ra trước mặt cô. Bọn hải tặc mặt mày hung tợn lôi kéo những người con gái nhốt vào phòng cabine, lột hết áo quần, hãm hiếp dã man. Những người phản đối bị chúng đâm chết, ném xác xuống biển, máu nhuộm đỏ trên mặt sóng nhấp nhô rờn rợn xác người. Con thuyền rách nát tả tơi như một con vật vấy máu đầy thương tích sau một cuộc hỗn chiến với bầy thú dữ, nó là chứng tích của tội ác trôi dạt trên bờ vịnh Thái Lan.

 

Hắn thẫn thờ dõi mắt nhìn theo người thiếu nữ tiếp tục chạy qua đồi cỏ, và không hề biết chuyện gì đang xảy ra cho cô ta. Hắn có cảm tưởng chính hắn đã làm cho cô ấy hoảng sợ khi đôi mắt của cô ta nhìn hắn đăm đăm đầy vẻ kinh hãi, ghê tởm. Vì sao ? Hắn không hiểu. Hắn không hề cảm nhận được dưới thảm cỏ xanh mướt kia mà đôi chân nhỏ bé trắng muốt của người con gái đang giẫm lên là những dòng máu tuôn chảy từ tiềm thức không bình yên, từ những đớn đau tận đáy con tim. Hắn đứng ngẩn ngơ đưa mắt nhìn theo bóng dáng xinh đẹp của người thiếu nữ trong chiếc váy trắng nổi bậc trên nền cỏ xanh. Hắn bước tới đi qua khỏi hàng cây rồi dừng lại đưa mắt nhìn qua đồi cỏ. Người thiếu đi xuống con đường thấp tiến sát bên hàng cây phía xa. Bỗng hắn nghe có tiếng người nói vọng tới từ sau lưng :

 

- Chắc anh đã làm cho cô ta hoảng sợ.

 

Hắn quay mặt lại nhìn thấy người đàn bà trên tay cầm một cuốn sách đang đọc. Bà gấp sách bỏ vào trong túi xách tay rồi đứng dậy tiến đến chỗ hắn đang đứng :

 

- Anh là người Việt Nam ?

 

Hắn gật đầu nhìn người đàn bà định nói một điều gì đó để giải thích sự tình cờ có mặt của hắn ở đây, nhưng bà ta tiếp tục nói:

 

  • Tội nghiệp cho Thanh Hồng. Tâm thần cô ấy không bình thường, lúc vui lúc buồn không đoán trước được. Cô ấy sống ở đây một mình…nghe nói gia đình cô ấy đã chết hết sau chuyến vượt biển vài năm trước …tàu bị cướp…

 

Người đàn bà ngừng nói nhìn hắn với dáng vẻ đăm chiêu, dường như bà không muốn nói rõ câu chuyện buồn của người khác lẽ ra bà không được tiết lộ cho bất kỳ một người nào khác biết về cầu chuyện đời tư của người thiếu nữ .

 

Người đàn ba tự giới thiệu :

 

  • Tôi là nhân viên sở xã hội. Thanh Hồng là thân chủ của tôi, nhưng tôi xem cô ấy như em gái đáng yêu của tôi. Có lẽ anh ngạc nhiên khi gặp cô ấy lần đầu và không biết chuyện gì xảy ra phải không ? Cô ấy rất thích đến đây; thiên nhiên xanh mát làm cho cô ấy cảm nhận được sự thanh thản trong lòng.

 

Hắn nhìn người đàn bà :

 

- Thưa bà. Cô ấy là họa sĩ ?

 

Người đàn bà lắc đầu :

 

  • Không phải. Nhưng cô ấy rất thích màu sắc. Chúng tôi muốn đưa cô ấy vào đây để cô ấy thích nghi với mọi sinh hoạt bình thường. Thấy hội họa là môn học nhẹ nhàng thích hợp với cô ấy hơn.

 

Hắn gật đầu tỏ vẻ hiểu biết câu chuyện người nhân viên xã hội vừa tiết lộ. Bây giờ hắn đã hiểu tại sao Thanh Hồng thích thả hồn mình hòa nhập vào thiên nhiên xanh mát của vùng đồi Evergreen nơi cô đang cố gắng tìm lại một cuộc sống yên bình trên đất nước tự do đang cưu mang mình. Hắn hỏi người đàn bà :

 

 - Bức tranh kia có phải do chính tay Thanh Hồng vẽ ?

 

Người đàn bà buồn rầu lắc đầu:

 

  • Không phải. Bức tranh ấy là do một người bạn học vẽ…nghe nói họ rất thân nhau... Thanh Hồng tìm được niềm vui hạnh phúc tưởng sẽ ở với mình mãi mãi, nhưng một tai nạn lưu thông đã mang người bạn ra đi vĩnh viễn…Tội nghiệp cho cô ấy.

 

Người đàn bà ngừng nói khi bà nhìn thấy từ dưới bãi đậu xe một chiếc xe cảnh sát tuần tra xuất hiện. Một viên cảnh sát cao lớn bước xuống xe tiến về chỗ hai người đang đứng. Người đàn bà đưa tay vẫy chào viên cảnh sát, bà đon đả bước tới, hai người đứng giữa đường đi, cười nói thân thiện như đã quen thân từ trước, trao đổi những mẩu chuyện đã và đang xảy ra, những câu chuyện buồn vui của cuộc sống thường nhật trên đất Mỹ.

 

Hắn đón chuyến xe bus cuối cùng rời khỏi trường, trong lúc nhìn xuyên qua cửa xe, hắn vẫn còn nhìn thấy chiếc bóng người thiếu nữ trong tranh mà hắn đã nhìn thấy trong phòng triển lãm đang đứng yên bất động. Những thắc mắc ngờ vực về bức tranh đã được giải đáp. Những gì hắn nghĩ về thảm trạng của cuộc vượt thoát tìm tự do của hằng triệu người đã phải trả bằng giá của máu và nước mắt, đã làm cho hắn rúng động con tim. Hình ảnh trong tranh là bóng hình có thật, bằng xương thịt của người con gái như một chứng tích đau buồn khắc sâu trong lòng của những người đã bỏ quê hương ra đi…

 

Hắn mỏi mệt ngả lưng dựa vào chiếc ghế nệm êm ấm của chiếc xe bus cuối cùng đang từ từ lăn bánh. Chiếc xe bus to cồng kềnh lắc lư nghiêng ngả chạy chậm chạp, thỉnh thoảng dừng lại đón khách ở trạm xe bên đường. Hắn nhắm mắt tìm trong hai cái hố mắt sâu thẳm đen ngòm kia một sự yên lặng, nhưng càng chăm chú hắn lại càng thấy mình như bị cuốn hút lún sâu vào cái ý tưởng bi quan đầy ắp những phiền muộn suy tư. Hình ảnh người con gái xinh đẹp chạy trên đồi cỏ bất chợt hiện lên trên tấm canvas mộng ảo có màu nền màu xanh thiên thanh, xua tan đi cái sắc đen ảm đạm trong ý nghĩ buồn phiền của hắn. Màu sắc xanh xanh của bầu trời bồng bềnh hòa cùng những cụm mây trắng quyện vào thân thể mong manh mềm yếu của người con gái đang dang hai cánh tay ôm lấy những cụm hoa màu sắc vàng rực rỡ, tỏa sáng vòng hào quang chiếu xuống từ trên cao. Hắn mơ màng thiếp đi trong giấc ngủ chập chờn, và hình như có tiếng người nói vọng lại từ cõi xa xăm nào : Em ơi ! Hãy nguyện cầu, tình yêu mãi mãi sẽ đến với em. Bên ngoài màn đêm đang buông xuống, thành phố đã lên đèn.

 

 Minh Lâm

 (Viết 2010 chỉnh sửa 6- 2019)

 

                                     

 

          

 

  

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 1086)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
11 Tháng Bảy 20265:19 CH(Xem: 1260)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
11 Tháng Bảy 20262:04 CH(Xem: 1151)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1459)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
08 Tháng Bảy 20265:41 CH(Xem: 1352)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1524)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1921)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 2000)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20264:45 CH(Xem: 1810)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1797)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10491)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17318)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16386)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16849)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1522)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1999)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1970)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2755)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 1254)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 1351)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1809)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1551)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 1083)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1456)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1919)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1796)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 1149)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3268)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3266)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3819)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2366)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14010)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30122)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36254)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11740)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13136)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3040)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 4360)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 4304)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4799)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 5377)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8463)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7865)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10781)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.