- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

PETRUS KEY TRƯƠNG VĨNH KÝ & CUỘC XÂM LĂNG CỦA PHÁP

24 Tháng Mười 20199:21 CH(Xem: 47405)

 

TRUONG VINH KY

Trương Vĩnh Ký - 1837-1898



Petrus Key Trương Vĩnh Ký & Cuộc Xâm Lăng Của Pháp

Vũ Ngự Chiêu

PhD, JD



PETRUS KEY TRƯƠNG VĨNH KÝ (1837-1898) & CUỘC XÂM LĂNG CỦA PHÁP

Hợp Lưu

2019

 

 

 

 

Nội Dung

 

Dẫn Nhập … 9

Chương I: Petrus Key Là Ai?... 25

Chương II: Thuở Thiếu Thời Của Petrus Key… 67

Chương III: Pháp Xâm Lăng Đại Nam …135

Chương IV: Pháp Chiếm Nam Kỳ, …193

Chương V: Tham Chính Trong Tân Trào, …251

Thông Ngôn cho Tây

Huấn Luyện Thông Ngôn

Trong Toán Đi Pháp và Es-pa-nia của Soái Phủ Sài Gòn, 1863-1864

Làm Báo, 1865

Huấn Luyện Công Chức Tập Sự Thuộc Địa [Collège des Stagiaires], 1874-1876

Chương VI: Cổ Tích An-nam-mít Bằng Tiếng Pha Lang Sa (1875-1877)…321

Phụ Bản Tài Liệu Tập I … 368

 

Tập II

Chương VII: Chuyến Đi Bắc Kỳ năm 1876 [Ất Hợi]… 9

Chương VIII: Pháp Chiếm Bắc Kỳ-An Nam… 105

Chương IX: Làm Quan Ở Huế, 4-9/1886…173

Chương X: Ảo Mộng Trương Lương Của Tây?...217

 

Phụ Bản Tài Liệu II… 272

Thư Mục Chọn Lọc…343

 

DẪN NHẬP

Hạnh phúc biết bao cho một người không có quá khứ, hay một dân tộc không có lịch sử—nhiều người quan niệm như thế. Nhưng con người, mỗi người trong chúng ta, đều có quá khứ, vui, buồn hay buồn vui trộn lẫn. Một dân tộc luôn luôn có lịch sử, vinh quang, tủi buồn, hay vinh nhục đủ mùi vị. Quá khứ luôn luôn là tấm gương cho mỗi người tự sửa mình, rút cho mình một kinh nghiệm sống, chuẩn bị cải thiện tương lai. Lịch sử một quốc gia, nếu được ghi chép trung thực, là kho tàng kinh nghiệm cho việc ích quốc, lợi dân, và phát huy tình nhân loại cho một thế giới đáng sống hơn.

Việt Nam không phải là một đại cường, nhưng cũng chẳng là một tiểu quốc. Với lãnh thổ trên 300,000 cây số vuông, cùng ý chí và quyết tâm giữ vững nền độc lập của trên 90 triệu quốc dân, Việt Nam đã sinh tồn tới thế kỷ XXI, tự thiết lập vị thế riêng biệt không chỉ ở vùng châu Á-Thái Bình Dương, mà còn giương danh khắp thế giới. Tuy nhiên, người chép sử—đại đa số là sử quan hay sử công của chế độ, mà chưa phải sử gia, với huấn luyện chuyên biệt—thường chỉ nỗ lực uốn nắn các sử kiện vào khuôn thước quốc thống và chính thống của các chế độ cầm quyền, như thứ tài liệu huấn luyện giai tầng cai trị và trung gian. Sử quan và sử công thường im lặng, hoặc tảng lờ những dữ kiện đi ngược lại hoặc không phục vụ mục tiêu chính trị giai đoạn của chế độ. Và, nếu cần, ngạo mạn đánh giá các tác nhân lịch sử như anh hùng hay gian ngụy theo đúng luật “được làm vua, thua làm giặc.” Sử văn còn bị biến thành một thứ tài liệu tuyên truyền, đủ màu sắc ý thức hệ và tôn giáo. Sự thực sử học bị phủ khuất dần. Hậu thế nhìn vào quá khứ chỉ thấy những rừng rậm nhá nhem đủ loại bóng tối, cây cổ thụ bị giây leo chằng chịt vây phủ.

Bốn mươi bốn năm sau ngày Sài Gòn thất thủ, chẳng hạn, còn bao người biết rằng hình ảnh chiếc xe tăng Bắc quân húc vào cánh cổng Dinh Độc Lập sáng 30/4/1975 (đang được trưng bày tại nội viên dinh Thống Nhất hiện nay) là kết quả của một màn đạo diễn phim tuyên truyền? (Một sử gia Việt Nam, xin tạm dấu tên, đã cho tác giả biết chi tiết này) Có soạn giả kết thúc biên khảo về cái chết của anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm (28/7/1897-2/11/1963) bằng cách kêu gọi độc giả hô to “Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng thống, Ngô Tổng thống, Ngô Tổng thống muôn năm;” tảng lờ việc các Tướng tá Việt Nam Cộng Hòa như Trần Văn Đôn, Trần Thiện Khiêm, Lê Văn Kim, Tôn Thất Đính, Dương Văn Minh, trước hành động bội phản của họ Ngô, và vì đã chán ngấy lời xướng tụng “muôn năm,” quyết định sửa lại thành “muốn nằm [trong lòng Thiết vận xa]” sáng 2/11/1963. Nói chi những thứ gọi là “sứ mệnh khai hóa” hay “gánh nặng của người da trắng” trong thế kỷ XIX-XX—cùng giai tầng trung gian bản xứ—được tô lục, chuốt hồng trong văn sử Tây phương.

Và, xa hơn nữa, là khối cổ sử của người Việt và người Hoa, đã và đang bị xách nhiễu bởi mặc cảm tự tôn hoặc tự ti, cùng những vách đá dựng đứng, tối tăm lạnh lẽo của những nhà tù ý thức hệ dân tộc chủ nghĩa và “thánh giáo” ngoại nhập—với những hoang tưởng về “rồng vàng,” những giấc mơ điềm mộng về danh vọng tương lai, hay những lời sỉ nhục nặng nề như giống người “lúc đứng hai ngón chân cái chạm vào nhau,” giống “tinh tinh” ở đất Cửu Chân, và chỗ tận cùng của văn hóa, nơi “mặt trời mọc ở phương Nam.”

Song song và dưới ảnh hưởng của các kỹ thuật bẻ cong hoặc nhất thống lịch sử trên là vấn đề tư liệu, hoặc thiếu sử liệu khả tín. Cho tới đầu thế kỷ XXI, chẳng hạn, vấn đề tư liệu còn nổi cộm. Không chỉ giới hạn trong giai đoạn tiền sử, cổ sử mà ngay cả giai đoạn lập quốc vào thế kỷ IX-X, hay giai đoạn phong kiến Trung cổ. Biết bao giấy mực đã hao tốn vì những chữ “Lạc” với “Hùng” trong nỗ lực đi tìm nguồn gốc dân tộc và thời kỳ dựng nước—những nỗ lực vô vọng, hoang phí, trong những cuộc tranh luận “sẩm sờ voi.” Hay, hình ảnh một xã hội Đại Cồ Việt ở thời khai sinh như một quốc gia độc lập, tự chủ vào thế kỷ thứ IX và thứ X. Hành động mọi rợ văn hóa [cultural barbarism] của nhà Minh khi tịch thu, phá hủy các tư liệu của Đại Việt trong giai đoạn 1407-1427 khiến vấn đề tư liệu sử học càng thêm nổi cộm, đưa đến những truyền thuyết “100 trứng, trăm con” trong các bộ quốc sử “định hướng Khổng Giáo.”

Thời kỳ cận đại và hiện đại cũng chẳng đáng khích lệ trước những tội ác văn hóa quen thuộc của giới chức cầm quyền—như tịch thu, thiêu đốt văn hóa phẩm của phe bại trận, gạn lọc và thiêu hủy một số tư liệu văn khố, phổ biến những ngụy thư cùng tin tức truyền khẩu (kiểu, Việt Nam có bốn anh hùng, Tường gian, Viêm láo, Khiêm khùng, Thuyết ngu; hay Petrus Key, một chủng sinh thày kẻ giảng tại Collège de Penang bỏ tu đi làm thông ngôn cho quân viễn chinh Pháp năm 1858-1859, là một thiên tài, thông thạo 26 thứ tiếng, kể cả những ngôn ngữ chưa bao giờ được huấn luyện, và cũng chẳng có người bản xứ nào giúp học nhái theo). Bởi thế, mới chỉ có những nỗ lực đơn lẻ, cá nhân hoặc một nhóm các chuyên viên, bỏ công sức đời mình tìm đọc các kho tài liệu văn khố rải rác năm châu—trong sự hờ hững của đám đông, đố kị và thù nghịch của một số thế lực và chính quyền.

Đó là chưa kể những trò trộm cắp tim óc của những người nghiên cứu chuyên nghiệp để giải đáp “bí ẩn lịch sử” với giọng điệu ngụy biện của những khối óc tù túng trong sự ngu dốt sặc sỡ và điêu ngoa hào nhoáng, thiếu sự lương thiện trí thức tối thiểu. Trường hợp điển hình là tin đồn “Nguyễn Thế Anh khám phá ra tài liệu Nguyễn Sinh Côn, dưới tên giả Nguyễn Tất Thành, xin nhập học trường Thuộc Địa Pháp;”[1] hay lá thư ra mắt “ông chủ lớn Pha Lang Sa Bernard de Jauréguiberry” do Petrus Key hay “chú Ký” nhờ các giáo sĩ Pháp trình nộp soái phủ Sài Gòn năm 1859—và bị de Jauréguiberry đánh giá thấp trong công điện báo cáo lên Rigault de Genouilly—không phải do đương sự vắt tim, nặn óc viết ra.

Các kho tài liệu văn khố thế giới liên quan đến Việt Nam cũng chưa hoàn toàn mở rộng. Ngoài ra, còn hạn chế về phương tiện du khảo cùng qui tắc của một số văn khố quốc gia. Văn khố Đảng Cộng Sản Trung Hoa và Liên Sô Nga là thí dụ cụ thể. Tại Việt Nam, chỉ một số nhà nghiên cứu ngoại quốc được phép làm việc tại ba Trung tâm Lưu trữ Quốc Gia ở Hà Nội và Sài Gòn. Thủ tục xin tham khảo hay làm phóng ảnh cũng rất khe khắt và tốn thời gian.

Nhờ được ba học bổng Fulbright và tài trợ khác nghiên cứu tại các văn khố và thư viện Pháp cùng Việt Nam, thu thập thêm sử liệu mới, phỏng vấn nhiều người từ Bắc chí Nam, cũng như tham quan các địa danh miền Bắc mà tác giả chỉ giữ được những ấn tượng thiếu niên rất mơ hồ—từ năm 2010 chúng tôi tu chỉnh lại một số chi tiết kỹ thuật trong các ấn bản 1996-2002 bộ Thiên Mệnh Đại Pháp: Các Vua Cuối Nhà Nguyễn, 1884-1945, đặc biệt là giai đoạn trước 1883, và thập niên 1930, với hy vọng tái dựng một giai đoạn lịch sử nhá nhem bóng tối của nhiều hơn một hệ thống tuyên truyền gian trá, với mục đích ngu dân, cho những mưu toan hiểm độc nào đó. Ngoài ra, chúng tôi cũng hiệu đính luận án 1984 tại Đại học Wisconsin-Madison, dưới sự hướng dẫn của cố Giảng sư John R W Smail, “Political and Social Change in Viet Nam Between 1939 and 1946;” cùng bản thảo “Mandate of Heaven: Quo-va-dis?: Viet Nam, 1945-1950,” và “Sử Việt Nam, 880-1975, chép theo lịch Tây.”

Chúng tôi quyết định chép các vua chúa bằng tên húy hay “thánh” của họ thay vì niên hiệu hay miếu hiệu. Thí dụ như “vua Thiệu Trị” nhà Nguyễn, tên thánh là Nguyễn Phước Tuyền (11/2/1841-4/11/1847), tức Dung, vì Thiệu Trị chỉ là niên hiệu, từ ngày 11/2/1841 tới 4/2/1848.[2] Con là Nguyễn Phước Thời nối ngôi ngày 10/11/1847 [tức 3/10 Đinh Mùi], mất ngày 19/7/1883, nhưng niên hiệu Tự Đức chỉ có hiệu lực từ Nguyên đán Mậu Thân (5/2/1848), tới cuối năm Quí Mùi [Tự Đức 36, 29/12/1883-27/1/1884].[3] Khối sử văn thế giới thường chỉ nhắc đến niên hiệu Thiệu Trị hay Tự Đức, theo kiểu nhà Thanh.

Biên khảo Petrus Key Trương Vĩnh Ký (1837-1898) & Cuộc Xâm Lăng Của Pháp này chỉ là một trong bốn Phụ Bản chi tiết—hay case studies—cho ba biên khảo sử học nói trên về giai tầng trung gian bản xứ hợp tác với quân ngoại xâm—tức họ Hồ/Lê Quí Ly (23/3/1400-17/6/1407) trong cuộc xâm lăng của Chu Lệ, 1406-1424; họ Mạc hủy diệt quốc thống ngày 30/11/1540 qua việc tự trói, xỏa tóc, đi chân đất vào Trấn Nam Quan quì bò trước mặt Mao Bá Ôn xin nội phụ nhà Minh, chấp nhận tước hiệu An Nam Đô Thống Sứ Ti, Đô thống sứ ti, quan hàm tùng nhị phẩm [II-2], và “Phiến Cộng Trong Dinh Gia Long” Ngô Đình Nhu (1910-1963), người đưa đến cuộc tắm máu cuối cùng của dòng giõi Ngô Đình Khả (1856-1914)—một thông ngôn lừng danh khác của Pháp tại Tòa Khâm sứ An Nam của Chính Phủ Bảo Hộ Annam-Bắc Kỳ [Protectorat de l’Annam et du Tonkin] trong giai đoạn 1885-1907, đã tiếp tay Nguyễn Thân, Lê Tựu Khiết và người Pháp trộn hài cốt Ngự sử Phan Đình Phùng (1847-1895) với thuộc súng bắn đi để trừng trị tội trung quân, ái quốc.

Chúng tôi cũng may mắn được sự trợ giúp nhiệt tình của một số chuyên viên, học giả trong nước suốt thời gian du khảo năm 2004-2005 cũng như giai đoạn hậu du khảo. Xin ghi nhận sự ân cần của quí vị Hiệu trưởng cùng nhân viên Đại học Khoa Học & Xã Hội Nhân Văn thành phố Hồ Chí Minh, quí vị Giám đốc và nhân viên các trung tâm lưu trữ Quốc gia, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, và Ban học bổng Fulbright Tòa Đại sứ Mỹ tại Việt Nam. Nhờ vậy, chúng tôi có cơ hội phỏng vấn một số tác nhân lịch sử như Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Vũ Đình Hoè, và nhiều luật gia, viên chức tư pháp, cùng chứng nhân khác từ Lai Châu tới Cà Mau.

Đa tạ Giáo sư Mai Quốc Liên đã mua giúp tập Lịch Vạn Niên: Âm lịch Dương lịch đối chiếu, 0001-2060 của Lê Quí Ngưu biên soạn (3 tập, ấn bản 2004), giúp điều chỉnh lại một số ngày tháng chính xác hơn, khi chuyển từ lịch Trung Hoa sang Tây lịch.

Anh chị Vũ Ngự Triệu cùng các cháu cũng mua tặng nhiều tư liệu, bản đồ quí hiếm. Gồm dù không giới hạn trong An Nam Chí Lược của Lê Tắc, Mục Lục Châu Bản Triều Minh Mạng, cùng bản dịch Đại Việt Sử Ký Toàn Thư năm 2009. Luật sư Trần Thanh Hiệp giúp làm phóng ảnh một số trang tác phẩm Petrus Trương Vĩnh Ký lưu trữ tại thư viện Mitterand, Paris, và vợ chồng Vũ Thái Dũng-Trang tìm mua giúp tập II cuốn Cours d’histoire annamite (1875-1877) tại Sài Gòn.

Nhà thơ Đặng Hiền, chủ biên Tạp Chí Hợp Lưu, và Cao học Electrical Engineering Phạm Hữu Lộc phụ tá kỹ thuật, giúp món quà văn hóa cho hậu thế có thể hoàn tất. Đặng Hiền đã “nghỉ mát làm việc” ba tuần ở Houston, chụp [scan] kho tài liệu văn khố nhiều nước thu thập gần 40 năm qua—và không chỉ một lần báo động với đại gia đình về sức khoẻ cá nhân tác giả. Biên khảo này hẳn khó hoàn tất nếu thiếu sự hợp tác của Đặng Hiền.

Không kém quan trọng là những chăm sóc, ân cần của đại gia đình, nhất là ba em gái Lan Phương, Loan Phượng, Hằng Nga, cùng người bạn đời suốt hơn 31 năm qua, Hoàng Đỗ Vũ—đặc biệt sau biến cố kích tim đầu năm 2008, và tai biến xuất huyết nội ngày 23/9-2/10/2019.

Nhưng những khiếm khuyết hẳn có chỉ riêng tác giá chịu trách nhiệm.

Houston, 6/10/2019

Vũ Ngự Chiêu

 

 

PHÀM LỆ:

Cách ghi tên, họ:

Họ và tên tác nhân [niên hiệu, ngày tháng Tây lịch tương đương thời gian cai trị, hay tại chức, hay tuổi đời, tính theo lịch các triều đại Việt, Trung Hoa, và những nước liên hệ]

Cách ghi ngày tháng Tây lịch: 

Theo thứ tự Ngày, Tháng, Năm. Khác với lối ghi của Liên bang Mỹ, Tháng, Ngày, Năm

Cách ghi ngày tháng lịch Ta: 

Các vua Việt thường có niên hiệu riêng. Thí dụ, Nguyễn Phước Chủng có niên hiệu Gia Long, từ năm 1802 [Gia Long thứ nhất] tới năm 1820 [Gia Long thứ 19]. Bắt chước lịch Trung Hoa, ghi Năm, Tháng, rồi Ngày.

Tháng 1-2/1848 [Chạp Đinh Mùi, 6/1-4/2/1848]:

Tháng tương đương Tây lịch [Tháng, năm lịch ta, ngày Tây lịch]

Có sự sai biệt giữa lịch nhà Lê, lịch Đường Trong [Nguyễn] và lịch Đường Ngoài [Lê-Trịnh].

Có sự sai biệt giữa lịch nhà Tây Sơn và nhà Thanh.

Nguồn Tư Liệu:

Chúng tôi sử dụng nhiều nguồn tư liệu gốc [multi-archival approach], nên đặt trọng tâm vào phương pháp tỉ đối [comparative history]. Ngoại trừ một số thông tin ngụy tạo quá rõ ràng, sẽ bị gạch bỏ, chúng tôi sẽ ghi lại sự khác biệt của các nguồn tư liệu, vì sự khác biệt là lẽ đương nhiên. Thí dụ như vấn đề “chính” và “ngụy;” “cách mạng” và “phản động;” v.. v.. Sử quan Nguyễn dùng hàng ngàn trang tư liệu chữ Nho [Hán-Nôm đọc theo khẩu âm Việt] để ghép tội anh em Nguyễn Tây Sơn là Ngụy Tây, nhưng hậu thế có một cái nhìn trung dung hơn, trong khuôn khổ những cuộc tranh hùng nghiệt ngã, đẫm máu.

Tên Tư liệu văn khố. Tên Tư liệu chính thức của các triều đại, và thông tin trích dẫn từ các học giả, báo chí thế giới.

Chúng tôi cố gắng tỉ đối ba nguồn tư liệu chính là thực lục và châu bản triều Nguyễn Phước Thời, tài liệu quân sự Pháp [Sở lịch sử Hải quân (SHM, Chateaux de Vincennes, Paris), Sở lịch sử văn khố lục quân Pháp, (SHAT, Chateaux de Vincennes, Paris). Tại SHM (Vincennes) có rất nhiều tư liệu quí hiếm về giai đoạn Pháp xâm lăng, đặc biệt là các tư liệu  của Đô đốc Jean Bernard Jauréguiberry,  Joseph Page và Henri Rieunier, hay học giả Georges Taboulet. Chúng tôi cũng phát hiện nhiều thư riêng giữa Jauréguiberry và các giáo sĩ đương thời, nhưng chỉ ghi chép mà không được làm phóng ảnh. Ngoài ra, còn tư liệu văn khố bộ Hải Quân và Bộ Thuộc Địa ở Oudinot, Paris (AOM), và Trung tâm các Văn Khố hải ngoại ở Aix-en Provence (DOM), hiện tập trung thành Trung Tâm Các Văn Khố Hải Ngoại (CAOM, Aix); Văn khố Trung ương Paris (AN, hiện đối thành CARAN), Thư viện báo chí tại Versailles, đã dời về Thư viện Mitterand ở quận 13, Paris. Chúng tôi cũng có dịp làm việc tại Văn khố Bộ Ngoại Giao tại Quai d’Orsay (AMAE) và Văn khố Hội truyền giáo (ASME) trên rue de Bac, Paris.

Tên Tư liệu văn khố:

CAOM (Aix), carton [hộp], dossier [hồ sơ]: Trung tâm văn khố Pháp quốc hải ngoại, tại Aix-en Provence, hộp, hồ sơ.

Tên Tư liệu chính thức của các triều đại, và chính phủ:

ĐNLTCB, II, q 2 & 3 (1993), 3:25-64: Đại Nam Liệt Truyện Chính Biên; Bộ 2; quyển 2 và 3 (bản in năm 1993), quyển [3], trang [25-64]

ĐNTLCB, IV,  I, 27:1848-1854, 1973:31: Đại Nam Thực Lục Chính Biên, Đệ tứ Kỷ, quyển I, tập 27:1848-1854, năm in 1973, trang 31.

FRUS, 1945: Foreign Relations of the United States, 1945;

Thông tin trích dẫn từ các học giả, báo chí thế giới, theo lệ thường ở Liên Bang Mỹ.

Vấn Đề Lượng Giá hay Phê Bình:

Trên lập trường toàn vẹn lãnh thổ, tự trị, hòa bình, tự do, no ấm của toàn dân, và nhân/dân quyền.

Cha con Lê/Hồ Quí Ly hay ông cháu Mạc Thúy, Mạc Đăng Dung bị xếp hạng “ngụy;” không chỉ vì cướp ngôi nhà Trần, hay nhà Hậu Lê sơ—nhưng ác tội khó tha là cắt đất dâng Chu Hậu Tổng, hay tự trói mình, buộc dây vào cổ, đi chân đất đến bò lạy trong Trấn Nam Quan, xin nội phụ nhà Minh, được chia làm quận huyện như văn và dã sử Trung Hoa ghi chép—biến giang sơn thành một đô thống sứ ti của giặc xâm lược. Nhưng trong nước, xưng vương, xưng đế. Hay đặt tên nước là Đại Ngu, của Thuấn, mà chưa ai dám chắc từng hiện hữu—ngay đến Tư Mã Thiên cũng chỉ dám viết được thổ hào, nhân sĩ thuật lại những lời truyền tụng.

 

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

ANCL:         Lê Tắc, An Nam Chí Lược, bản dịch Chen Ching Ho [Trần Kính Hòa] et al. (dựa trên truyền bản Lạc Thiện Đường Annan Zhilue, Ginko Kishida [Ngạn Điền Ngâm Hương] sưu tập và hiệu đính năm 1884) (Huế: Đại học Huế, 1961), 

BAVH:         Bulletin des Amis de Vieux Hué. (Huế, Việt Nam)

BEFEO:         Bulletin de l’Ecole Francaise d’Extrême-Orient (Hà Nội, Việt Nam)

CMCB:         Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục [CM], Chính Biên [CB], [1886] Tự Đức et al. (1884), bản dịch Viện Sử Học (Hà Nội: Giáo Dục, 1998)

CMTB:         Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục [CM], Tiền Biên [TB], [1886], bản dịch Trương Bửu Lâm et al., (Sài Gòn: 1967); bản dịch viện Sử học, 2 tập (Hà Nội: NXB Giáo Dục, 1998), tập I.

Dư Địa Chí:         Nguyễn Trãi, trong Ức Trai Di Tập (1868); bản dịch Viện Sử Học, trong Nguyễn Trãi Toàn Tập [NTTT], in lần thứ hai có tăng bổ và hiệu đính, (Hà Nội: KHXH, 1976) [tr 211-246, 543-662].

ĐNLT:         Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên [TB] & Chính Biên [CB], 5 tập (1992); Tiền Biên [TB] (1995)

ĐNNTC:         Đại Nam Nhất Thống Chí, bản dịch Phạm Trọng Điềm và Đào Duy Anh, 5 tập (NXB Thuận Hóa, 1997)

ĐNTLCB:         Đại Nam Thực Lục Chính Biên, bản dịch Viện Sử học, 38 tập (Hà Nội: 1962-1978)

ĐVSKTB:         Ngô Thì Sĩ et al., Đại Việt Sử Ký Tiền Biên, Quốc sử quán Tây Sơn (1798-1800), 17 tập (7 NK, 10 BK), bản dịch Dương Thị The et al. (Hà Nội: 1997)

ĐVSK, BKTT:         Ngô Sĩ Liên et al., Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Bản Kỷ, bản dịch Quốc tử giám tàng bản Cao Huy Giu et al. (Hà Nội: 1967) [sẽ dẫn ĐVSK, BKTT, Giu (1967)]; bản dịch nội các quan bản Ngô Đức Thọ, Hoàng Văn Lâu & Ngô Thế Long [Nội Các Quan Bản], 3 tập (Hà Nội: 2009), [sẽ dẫn Thọ et al. (2009)]

ĐVSK, NKTT:        Ngô Sĩ Liên et al., Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Ngoại Kỷ [1697-1698], q. III, bản dịch Nhượng Tống (Hà Nội: Tân Việt, [1944?]) [sẽ dẫn Nhượng Tống (1944)]; bản dịch Cao Huy Giu [Quốc Tử Giám tàng bản], (Hà Nội: 1967), [sẽ dẫn Giu (1967)]; bản dịch Ngô Đức Thọ et al. [Nội Các Quan Bản], (Hà Nội: 2009) [sẽ dẫn Thọ et al. (2009)];

HL:         Hợp Lưu (Fountain Valley, CA)

JAS:         Journal of Asian Studies (Ann Harbor, MI, USA)

LSTL:         Nguyễn Trãi, Lam Sơn Thực Lục [1432], trong Ức Trai Di Tập; bản dịch Viện Sử Học, trong Nguyễn Trãi Toàn Tập [NTTT], in lần thứ hai, (Hà Nội: KHXH, 1976), tr 43-74, 479-82.

LTHCLC:         Phan Huy Chú, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, (Sai Gòn: 1972), bản dịch Viện Sử học, 3 tập (Hà Nội: 1992)

Ming Shi-lu         [Minh thực lục], Geoffrey Wade, Southeast Asia in Ming shi-lu: An Open Access, National University of Singapore data base, 2005.

NCLS:         Tập san Nghiên Cứu Lịch Sử (Hà Nội)

Ngô Thì Nhậm:         Tuyển Tập Thơ Văn Ngô Thì Nhậm, Mai Quốc Liên et al. dịch, 2 tập (Hà Nội: KHXH, 1978)

NTTT:         Nguyễn Trãi Toàn Tập, tái bản có bổ sung (Hà Nội: KHXH, 1976)

PBTL:         Lê Quí Đôn, Phủ Biên Tạp Lục, bản dịch Lê Xuân Giáo (Sài Gòn: 1972)

QTTMT:         Nguyễn Trãi, Quân Trung Từ Mệnh Tập, I & II. NTTT, 1976, [101-206]

Thông sử [ĐVTS]:         Lê Quí Đôn, Đại Việt Thông Sử, bản dịch Ngô Thế Long, trong Lê Quí Đôn Toàn Tập (Hà Nội: 1978), tập III.

TKC:        Lịch hay Lệ Đạo Nguyên (466 [472]-527), Thủy Kinh Chú

TKCS:         Thủy Kinh Chú Sớ, Lịch Đạo Nguyên (466 [472]-527), et al., bản dịch Nguyễn Bá Mão (Hà Nội: 2004).

VĐLN:         Lê Quí Đôn, Vân [Văn] Đài Luận Ngữ, bản dịch Phạm Vũ và Lê Hiền (Sài Gòn: 1973?).

VSTA:         Ngô Thì Sĩ, Việt Sử Tiêu Án (Sài Gòn: 1960, 1967).

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
20 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 147827)
đêm phố cổ tạ ơn một nàng thơ cuối cùng vẫn còn biết giật mình trước mắt đêm chai lì như mắt loài chuột cống
19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 119195)
“Theo Trần Trọng Kim nhận rằng thơ là của Lý Thường Kiệt. Nhưng nói chắc là Thường Kiệt làm được thơ thì không có gì làm bằng cứ”[15]. Sau này, Bùi Văn Nguyên phân tích các cứ liệu và đoán định rằng: “Như vậy tác giả bài thơ “thần” này là khuyết danh”[16]. Bùi Duy Tân tiếp tục hướng này và chủ trương rằng “bài thơ này nên để khuyết danh tác giả”[17]...
19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 100301)
Hắn tỉnh lại đột ngột. Bốn năm người thanh niên đang kéo hắn ra từ dưới lườn xe. Hắn nếm được vị mặn và máu, một đầu gối bị đau, và khi bị nhấc bổng, hắn phát rên, không chịu nổi sự đụng chạm trên cánh tay mặt. Những tiếng nói như không thuộc về những khuôn mặt treo ở trên hắn đang bông đùa vỗ về và bảo hắn yên tâm.
19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 104837)
Khi tòa báo đề nghị tôi tham gia viết về các nhà văn mà giá trị được cường điệu cao hơn giá trị thật của chính họ, tôi đã nghĩ sẽ từ chối. Tại sao phải tự mình tạo thêm kẻ thù một cách miễn phí? Rồi Robbe-Grillet xuất hiện trong đầu.
19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 120225)
Sư thày trụ trì ngôi chùa làng là người có học. Chẳng bao lâu hắn đã có thể trò chuyện như một người bạn tâm giao. Giáo lí nhà phật trong nhiều năm đã trở nên mờ nhạt với tuyệt đại đa số những con người tất bật với cuộc sống hôm nay. Cái hiểu biết về đền chùa miếu mạo của hắn cũng chỉ dừng ở mức không nhầm lẫn giữa nơi này với nơi khác. Bởi thế được trò chuyện với sư thày mỗi tháng vài lần là điều làm hắn vô cùng thích thú.
19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 143685)
Một cái chức nhỏ nhẹ Một cái chức lăn như cỏ lông chông Mơ đeo vào tay xòe ra giữa nắng Mơ đeo vào gót chân mỗi bước mỗi khua vang rổn rảng
19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 128090)
Hoa ôm cứng lấy tôi. Hoa bảo: Hãy yêu Hoa đi. Nắng buổi chiều chiếu rọi xuyên qua bản vẽ làm rách nát từng đường trên cơ thể Hoa. Tôi nằm dát người trên chiếu, nghe tiếng súng nổ và hiểu Đà-nẵng đang cơn hấp hối.
19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 142595)
một con thuyền dính bùa ngải của sông ý nghĩ găm đầy tháng năm mắc cạn em cố quên làm gì! khi ngay cả cánh tay anh cũng ảo
19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 112872)
Đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, Ngô Thế Vinh còn là một sinh viên y khoa, đảm nhiệm chức vụ chủ bút cho tạp chí Tình Thương, tờ báo của những người sinh viên áo trắng. Trong thời gian này tôi là một sĩ quan rất trẻ của QLVNCH. Cả Ngô Thế Vinh và tôi bị cuốn vào một biến động làm rung chuyển rừng núi Tây Nguyên: vụ nổi loạn đòi tự trị của những sắc tộc thiểu số, mà báo chí thời đó gọi là FULRO.
19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 119453)
...Chết tuy biết vì sao mình chết, do đâu mình chết mà không làm gì được. Chết một lần dưới làn đạn Tây dương. Chết thêm một lần về tinh thần bởi lòng trung bị khủng hoảng, bị phản bội, ấy là thời đại của những con người như Hoàng Diệu, ấy là những anh hùng cứu nước như Hoàng Diệu...
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3827)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13288)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19660)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18629)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1628)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1784)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2301)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2409)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1457)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2210)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1948)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1993)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1369)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2410)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2618)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2370)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 243)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 803)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 998)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1111)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6407)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15897)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32150)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38860)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1481)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13876)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6902)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10686)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9882)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 10009)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10814)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3455)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11151)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10355)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi