- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,577,642

VẮNG

02 Tháng Tư 201910:19 CH(Xem: 7831)


PHUONG UY
Chân dung nhà thơ PHƯƠNG UY

Vắng 8

 

Không có nỗi đau nào dịu đi
Không có nỗi đau nào là kết thúc.
Cuộc ngày thì cứ kéo dài
Thế nên chúng ta chồng chất.

 

Không có yêu thương nào là bắt đầu
Không có yêu thương là vĩnh cửu
Chúng ta dối lòng nhau
Để rồi tự dối mình thành thật.

 

Hôm qua em về bằng nước mắt
trong cơn mê của tôi
những giấc mơ đã rời rụng
trong một buổi sáng nắng ngời.

 

Nơi giấc mơ vừa rụng xuống
Là chỗ phơi nắng của mèo lười
mùa thay tóc lòng đã cạn
xiêm y nào đã lơi.

 

nắng quái qua ngày kí ức
hồ ly thẳng tắp trăng xanh
có giọt máu vừa lăn khỏi
khóe mắt- và rơi tan tành.


PHƯƠNG UY

 

ly 14

 

Khi mùi hương tường vi đã khánh kiệt trong những giấc mơ
con hồ ly đơn độc trên sa mạc ngừng lại những cuộc tìm kiếm
những mũi tên sẵn sàng bật ra khỏi chiếc cung lần lượt gãy nát
tro cốt hoa hồng lại được niêm kín vào trong những ngôi mộ
người lữ hành trở về trong những chiếc hôn mệt mỏi
vòng ôm siết hoang vu
có thể nào để dừng lại một cơn bão?


tôi nói với tôi trong những giây phút cuối cùng
nỗi buồn đã lật lọng khi phủ đắp mọi thứ không thương tiếc trong tấm nhung đen tối ám

những buổi tối với mùi thơm của hương nhu cũng không còn nữa
chỉ còn cuồn cuộn mùi người hôi hám trào trong cách mạch phố
lúc này em ở đâu?


trong đặc quánh đầy thô bạo của cô độc
con hồ ly trở mình nhỏ những giọt nước mắt xanh biếc
ngôn từ là thứ trí trá không thể hồi đáp
những dòng tin nhắn tưởng tượng cũng không được hồi đáp
tôi nhặt lên sự câm lặng của mình giữa những tối tăm
" hãy vặn nhỏ lại mọi thứ: âm thanh của những tiếng nấc hụt hẫng giữa đêm , tiếng chim trong bụi mận gai của một cuốn tiểu thuyết xa xưa nào nào đó đó..."


em có còn trả lời tiếng tôi gọi em từ giữa đêm thâu?

 

PHƯƠNG UY

26.2.19

 

 

Xưng tội 2

 

Nhiều ngày qua mình đã chuốt nhẵn đầu lưỡi mình

Đâu còn lời chi gai nhọn

Mình mài mòn những giọt nước mắt

Có còn chi phải xót xa

Mình đâu thể khóc trước đôi bàn chân mẹ già

Suốt ngày ngâm nước ăn chân từng vết hà lỗ chỗ

Người cha đã chết đuối vẫn còn cố

giữ chặt tay đôi dép nhựa trắng để dành cho con

 

Từng ngày qua mình đã chuốt nhẵn đầu lưỡi mình

Hát lời dễ nghe nói lời dễ nuốt

Mình bày trẻ con mỗi ngày đi học

Nói những nghĩa nhân bằng câu chữ nhập nhằng

Mình cứ tưởng rằng

Vậy là đã khôn đã là thời cuộc

Mình tập nhắm mắt

Khi bước ra đường

 

Nhiều ngày qua mình tự chuốt nhẵn đôi mắt mình

hoá thành trong suốt

không còn tâm tư không còn phản chiếu

day dứt cõi đời mình để lặng câm

mình từng làm ngơ trước những trăm năm

trước những bơ vơ bao bàn tay nhỏ

trước bọt nước đen tuôn ở đầu ngọn sóng

sóng biển quê hương mình

 

Nhiều ngày qua mình vẫn cứ cố ngẩng cao đầu

trước bao điều vũ nhục

vì mình sợ rơi đi vương miện

vòng triều thiên không có thật bao giờ

mình quên mất mỗi sớm mai ra mình vẫn đang ngồi chờ

ngày diệt vong kề cận đến

 
PHƯƠNG UY

 

Vắng 5

 

Không phải được lựa chọn
Sự im lặng
và tịch nhiên vô bờ
Mà cứ tù từ mà chìm xuống
rất sâu
rất tối
ở đấy
không kể nói được gì
là bị bắt buộc
phải im lặng
hoặc
Cũng không phải được lựa chọn
có thể tung hô theo ngôn ngữ của những chiếc búp trên cành
ưỡn ẹo
vỡ ra những ngoa dụ
là những khúc ( không phải đồng dao) mà miệng đã thuộc lòng
hoặc là
ở đấy là im tiếng
vô biên

 
PHƯƠNG UY

Vắng 4

 

Nằm xuống
Và nhắm mắt
Bao lời tuyệt vọng cũng không ngăn nỗi buồn cứ đến
Bỏ và đi

Nằm xuống
Và khép miệng
Những lời hi vọng chẳng nên nói ra
Vết rình rập còn xanh trên rêu đá
Sự dọa dẫm lũng sâu cây rừng
Rưng rưng gió núi mù sa

Nằm xuống
Và lịm đi
Đừng nói
Cũng đừng khóc
Chúng ta đã mất nhau lâu rồi
Câu thơ xanh đỏ tràn kín cựa
Tóc bạc da mồi
Nỗi bi ai còn kín trên môi

Đừng nói
Đừng hỏi
Đừng thắc mắc

PHƯƠNG UY

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 994)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1070)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1779)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5806)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5795)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13156)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 29999)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81098)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20217)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
14 Tháng Chín 20218:20 CH(Xem: 314)
Tay Giắng quờ quạng vơ vào ngực áo chị, miệng khô khốc nhóp nhép như bé con đòi bú. Giắng nhắm nghiền mắt thều thào: “nước ước…”. Chị nhìn quanh, cả phòng chả có cái gì gọi là nước. Cái xô nhựa đựng nước nấu ăn cũng khô rang lăn lóc góc phòng. Chị tắc lưỡi vén áo lên, kề bầu ngực căng mọng sữa vào miệng Giắng bóp nhẹ. Một tia sữa trắng thơm nức phun xuống đôi môi khô nứt. Giắng nhóp nhép nuốt. Rồi nuốt ừng ực. Chị áp cả bầu vú vào miệng Giắng. Nắn. Hết bầu này sang bầu kia. Giắng vẫn nhắm nghiền mắt nuốt. Khuôn mặt dần hồng lên. Chị nhìn xuống, mãn nguyện… / Giắng mở mắt ra. Nhìn. Hồi lâu. Bỗng òa khóc, ôm chầm lấy chị nức nở: “Chị ơiiiiii…”