- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,577,685

CHO TÔI XIN MUA LẠI ĐẤT NƯỚC MÌNH

07 Tháng Giêng 20194:58 CH(Xem: 10087)


MaNon- photo Nguyen Hoang Nam
Mạ Non - ảnh Nguyễn Hoàng Nam


KHÔNG THỂ NHỚ ĐƯỢC MÌNH

 

Trước lưỡi rìu, lưỡi lê và lưỡi cuốc

computer 64 bit tốc độ cao

tôi lập bản đồ họa vùng châu thổ

mùa xuân nắn nót vẽ hoa đào

mùa thu bệt vàng hoa cúc

dòng sông chảy mượt mà qua con đê vạn lý

đắp chắn những ngôi làng, cô lập cõi văn minh

vẫn còn thiếu một cái gì đó

chúng ta không thể nhớ được mình.

 

Lấp lóa muộn phiền, ưu tư chém cụt

mặt trời ngả Tây dáng mẹ lặn vào chiều rờn rợn

thấp thoáng ông bù nhìn đói suốt mùa lúa chín

lũ chim đã quen dần sợ hãi, lịch chịch nhặt hết ngày lao động

không có sự mặc định nào chở che, tồn tại lúc đuối lòng

loài cò vẫn bay kiếm ăn theo đàn, đúng lập trình cố hữu của thiên nhiên

 

bát hương trên cánh đồng tắt gió khi mẹ trở về nhà

đầy một sân rêu       

người đàn bà lại bận rộn với người đàn ông mà nói năng sót chữ.

 

Trong ly rượu của cha chứa gốc cây nghìn năm tuổi

phế bỏ sự hồ đồ

giải cứu cơn mê mấy đời tổ tiên nhắc nhở

cuộc say của những người đàn ông xả thân làm quân tử ngược thời

rễ cây bắt ngấm từ bụng lan tỏa đến tay chân rần rần xót đắng

lan tỏa lên khuôn mặt, mọc nhanh vào tai và mắt

mọc vào miệng và mũi, thay thế hoàn hảo từng đường gân thớ thịt

làm tê cứng cái lưỡi người anh hùng xứ sở                      

tiếng côn trùng ráo riết gọi nhau ra.

 

Truyền thuyết của làng thờ vị thần khốn khổ

mùa bão lật cơn giông hất người đàn ông bật tung khỏi cửa

mùa hạn thở dốc trên gánh người đàn bà chắt chiu khoai sắn

những giận hờn, ghen ghét, yêu thương

những cũ kỹ bây giờ không còn nữa

 

chỉ còn chiếc bản lề không cánh cửa

chẳng có gì đóng mở

vừa một luồng khí trơ thồng thộc bay vào

chúng ta không thể nhớ được mình.

 

Phan Thanh Bình



 

TRỞ VỀ NHÀ

Phải có một dòng sông luôn chảy từ ngân hà này sang ngân hà khác

không có cội nguồn khởi sinh

không có can cớ để kết thúc          

chỉ có những điểm dừng     

 

Đất Nước tôi

nhiều lắm      

những điểm dừng

đêm nở trắng cánh đồng suy tưởng

vẫn vết thương trên ngực người con gái   

bởi em sinh ra từ chấn động tâm hồn.                                                                  

 

Vì chiếc lá thôi phai

nên tôi không tìm ra được bằng chứng mùa thu xác thực

giọt sương rơi đụng ký ức vỡ tan tành

đêm trở giấc người lính về gọi mẹ

anh ở phía bên nào  

tôi chưa rõ tên anh                                                                                      

 

Mặt trời mọc trong đầu kẻ khởi tạo chiến tranh

thì đêm tối là tặng phần cho Đất Nước    

những hạt bần rụng ra từ năm trước

kễn lên tìm chút gió xa hương.                                                                              

 

Vì buổi ban trưa rực rỡ nắng vàng

nên tôi không tìm ra được dòng suối mẹ

gột rửa vết thương, tắm mình cho khỏa

tôi vẫn thích một mình nói khác

lời nói của chân tay

kẻ xu thời đếm chẵn

 

chỉ một cơn mưa 

thành phố chiều nay chỗ nào cũng ngập

nước không thể ngấm thêm vào lòng đất

[lòng đất đã đầy những vết thương]

 

Liệu cơn gió sẽ thổi lên phân chất

cát đá tung bay, canh bài gỡ gạc

rồi vết thương tự xé toang chỗ rách?

- Cho tôi xin mua lại Đất Nước mình.

 

Thưa Hoàng Cầm! Khi Người về bên kia

sông Đuống một dòng mấy đời nước ở

chiều hoàng lan trở gọi bao hoang nhớ

hương lúa có bội phù sa!

 

Tôi về hồ Tây ngắm chiếc cốc thủy tinh             

nhắp một chút em ngọt ngào châu thổ

hạt gạo đồng Đông, mâm xôi ngày giỗ

bát chè xanh uống chầm chậm xứ Đoài

 

có một dòng sông luôn chảy từ ngân hà này sang ngân hà khác

để tất cả chúng ta

lương thiện trở về nhà.

 

Phan Thanh Bình

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 994)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1070)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1779)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5807)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5798)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13156)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 29999)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81098)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20217)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
14 Tháng Chín 20218:20 CH(Xem: 323)
Tay Giắng quờ quạng vơ vào ngực áo chị, miệng khô khốc nhóp nhép như bé con đòi bú. Giắng nhắm nghiền mắt thều thào: “nước ước…”. Chị nhìn quanh, cả phòng chả có cái gì gọi là nước. Cái xô nhựa đựng nước nấu ăn cũng khô rang lăn lóc góc phòng. Chị tắc lưỡi vén áo lên, kề bầu ngực căng mọng sữa vào miệng Giắng bóp nhẹ. Một tia sữa trắng thơm nức phun xuống đôi môi khô nứt. Giắng nhóp nhép nuốt. Rồi nuốt ừng ực. Chị áp cả bầu vú vào miệng Giắng. Nắn. Hết bầu này sang bầu kia. Giắng vẫn nhắm nghiền mắt nuốt. Khuôn mặt dần hồng lên. Chị nhìn xuống, mãn nguyện… / Giắng mở mắt ra. Nhìn. Hồi lâu. Bỗng òa khóc, ôm chầm lấy chị nức nở: “Chị ơiiiiii…”