- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,448,745

CHO TÔI XIN MUA LẠI ĐẤT NƯỚC MÌNH

07 Tháng Giêng 20194:58 CH(Xem: 5569)


MaNon- photo Nguyen Hoang Nam
Mạ Non - ảnh Nguyễn Hoàng Nam


KHÔNG THỂ NHỚ ĐƯỢC MÌNH

 

Trước lưỡi rìu, lưỡi lê và lưỡi cuốc

computer 64 bit tốc độ cao

tôi lập bản đồ họa vùng châu thổ

mùa xuân nắn nót vẽ hoa đào

mùa thu bệt vàng hoa cúc

dòng sông chảy mượt mà qua con đê vạn lý

đắp chắn những ngôi làng, cô lập cõi văn minh

vẫn còn thiếu một cái gì đó

chúng ta không thể nhớ được mình.

 

Lấp lóa muộn phiền, ưu tư chém cụt

mặt trời ngả Tây dáng mẹ lặn vào chiều rờn rợn

thấp thoáng ông bù nhìn đói suốt mùa lúa chín

lũ chim đã quen dần sợ hãi, lịch chịch nhặt hết ngày lao động

không có sự mặc định nào chở che, tồn tại lúc đuối lòng

loài cò vẫn bay kiếm ăn theo đàn, đúng lập trình cố hữu của thiên nhiên

 

bát hương trên cánh đồng tắt gió khi mẹ trở về nhà

đầy một sân rêu       

người đàn bà lại bận rộn với người đàn ông mà nói năng sót chữ.

 

Trong ly rượu của cha chứa gốc cây nghìn năm tuổi

phế bỏ sự hồ đồ

giải cứu cơn mê mấy đời tổ tiên nhắc nhở

cuộc say của những người đàn ông xả thân làm quân tử ngược thời

rễ cây bắt ngấm từ bụng lan tỏa đến tay chân rần rần xót đắng

lan tỏa lên khuôn mặt, mọc nhanh vào tai và mắt

mọc vào miệng và mũi, thay thế hoàn hảo từng đường gân thớ thịt

làm tê cứng cái lưỡi người anh hùng xứ sở                      

tiếng côn trùng ráo riết gọi nhau ra.

 

Truyền thuyết của làng thờ vị thần khốn khổ

mùa bão lật cơn giông hất người đàn ông bật tung khỏi cửa

mùa hạn thở dốc trên gánh người đàn bà chắt chiu khoai sắn

những giận hờn, ghen ghét, yêu thương

những cũ kỹ bây giờ không còn nữa

 

chỉ còn chiếc bản lề không cánh cửa

chẳng có gì đóng mở

vừa một luồng khí trơ thồng thộc bay vào

chúng ta không thể nhớ được mình.

 

Phan Thanh Bình



 

TRỞ VỀ NHÀ

Phải có một dòng sông luôn chảy từ ngân hà này sang ngân hà khác

không có cội nguồn khởi sinh

không có can cớ để kết thúc          

chỉ có những điểm dừng     

 

Đất Nước tôi

nhiều lắm      

những điểm dừng

đêm nở trắng cánh đồng suy tưởng

vẫn vết thương trên ngực người con gái   

bởi em sinh ra từ chấn động tâm hồn.                                                                  

 

Vì chiếc lá thôi phai

nên tôi không tìm ra được bằng chứng mùa thu xác thực

giọt sương rơi đụng ký ức vỡ tan tành

đêm trở giấc người lính về gọi mẹ

anh ở phía bên nào  

tôi chưa rõ tên anh                                                                                      

 

Mặt trời mọc trong đầu kẻ khởi tạo chiến tranh

thì đêm tối là tặng phần cho Đất Nước    

những hạt bần rụng ra từ năm trước

kễn lên tìm chút gió xa hương.                                                                              

 

Vì buổi ban trưa rực rỡ nắng vàng

nên tôi không tìm ra được dòng suối mẹ

gột rửa vết thương, tắm mình cho khỏa

tôi vẫn thích một mình nói khác

lời nói của chân tay

kẻ xu thời đếm chẵn

 

chỉ một cơn mưa 

thành phố chiều nay chỗ nào cũng ngập

nước không thể ngấm thêm vào lòng đất

[lòng đất đã đầy những vết thương]

 

Liệu cơn gió sẽ thổi lên phân chất

cát đá tung bay, canh bài gỡ gạc

rồi vết thương tự xé toang chỗ rách?

- Cho tôi xin mua lại Đất Nước mình.

 

Thưa Hoàng Cầm! Khi Người về bên kia

sông Đuống một dòng mấy đời nước ở

chiều hoàng lan trở gọi bao hoang nhớ

hương lúa có bội phù sa!

 

Tôi về hồ Tây ngắm chiếc cốc thủy tinh             

nhắp một chút em ngọt ngào châu thổ

hạt gạo đồng Đông, mâm xôi ngày giỗ

bát chè xanh uống chầm chậm xứ Đoài

 

có một dòng sông luôn chảy từ ngân hà này sang ngân hà khác

để tất cả chúng ta

lương thiện trở về nhà.

 

Phan Thanh Bình

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 2021)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 5924)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
06 Tháng Bảy 20153:00 SA(Xem: 2968)
Ngày 4/7/1407, tại Kim Lăng, kinh đô đầu tiên của Đại Minh từ 1368 tới khoảng năm 1421, Chu Lệ hay Đệ [Zhou Li] miếu hiệu Thành Tổ (Ming Zhengzu, 17/7/1402-22/8/1424) họp triều thần, chấp thuận lời xin của “1120” kỳ lão xứ Giao Châu [An Nam] hơn hai tháng trước là “con cháu nhà Trần đă chết hết không người thừa kế…. Giao Châu là đất cũ của Trung Hoa xin đặt quan cai trị, để sớm được thánh giáo gột rửa thói tật man di.” (1) Hôm sau, 5/7/1407, Chu Lệ ban chiếu thành lập “Giao Chỉ Đô Thống sứ ti” [Jiaozhi dutong tusi], một đơn vị quân chính cấp phủ hay tỉnh [Provincial Commandery]. (2) Và, như thế, sau gần 500 năm tái lập quốc thống dưới tên Đại Việt—hay An Nam, từ 1164/1175—nước Việt trung cổ tạm thời bị xóa tên.
26 Tháng Năm 20209:11 CH(Xem: 141)
Lưng chiều gió lượn bờ tre Lao xao tháng Sáu gọi Hè bâng khuâng Đong đưa phượng nở trước sân Mênh mang nhẹ khúc ve ngân ru sầu
17 Tháng Năm 20208:12 CH(Xem: 546)
Mẹ còn có mỗi lời ru / Buồn như ngọn gió mùa thu thổi về / Xưa ru con giấc ngủ mê / Giờ hiu hắt bóng lê thê đêm dài.
17 Tháng Năm 20208:00 CH(Xem: 529)
vui buồn ở một khúc quanh giữa tối và sáng / giữ lấy hơi ấm mùa xuân của ngày tàn / mùi thơm của nhánh hoa trên tay / khu vườn đẹp như cổ tích
17 Tháng Năm 20206:43 CH(Xem: 577)
Quang “bản phủ”, vốn là chánh án ở Toà án nhân dân huyện. Nhưng hình dáng bên ngoài, giống y như nhân vật Bao Thanh Thiên bên tàu trong bộ phim truyền hình nhiều tập chiếu trên đài. Tối hôm trước xem phim, sáng hôm sau đến toà, từ bị can, đương sự đến nhân viên, thư ký toà…giật mình thon thót, nhìn lên ghế chánh án, cứ như thấy ông Bao Chửng ngồi trên thật. Cũng tai to mặt lớn đen sì.
14 Tháng Năm 20209:18 CH(Xem: 755)
đã qua hơn hai ngàn ba trăm bốn mươi lăm ngày đêm / thời gian không gian ngả màu / cái còn lại duy nhất / của anh của em / vẫn không ngừng mọc lên
14 Tháng Năm 20209:02 CH(Xem: 541)
Ầu ơ ru lại ầu ơ / Mẹ tôi gánh nước trăng mờ bến sông / Chưa khôn mẹ đã theo chồng / Chốn quê mẹ gửi bụi hồng níu chân / Dây trầu non nhánh ngoài sân / Mẹ theo cha bước duyên trần từ đây /
14 Tháng Năm 20208:50 CH(Xem: 518)
những hạt mưa lớn từ cơn u uất tháng tư mộng du / vấp vào giấc mơ đóng kín cửa / ngã sóng xoãi / vỡ tràn trên mặt kính /