- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
285,119

BÀI THƠ CHO THÁNG MƯỜI

22 Tháng Mười 201810:18 CH(Xem: 16191)


dalat10- photo UL
Bềnh Bồng - ảnh UL



Bài thơ cho tháng mười

Trời tháng mười nắng mưa giễu cợt
Nắng nghiêng vai mà mưa rớt lưng chừng
Ta bỗng nhớ lâu rồi mình không khóc
Vậy mà hôm qua nức nở với người dưng

Tháng mười ta mang thân lang bạt
Bàn chân sao mệt mỏi đến tận cùng
Như mây trắng bay hoài bay suốt kiếp
Toạc gót mà không biết lúc nào ngưng

Đôi khi so sánh mình thua cây cỏ
Mặc bão giông vẫn đứng mĩm cười
Ta mặc cảm cuộc đời ở trọ
Mà trần gian một quán trọ đấy thôi

Cứ loanh quanh cơm đình cháo chợ
Cứ rong rêu xuôi ngược hết nửa đời
Cả câu thơ cũng buồn như con ở
Ta gieo vần lạc đến tận mây trôi

Tháng mười ta gạ lòng sư sải
Gióng giùm ta mấy tiếng hồng chung
Sớt cho ta chén cơm hoa từ ái
Ngăn lại giùm giọt lệ đã rưng rưng

Nguyễn thị Bạch Vân

 


Tối thứ bảy trời mưa


Tình người nhẹ hề như chiếc lá
Một sớm chiều rơi giữa phố đông
Tình ta nặng hề như sỏi đá
Cả một đời chìm ở đáy sông

Ta chất buồn lên con thuyền giấy
Thả xuôi theo con nước giữa dòng
Rồi an nhiên giữa đời thị hiện
Mở lòng... độ lượng với bao dung

Lá ơi bao nhiêu lần lá rụng
Sỏi đá nằm lạnh lẽo biết gì không
Có biết thu tàn hay thu đến
Chỉ ngậm ngùi buốt giá một mùa đông

Ta đi nhặt loanh quanh xuân cạn
Ướm vào trong máu chảy trong thân
Xin cúi đầu hôn bàn tay nhỏ bé
Tạ đôi chân đã dẫn bước đời trần

Nguyễn thị Bạch Vân

 

Sáng ra chợ

Sáng trên đường ra chợ
Tôi nhặt một câu thơ
Dấm dúi vào tâm thất
Mà buồn đến bây giờ

Trên đường đi lên núi
Muốn cạo đầu lại thôi
Cái nghiệp đời còn bám
Tu như thể tu mồi

Tâm nửa đi nửa ở
Mà thân đã định nơi
Bao nhiêu năm ương dở
Cũng một kiếp con người

Sáng trên đường ra chợ
Tôi không nhặt được đời

Nguyễn thị Bạch Vân

 

Gió sang mùa

Biết còn kịp cho tôi nữa không
Ngoài kia ai áo đỏ áo hồng
Tôi xếp lại hành trang ngay ngắn
Khoác lên thân một vạt nâu sòng

Phố xá chiều nay như đám ma
Mưa chập chùng chẳng thấy ai qua
Tôi ngồi xếp chân trì đại chú
Thấy lòng mình như những cội hoa

Tôi ném sầu bi xa rất xa
Mỗi bước chân một niệm di đà
Ngoài hiên trước lá rơi từng lá
Trong lòng mình rụng một Thích Ca

Cất ở trong ngăn chuyện nắng mưa
Những cơ cầu đi sớm về trưa
Giũ áo phong sương đời đã mỏi
Ngồi xuống đây nghe gió sang mùa

Nguyễn thị Bạch Vân

 

Chiều rơi

Tôi bây giờ đi đâu
Sông nước chảy qua cầu
Đám lục bình tim tím
Ngơ ngác buồn như nhau

Con dốc cuối mù sương
Với mưa nắng vô thường
Mùa tóc xanh tóc bạc
Khóc cười với phấn hương

Loanh quanh đời mệt mỏi
Chân qua suối qua đồi
Thức ngủ cùng duyên phận
Trầy xước với đơn côi

Một ước mơ đơn giản
Là được sống bình an
Hồn tan vào mây gió
Biền biệt cõi đại ngàn

Tôi bây giờ ra sao
Huyệt mộ dắt tôi vào

Nguyễn thị Bạch Vân

( Bình Thuận buổi sáng 12-10-2018)

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 12959)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 20666)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
06 Tháng Giêng 202312:51 SA(Xem: 706)
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ là thầy dạy tôi. Thầy sinh năm 1923, năm nay tròn 100, còn tôi sanh năm 1936, thầy hơn tôi 13 tuổi, năm nay tôi cũng đã 87. Tính ra năm thầy dậy tôi cách đây đã đến 70 năm rồi. Ở cái thời mà ai cũng gọi người dậy học là “Thầy”, dù là từ lớp vỡ lòng cho đến hết lớp trung học chứ không gọi là “Giáo sư” như những năm sau này. Mà người đi học thì gọi là “Học trò” chứ ít ai gọi là “Học sinh”. Thầy dậy tại trường Chu Văn An năm nào, thì tôi được học thầy năm đó. Tôi không còn nhớ mấy năm, nhưng đọc tiểu sử của thầy, trên mạng Wikipedia cho biết thầy chỉ dậy ở trường CVA có một năm 52-53, sau khi thầy dậy ở Nam Định một năm 51-52. Trang mạng này, có ghi thầy di cư vào Nam năm 54, đoạn sau lại ghi thầy dậy trường Trần Lục tại Saigon năm 53-60. Tôi không nghĩ rằng hai trường Công Giáo Trần Lục và Hồ Ngọc Cẩn dọn vào Saigon trước năm 54.
06 Tháng Giêng 202312:11 SA(Xem: 668)
Nguyễn Du chỉ thốt lên một lần duy nhất: Ta vốn có tính yêu núi khi ông Bắc hành, ở đoạn cuối sứ trình; nhưng cái tính đó, ông đã bộc lộ biết bao lần trong 254 bài qua cả ba tập thơ chữ Hán của mình! Ai ham đọc sách mà không biết câu nói có tự cổ xưa: Trí giả lạc thủy, nhân giả lạc sơn (Kẻ trí thì vui với sông nước, người nhân thì vui với núi non); song cái ý tưởng sách vở thể hiện khát vọng thoát tục thanh cao, mơ ước được tựa vào non xanh để tìm sự yên tĩnh vĩnh hằng của nội tâm đó đã được Nguyễn Du trải nghiệm bằng toàn bộ cảm giác buồn, vui, qua các đoạn đời phong trần của mình, và ông miêu tả chúng qua bao vần thơ chữ Hán thực thấm thía, rung động.
06 Tháng Giêng 202312:02 SA(Xem: 865)
bạn có thể vừa đi làn trái, lại cũng đi được luôn cả làn phải không hề lăn tăn chi? / và bạn quả thật (đang) làm được thế ư, thậm chí còn nhiều hơn? / vậy bạn đáng nể quá rồi / người siêu nhất trần gian!
05 Tháng Giêng 202311:09 CH(Xem: 809)
Võ Tòng Xuân, sinh ngày 6 tháng 9 năm 1940 (tuổi con rồng / Canh Thìn), tại làng Ba Chúc trong vùng Thất Sơn, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Xuất thân từ một gia đình nghèo với 5 anh em. Học xong trung học đệ nhất cấp, VTX lên Sài Gòn sớm, sống tự lập, vất vả vừa đi học vừa đi làm để cải thiện sinh kế gia đình và nuôi các em... Miền Nam năm 1972, đang giữa cuộc chiến tranh Bắc Nam rất khốc liệt – giữa Mùa Hè Đỏ Lửa, Đại học Cần Thơ lúc đó là đại học duy nhất ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), được thành lập từ 31/03/1966 thời Việt Nam Cộng Hòa đang trên đà phát triển mạnh, và đã có khóa tốt nghiệp đầu tiên ra trường (1970). Võ Tòng Xuân đã được GS Nguyễn Duy Xuân (1970-1975) – là Viện trưởng thứ hai sau GS Phạm Hoàng Hộ (1966-1970), viết thư mời ông về phụ trách khoa nông nghiệp – lúc đó trường vẫn còn là có tên là Cao Đẳng Nông nghiệp, với tư cách một chuyên gia về lúa.
17 Tháng Mười Hai 20222:10 SA(Xem: 898)
Được tin buồn: cụ ông ĐẶNG VĂN NGỮ (Thân phụ của anh Đặng Hiền, cựu hs PTG ĐN niên khoá 75) Sinh năm: 1933 Đã từ trần vào ngày 06 tháng 12 năm 2022 (nhằm ngày 13 tháng 11 năm Nhâm Dần) Hưởng Thọ: 90 Tuổi
14 Tháng Mười Hai 202210:36 CH(Xem: 970)
Nhận được tin buồn: Thân phụ nhà thơ Đặng Hiền, chủ biên tạp chí Hợp Lưu Là Cụ Ông Đặng Văn Ngữ Pháp danh: Minh Pháp Sinh năm Quý Dậu (1933) tại Đà Nẵng, Việt Nam. Đã tạ thế ngày 06 tháng 12 năm 2022 tại California, USA. Hưởng thượng thọ 90 tuổi. Xin thành kính phân ưu cùng nhà thơ Đặng Hiền và tang gia
10 Tháng Mười Hai 20229:31 CH(Xem: 1022)
Nhận được tin buồn Phu quân của Cụ bà Trần Thị Y Cụ ông ĐẶNG VĂN NGỮ Pháp Danh MINH PHÁP Tuổi Quý Dậu (1933) Đã tạ thế ngày 06 tháng 12, năm 2022, tại Fountain Valley, California, Hưởng thượng thọ 90 tuổi.
08 Tháng Mười Hai 202211:58 CH(Xem: 943)
Được tin thân phụ nhà thơ Đặng-Hiền, Chủ Biên Tạp Chí Hợp-Lưu là Cụ Ông ĐẶNG VĂN NGỮ, Pháp danh MINH PHÁP, Vừa tạ thế ngày 6 tháng 12 năm 2022 tại California, hưởng thượng thọ 90 tuổi .