- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,267,045

BÀI THƠ CHO THÁNG MƯỜI

22 Tháng Mười 201810:18 CH(Xem: 2291)


dalat10- photo UL
Bềnh Bồng - ảnh UL



Bài thơ cho tháng mười

Trời tháng mười nắng mưa giễu cợt
Nắng nghiêng vai mà mưa rớt lưng chừng
Ta bỗng nhớ lâu rồi mình không khóc
Vậy mà hôm qua nức nở với người dưng

Tháng mười ta mang thân lang bạt
Bàn chân sao mệt mỏi đến tận cùng
Như mây trắng bay hoài bay suốt kiếp
Toạc gót mà không biết lúc nào ngưng

Đôi khi so sánh mình thua cây cỏ
Mặc bão giông vẫn đứng mĩm cười
Ta mặc cảm cuộc đời ở trọ
Mà trần gian một quán trọ đấy thôi

Cứ loanh quanh cơm đình cháo chợ
Cứ rong rêu xuôi ngược hết nửa đời
Cả câu thơ cũng buồn như con ở
Ta gieo vần lạc đến tận mây trôi

Tháng mười ta gạ lòng sư sải
Gióng giùm ta mấy tiếng hồng chung
Sớt cho ta chén cơm hoa từ ái
Ngăn lại giùm giọt lệ đã rưng rưng

Nguyễn thị Bạch Vân

 


Tối thứ bảy trời mưa


Tình người nhẹ hề như chiếc lá
Một sớm chiều rơi giữa phố đông
Tình ta nặng hề như sỏi đá
Cả một đời chìm ở đáy sông

Ta chất buồn lên con thuyền giấy
Thả xuôi theo con nước giữa dòng
Rồi an nhiên giữa đời thị hiện
Mở lòng... độ lượng với bao dung

Lá ơi bao nhiêu lần lá rụng
Sỏi đá nằm lạnh lẽo biết gì không
Có biết thu tàn hay thu đến
Chỉ ngậm ngùi buốt giá một mùa đông

Ta đi nhặt loanh quanh xuân cạn
Ướm vào trong máu chảy trong thân
Xin cúi đầu hôn bàn tay nhỏ bé
Tạ đôi chân đã dẫn bước đời trần

Nguyễn thị Bạch Vân

 

Sáng ra chợ

Sáng trên đường ra chợ
Tôi nhặt một câu thơ
Dấm dúi vào tâm thất
Mà buồn đến bây giờ

Trên đường đi lên núi
Muốn cạo đầu lại thôi
Cái nghiệp đời còn bám
Tu như thể tu mồi

Tâm nửa đi nửa ở
Mà thân đã định nơi
Bao nhiêu năm ương dở
Cũng một kiếp con người

Sáng trên đường ra chợ
Tôi không nhặt được đời

Nguyễn thị Bạch Vân

 

Gió sang mùa

Biết còn kịp cho tôi nữa không
Ngoài kia ai áo đỏ áo hồng
Tôi xếp lại hành trang ngay ngắn
Khoác lên thân một vạt nâu sòng

Phố xá chiều nay như đám ma
Mưa chập chùng chẳng thấy ai qua
Tôi ngồi xếp chân trì đại chú
Thấy lòng mình như những cội hoa

Tôi ném sầu bi xa rất xa
Mỗi bước chân một niệm di đà
Ngoài hiên trước lá rơi từng lá
Trong lòng mình rụng một Thích Ca

Cất ở trong ngăn chuyện nắng mưa
Những cơ cầu đi sớm về trưa
Giũ áo phong sương đời đã mỏi
Ngồi xuống đây nghe gió sang mùa

Nguyễn thị Bạch Vân

 

Chiều rơi

Tôi bây giờ đi đâu
Sông nước chảy qua cầu
Đám lục bình tim tím
Ngơ ngác buồn như nhau

Con dốc cuối mù sương
Với mưa nắng vô thường
Mùa tóc xanh tóc bạc
Khóc cười với phấn hương

Loanh quanh đời mệt mỏi
Chân qua suối qua đồi
Thức ngủ cùng duyên phận
Trầy xước với đơn côi

Một ước mơ đơn giản
Là được sống bình an
Hồn tan vào mây gió
Biền biệt cõi đại ngàn

Tôi bây giờ ra sao
Huyệt mộ dắt tôi vào

Nguyễn thị Bạch Vân

( Bình Thuận buổi sáng 12-10-2018)

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Hai 20192:35 CH(Xem: 1046)
Việt Nam cổ thời chỉ được ghi phụ chép trong cổ sử Trung Hoa như các xứ man di phương Nam rồi Tây Nam từng đến xin cống lễ, hay liên quan đến chiến công xâm lược, thực và giá lẫn lộn, của các triều đại—dưới các chiêu bài giáo hóa, phép thờ nước lớn, và/hay chinh phạt. Lịch sử thành văn của Việt Nam thỉ chỉ xuất hiện từ đời Trần (10[20]/1/1226-23/3/1400)—tức Đại Việt Sử Ký (1272) của Bảng Nhãn Lê Văn Hưu (1230-1322)—nhưng đã tuyệt bản, chỉ còn những mảnh vụn sao chép và sửa đổi theo ý thích của các dòng họ cai trị mà Phó bảng Phan Chu Trinh từng chỉ trích là “hủ Nho” [ultra conservative confucianist].
30 Tháng Mười Một 20187:32 CH(Xem: 3564)
Pétrus Key (sau này trở thành Trương Vĩnh Ký) thường được ca ngợi là một học giả lớn miền Nam. Ông có công quảng bá loại tiếng Việt mới, tức quốc ngữ hiện nay mà các giáo sĩ Portugal và Espania đã sáng chế vào thế kỷ XVII. Tuy nhiên, Petrus Key cũng đóng một vai trò đáng kể trong cuộc xâm lăng Việt Nam của Pháp. Ông là một trong những thông ngôn người Việt đầu tiên hợp tác với Pháp, bên cạnh những giáo sĩ thuộc Hội Truyền Giáo Hải Ngoại đã tiềm phục trong vương quốc Đại Nam từ nhiều thế kỷ.
17 Tháng Tư 20197:44 CH(Xem: 107)
Tám bài thơ viết về Khuất Nguyên hoặc có liên quan tới Khuất Nguyên mà chúng tôi đã/ sẽ khảo sát đều được đại thi hào Nguyễn Du viết khi chu du trên sóng nước Tiêu Tương, vùng Hồ Nam - nơi nổi tiếng với “Tiêu Tương bát cảnh” từng thu hút cảm hứng vô hạn của bao thế hệ văn nhân, nghệ sĩ Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam…
17 Tháng Tư 20197:36 CH(Xem: 141)
Sau năm năm tám tháng trong cái án tám năm tù vì tội giết người Sơn trở về xóm nhỏ của mình. Nhà vẫn còn nhưng rêu phong. Những vài năm không người chăm sóc thì cũ như trái đất là phải rồi. Nó phải như một người tù cải tạo tốt thì nhanh chóng trở lại đời thường vì giảm án. May cho Sơn là tay luật sư đã nêu ra những luận cứ hết sức thuyết phục nên chỉ ngộ chứ không cố sát. Anh ta còn khuyên Sơn làm đơn xin kháng cáo. Hy vọng khi phúc thẩm có thể giảm được chút đĩnh nào đó chăng? Nhưng Sơn không. Suốt buổi xử Sơn thừa nhận bằng một thái độ hơn cả hối hận. Cứ như anh ta muốn toà tuyên cho mình cái án tử cho rồi.
11 Tháng Tư 201910:13 CH(Xem: 676)
hoa nở dồn trên sóng \ sóng đập vào thời gian \ tự cái vuông ô cửa \ chợt thấy mình mong manh.
11 Tháng Tư 20199:19 CH(Xem: 491)
Đi từ câu mẹ ru nôi / Em qua trăm nẻo đường đời nắng mưa / Lâu rồi em đã về chưa / Dòng sông vẫn giữ ngày xưa em hiền /
11 Tháng Tư 20198:38 CH(Xem: 654)
Thật ra thì Hiên chưa bao giờ là con nhang đệ tử cửa Phật. Nhưng Hiên rất chăm đi chùa. Mà chả cứ chùa, nghe chỗ nào có đền thờ miếu mạo linh thiêng là mang lễ vật đến. Đến chỗ nào Hiên chỉ cầu xin có một thứ, ấy là tiền.
08 Tháng Tư 201910:51 CH(Xem: 608)
Chiều tiễn anh như chiều tiễn nắng / Nắng vẫn chờ sau liếp hoàng hôn / Sông không chảy để lòng lưu bóng nắng / Và nỗi đau cũng đã hoá tâm hồn
08 Tháng Tư 20199:47 CH(Xem: 461)
Khoảng thời gian ba thế kỉ XVII-XVIII-XIX là thời thịnh của thể loại truyện nôm. Các nhà văn thời này đều có chấp bút và đã lưu lại nhiều tác phẩm văn chương lôi cuốn nhiều thế hệ người đọc. Truyện Phan Trần là một truyện nôm ra đời trong thời kì này, cụ thể là khoảng cuối thế kỉ XVIII, trễ lắm là đầu thế kỉ XIX.
08 Tháng Tư 20199:11 CH(Xem: 628)
"...một người bạn thân thiết nhất, gần như “con chấy cắn đôi”, đã rạn nứt khó có cơ hàn gắn; lạm dụng từ ngữ của giới kinh tế - chính trị, là phá sản! Và sự phá sản đau đớn này, không ngờ lại có liên quan, theo quy luật quả báo của đạo Phật, tới những chùa và biệt phủ ở một tỉnh miền núi vẫn phải xin Trung ương cấp gạo cứu đói..."