- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

NGỒI NHỚ CHUYỆN VỚI NGƯỜI THƯƠNG PHẾ BINH VIỆT NAM CỘNG HÒA.

07 Tháng Năm 20184:58 CH(Xem: 52316)






DuongVe-photoVUKHUE
Đường Về -ảnh Vũ Khuê




                                           ( Những con người bị lịch sử lãng quên và hiện tại không chấp nhận)

 





                                                                                                                        

       Cách đây không lâu, tôi có dịp xem một đoạn phim ngắn trên Youtube, về một nhóm thanh niên đang có hành động gây rối một buổi thiện nguyện của một tổ chức tôn giáo, nhằm vinh danh và tri ân những người thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa tại thành phố Hồ Chí Minh. Thực chất đây là một buổi lễ  nhỏ nhằm mang đến cho những số phận đã chịu quá nhiều thiệt thòi, mỗi người một phần quà , từ những cá nhân,  hội đoàn hảo tâm trong và ngoài nước trong sự hoài niệm, tự cảm thấy có trách nhiệm với những con người cùng sinh ra trong một thế hệ, cùng trãi qua những biến động lịch sử ở một đất nước và rồi…. người còn lành lặn, thành đạt…..kẻ tàn phế, lăn lóc…đầu đường, góc chợ….Một sự tri ân được nhìn dưới góc độ sống còn , mối tương hữu được nhắc lại trong thời khắc ác liệt nhưng cũng thật vô tình của khói lửa chiến tranh.

    Có thể đối với một số người trên quan điểm cực đoan cảm thấy thương tổn và phản ứng. Nhưng với những ai chịu khó suy nghĩ sâu hoặc có thời gian trãi nghiệm song hành với những mảnh đời này, thì đó là việc nên làm và lẽ ra nó phải được tiến hành sớm hơn. Kể cả trên cái nhìn hoàn toàn phi chính trị, như tôi chẳng hạn_ Một thế hệ đi sau, chẳng mang tí dấu ấn nào từ chế độ trước, vào năm 1975  tôi chỉ là thằng bé mười tuổi.…

Kẻ cưu mang những ngày khốn khó

     Điều phải nói, phần lớn những thanh niên tham gia trong việc gây rối này còn khá trẻ, thuộc thế hệ 9X, tức một thế hệ lành lặn, sinh ra sau này trong hòa bình.  Dù có thể quy động cơ của sự việc này là do lòng nhiệt huyết, bồng bột của tuổi trẻ, cộng với sự hấp thụ của một nền giáo dục khá phiến diện đã tạo nên một sự kiện bức xúc, đầy sự bất bình trước những cặp mắt khách quan. Nhưng điều gây ra sự ngạc nhiên lớn nhất là bản chất của sự việc. Chừng như những thanh niên kia hoặc không phải sinh ra và lớn lên trên đất nước này hoặc không có tí khái niệm nào trong sự liên kết với lịch sử, thông qua những hình ảnh đời thường, mặc dù họ dẫn chứng khá nhiều về những câu nói của những nhân vật chế độ trước, những sự kiện đã diễn ra trong cuộc chiến một cách khá rành mạch và bài bản với ngôn ngữ chuẩn mực, đầy tính chỉ trích.

    Trong con mắt những người dân miền Nam trong và sau cuộc chiến, hình ảnh những con người tàn phế mất chân, mất tay, biến dạng một phần nào đó trên cơ thể do trực tiếp cầm súng chiến đấu, dù ở phía bại trận,  không xa lạ gì lắm, hoặc có thể nói là gần gũi. Họ có mặt hầu như trong mọi bức tranh sinh hoạt. Bị mất sức lao động một phần hay hoàn toàn, sự bảo hộ từ một chính thể đã sụp đổ, giờ không còn, chính quyền mới gần như không biết đến sự sinh tồn của những sinh linh này. Họ sống với cuộc sống gần như cộng sinh, nhờ vào lòng nhân ái của con người,  trãi qua bao thời kỳ cải cách , trong biết bao dao dộng và sự tự vấn nội tâm, họ đã tồn tại….. Riêng chỉ điều này, cho ta một suy nghĩ về sự vinh thăng đối với họ rồi.

    Những cộng đồng dân lao động miền Nam chấp nhận họ, , cắt đứt cho họ một phần cơm áo ít ỏi trong thời buổi bao cấp khốn khó, chia sẻ một nơi nương náu  trong những căn nhà trôi dạt, nhỏ nhoi; xem họ như một phần máu thịt của mình ….. cũng như họ đã chấp nhận những dòng di lưu từ miền Bắc đổ vào, trước đây vào năm 1954, thời kỳ đói kém hậu chiến tranh 78-79 và cả dòng chảy sau này cuồn cuộn và dằng dặc….Nói tới đây, ta cũng nên đặt một vài lời trân trọng cho sự độ lượng và lòng bác ái với riêng nhân dân miền Nam.

      Với bối cảnh kinh tế không có gì sáng sủa vào thời hậu chiến, ở thành thị; cán bộ , công nhân viên_ Một thành phần có thể được gọi là ưu tú nhất trong xã hội, đều sống nhờ vào nguồn cung cấp thực phẩm, nhu yếu phẩm nhỏ giọt là tem phiếu. Những cơ sở của nhà nước gọi là mậu dịch quốc doanh kiểm soát thị trường này. Thực chất nó chỉ sở hữu vào khoảng 1/10 dân số tham gia, có lẽ thấp hơn nữa, vì có mấy công ty, xí nghiệp quốc doanh hoạt động, phần lớn là các cơ sở chính quyền,  các ban ngành thuộc nhà nước quản lý như: điện, nước, bưu cục, viễn thông, giao thông vận tải, giáo dục…..Phần dôi ra còn lại, phải kể đến các hợp tác xã buôn bán của địa phương, với cung cách trao đổi hàng hóa giữa các địa phương với nhau ,mua đi bán lại cho nhân dân sở tại. Những cơ sở phục vụ địa phương này còn tệ hơn bên quốc doanh, luôn thiếu thốn về mặt hàng cũng như số lượng và mang tính chất theo mùa, được cái nó phổ thông . Con số tham gia thị trường này cũng khá khó xác định….. Nhưng cuối cũng , có lẽ đông nhất, nhộn nhịp nhất, đa dạng nhất, khó kiểm soát nhất là thị trường tự do_ Những  thị phần buôn bán nhỏ, cá thể cộng với đám dân đủ các thành phần của cái “ Chợ trời”. Điểm khác nhau giữa họ là có môn bài và không có môn bài. Điểm giống nhau của họ là gần như dùng chung một không gian…. Nơi mà ta có thể tìm thấy bất cứ cái gì. Từ những thứ xa xỉ, lạ mắt không biết dùng để làm gì của bọn tư bản ngoài tầm với đến những vật dụng xù xì, gai góc, đầy bất tiện của đám anh em xã hội chủ nghĩa. Nơi những di sản đầy máu và nước mắt của Mẹ Việt để lại từ bốn ngàn năm được trao đổi ngang  với giá trị của một bánh xà bông Cô Ba và mấy cái khăn lông……Không có tính hệ thống, hoàn toàn mang tính chất tự phát, thậm chí chẳng cần vốn liếng và số tiền trao đổi chỉ có giá trị “dằn bụng” một hay vài nhân mạng trong ngày, sự đổi chác đơn thuần trên phương diện “ Tiền trao, cháo múc” ….nhưng đó là mảnh đất nuôi sống  biết bao con người tàn tạ, bầm dập sau cuộc chiến, nay lại phải đối đầu với cuộc mưu sinh đầy sự bóp nghẹt và thách thức của một nền hòa bình vừa dụi mắt, tỉnh giấc.  Và cũng trên mảnh đất cuối cùng còn sót lại của tự do , nơi chen lấn giữa lòng tự trọng và sự lừa lọc, giữa danh dự và sự ngã giá, quá khứ hào quang và hiên tại tăm tối, miếng ăn và sự tự hủy hoại…Nơi tưởng chừng của khốn cùng và thoái hóa, vẫn mọc lên những mầm cây của từ tâm và chia sẻ, của độ lượng và nhân bản, của con người và con người….và những hình nhân bị cuộc chiến  cướp đi một phần khuôn dạng, đã sống nhờ vào mảnh đất cuối cùng ấy trong sự đùm bọc vô lượng của nó, để đi qua một thời khốn khó!

     Ngày đó, chính cái thị trường bị ruồng rẫy, sự cưu mang của nó đã nuôi sống biết bao nhân mạng. Nó nuôi sống chính nó. Nó nuôi sống hầu như cả phần lưu cửu còn lại của dân tộc Việt sau cuộc chiến và những số phận trôi dạt vào những năm mà nền kinh tế Việt khốn quẫn. Phần trầm tích mà chế độ trước còn để lại; ăn xin, vô gia cư, trẻ mồ côi, tâm thần, hút xách, đĩ điếm, con lai, nạn nhân chiến tranh…..Phần những người thương phế binh Việt nam cộng hòa, nay không còn nguồn trợ cấp, tật nguyền , mất sức lao động….Phần những dòng chảy nông dân miền Bắc từ các tỉnh Quảng Bình, Thanh Hóa, Nghệ An….trôi dạt vào Nam vào những năm mất mùa, đói kém….Phần những người đi kinh tế mới, không chịu nổi cuộc sống khó khăn, đào thoát trở về phố thị, trở thành thứ  vô gia cư, vì nhà cửa đã không còn của mình….Hỏi thử với tất cả  những thành phần này, bao nhiêu con người????

     Ngày nay, với những doanh nhân đeo kính trắng, đầu óc đầy những kiến thức từ Âu Mỹ trở về, đi những chiếc xe hơi bóng lộn, nhức mắt….số vốn hàng triệu đô, có khá nhiều thị phần trong các thị trường khác nhau, liệu có làm được những điều mà “thành phần buôn bán nhỏ lẻ và cái đám chợ trời” ngày ấy, đã và từng làm được cho đất nước này hay không????... Và không chỉ riêng tôi đang mong câu trả lời từ phía quý vị.


Chân dung:

Ngày trở về, anh bước lê
Trên quãng đường đê đến bên lũy tre
Nắng vàng hoe, vườn cau trước hè cười đón người về.
Mẹ lần mò, ra trước sân nắm áo người xưa, ngỡ trong giấc mơ
Tiếc rằng ta, đôi mắt đã lòa vì quá đợi chờ
Ngày trở về, trong bếp vui
Anh nói chuyện nghe, chuyện đời chiến sĩ
Sống say mê, đường xa lắm khi ngưng hồn về quê…..
(Ngày trở về- Phạm Duy)

  Dù đã hơn bốn mươi năm đi qua, tôi còn nhớ khá rõ hình ảnh của hai người đàn ông tật nguyền, hàng ngày vẫn dắt díu nhau đi qua cái chợ và giọng hát u buồn cho một giấc mơ chẳng bao giờ trở thành hiện thực. Người đi trước cụt cả hai tay đến khuỷu, một con mắt bị mù, một chân được thay thế bằng một khúc gỗ. Đeo bên hông cái loa sắt, trước ngực là cái cà mèn inox của quân đội, nơi chứa đựng tất cả những gì gọi là tình người, của những con người đã bị thời thế vắt quặn đến khánh kiệt, chỉ còn mỗi tấm lòng. Đôi lúc đó là những đồng kẽm, vài tờ giấy bạc, có khi lại là nắm xôi đậu, một trái vú sửa, vài quả chuối cau…..người đi sau, mang theo cây guitar và cũng là ca sĩ chính. Cuộc chiến từ đâu đó xa lắm, không thể hình dung đối với một thằng nhóc như tôi, cũng được mường tượng lại khi nhìn thấy gương mặt bị phỏng cháy, hai hốc mắt đỏ lòm không còn con ngươi đó. Cả hai mặc bộ đồ trận bạc màu; vá chằng, vá đụp và trên đầu là những chiếc bê rê rằn ri tơ tướp. Một sợi dây dừa nối hai sinh linh tật nguyền để tạo thành một sinh thể thống nhất, mang tính bù đắp, tối ưu của thích nghi nhưng không thoát khỏi vẻ dị hình, sự mất định hướng đến vụng về của một phần cơ thể mù lòa được kéo lê phía sau. Nhìn họ di chuyển như hình ảnh một con sâu đo, bị chiếp dép quằn nát khúc giữa, ngúc ngắt vô vọng nhưng trong đó là cả hai thân phận con người và tự thân, chừng như họ cũng đang quằn quại với nỗi đau mưu sinh.

        _ Lại cho chú thương phế binh kia năm chục đi con!

       Là một người suốt đời sống với cái chợ, má tôi thường nói với tôi khi nhìn thấy hai con người thống khổ ấy. Tôi cầm tờ giấy bạc, chạy tới, bỏ vào cái cà mèn và đáp lại, luôn là một tiếng “Cám ơn” nhẹ nhàng, của những con người có tâm hồn thật tử tế.

…….

       Vào những năm 1983, khi trên mặt những tờ báo Quân đội nhân dân mà ba tôi đem về, vơi dòng những dòng tin chiến sự ngắn ngủi về cuộc chiến Biên giới Tây Nam. Những tưởng cuộc chiến đã vào hồi kết. Trong xóm những nhà có con em đi lính, ai cũng nao nao. Nhưng sao lớp đàn anh này chưa về, lớp đàn anh khác vẫn có giấy gọi nhập ngũ. Một bầu không khí nặng trình trịch, từ đầu trên, xuống ngõ dưới….vì ai nấy cũng đều mang nặng một sự mong đợi quá lớn lao. Bình thường thì khác, nhưng khi những mầm mống của hy vọng được gieo vào lòng người lại khác. Những bậu cửa mòn vẹt đi vì số lần những bàn tay bám víu vào nó khá nhiều. Ánh nắng ban chiều không còn mang vẻ gắt gỏng như xưa, nó đùng đục, lòe nhòe, kéo màng.  Những khuôn mặt con người trông già đi, cằn cỗi hơn vì suy nghĩ về người khác nhiều hơn. Nhìn đâu cũng chỉ còn thấy những con mắt. Những con mắt nói lên tất cả…. Cái xóm nhỏ như bị vắt kiệt, khô tóp lại vì hy vọng. Lần đầu tiên tôi mới cám nhận được nỗi buồn chiến tranh nhìn từ góc độ hậu phương. Dù cái loa phường vẫn ra rả những khẩu hiệu khích động tinh thần quen thuộc, nhưng bây giờ, nó chẳng tác động vào con người mấy tí.

    Rồi cũng có người về…Lác đác. Khuôn mặt hốc hác, nước da đen sạm. Cái mũ nồi Polpot, bộ đồ vải Tô Châu, màu áo rằn ri lính Xê rây ka…lạ lẫm. Những thanh niên trở về mang theo một mầm bệnh lạ từ chiến tranh. Một cái gì đó đã làm thay đổi một phần hay hoàn toàn con người họ theo một chiều hướng, mà những kẻ ở hậu phương không thể biết đến. Tùy thời điểm, mầm bệnh có thể phát tác ngay hoặc tiềm ẩn, chờ đợi một cơ hội. Một thứ ung nhọt về tinh thần đã kết tụ, lớn lên trong những năm tháng chiến tranh, ức chế ….mà tự thân con người  không thể nào giải tỏa. Cạnh tranh  với một hoàn cảnh sống khác , nó quẫy lộn, dằn vặt họ từ nội tâm. Trạng thái tâm lý của họ rất khác nhau, đôi lúc họ trầm tư, tự kỷ, sắt đá ….đôi lúc họ nói nhiều, rất nhiều …nhưng không ai hiểu được họ nói gì. Nó làm họ trở nên khó gần, tính khí kỳ quặc và bất bình thường. Không chỉ những kẻ bên ngoài , mà cả những người trong gia đình cũng hoàn toàn xa lánh. Thời gian dần trôi, có những người thích nghi được với cuộc sống hiện tại và hoàn toàn khỏi bệnh, nhưng ngược lại, có kẻ nặng nề, trầm kha hơn…. “_ Đ. Má! Cây 12 ly bảy, nó đặt ác quá. Không cách nào vô được. Thằng trinh sát vô gục. Thằng B.40 vô cũng gục luôn. Hai ngày sau, cối 60 mới tới. Tụi nó chạy hết. Kéo xác hai thằng ra; giòi con nào, con nấy bằng ngón tay….” Anh Hiện_ Lính vận tải 78,  mỗi sáng, tay cầm chai rượu đi thất thểu, miệng lảm nhảm một mình ngoài đường.

      Người ta thường viện muôn vàn lý do có thể hình dung được để nói về những người này; “ Thằng đó bị miểng cối trúng dây thần kinh”, “ Thằng lúc nhảy xuống, đầu bị táng vô bửng xe M.113”…..Ít ai chịu suy nghĩ sâu hơn và có chuyên môn hơn….

    Nhưng có một số người hiểu họ, gần gũi họ, định hướng họ trở lại cuộc sống thường ngày. Trong xóm, ông Sáu là một trong số ít ỏi nhũng con người đó. Thương phế binh Việt nam cộng hòa, ông thượng sĩ già một chân này ngày ngày vẫn chạy chiếc xích lô để đưa mấy mợ bán cá từ bãi lên chợ, bằng cái chân gỗ ép , để kiếm sống, nuôi đàn con tám đứa lóc nhóc. Bà vợ, người đàn bà người Huế béo ục ịch, sáng nào cũng làm một nồi bún bò to tướng trước cổng ủy ban phường. Đứa con trai lớn của ông đi lính đang chiến đấu bên K.

      Đầu xóm có anh thương binh cũng từ K về, cụt hai chân tới háng. Anh này vừa có vợ và chị vợ đang mang bầu, làm đâu trên hợp tác xã mua bán. Trước nhà anh mở cái quán nhỏ sửa chửa, vá lốp mấy chiếc xích lô, xe đạp của người qua đường. Anh khoảng hai mấy, tướng tá trông rất thư sinh, khuôn mặt điển trai, đặc biệt là làm thơ và đánh cờ tướng rất giỏi…..nhưng tiếc….chiến tranh tàn độc quá. Nó không những ngắt đi một phần thân thể đầy sinh lực của một thế hệ mà còn hủy hoại cả sự tinh anh của những tinh hoa. Anh cũng thuộc thành phần não trạng có vấn đề!

     Cứ năm ngày lại có một bữa, chị vợ người  bầm tím, đầu tóc rối nùi, nước mắt ròng ròng trên má….chạy khắp đầu trên, ngõ dưới; miệng tức tưởi la:

    _ Bớ bà con….bà con ơi! Ảnh đánh tui…ảnh đánh tui!

   Hàng xóm láng giềng nghe chuyện, rần rần chạy tới, xúm nhau can ngăn, câu chuyện mới dịu dần xuống. Chỉ tội chị vợ buổi tối phải xách mùng mềm, chiếu gối đi tìm một nhà hàng xóm nào đó, để ngủ nhờ. Má tôi chứng kiến, tắc lưỡi:

  _ Thằng khùng, ai biểu lấy nó làm chi!....

 Trong một lần đem chiếc xe đạp đi vá, tôi tình cờ  ngồi nghe câu chuyện của hai người đàn ông tàn phế, đang trãi lòng với nhau.

   _ Con bị ở đâu? Ông Sáu hỏi.

  _ Dạ Pretvihia….Người thương binh đang thoa keo lên cái ruột xe xích lô của ông Sáu, trả lời.

 _  Còn chú?

  _ Qua bị ở Quảng Đức…. Pháo kích.

  _ Con bị mìn.

  _ Bên đó đánh đấm sao?

  _ Tụi nó trốn trong dân. Cũng đặt mìn, gài lựu đạn…mình dính hoài!

  _ Cũng giống mấy ông cộng sản lúc trước phải không. Cối , B. 40 treo trên cây đi qua gạt rớt đúng không?

  _ Dạ , cũng y chang!

  _ Thằng con lớn của qua đang ở bên đó.

  _ Dậy hả Chú. Nó  ở chỗ nào?

  _  Đâu ở   Stungtreng. Lâu rồi nó không viết thư. Ông trầm ngâm_ Đánh nhau, lính tráng….Thanh niên sống ở chế độ nào cũng phải theo chế độ nấy thôi!... Trốn chui, trốn lủi hoài đâu được. Rồi vô cuộc…giáp trận, mình không bắn nó, nó bắn mình.

  _ Dạ….

  _ Mất chân, mất cẳng nhưng sống sót về là may mắn rồi….nhiều người nằm lại , tới hình hài  hổng còn chút gì. Tan nát trong bụi đất hết.

   _ Dạ….

   _ Giờ về….chí thú làm ăn. Quên hết đi con…..Nợ nần non sông coi như trả xong .

  _ Dạ…

Không gian có chiều yên lặng. Rồi ông bỗng bật cười lớn:

_ Vậy mà hồi bữa, mấy thằng du kích loi choi, nó nói qua còn nợ máu nhân dân….

    Anh thương binh cụt hai chân cũng  cười:

 _ Máu me gì nữa, chú ơi!. Tụi con cũng con cháu cái đám ngụy quân, ngụy quyền chớ đâu. Nợ nần cha ông, thế hệ tụi con cũng trả sạch sẽ rồi!

_  Thằng này nói chuyện qua nghe được à!.....Thôi cứ vậy mà sống! ….À mà đừng có đánh con vợ mày nữa nghe! Nói xong ông lê cái chân gỗ lộp cộp; bước thấp, bước cao về chiếc xích lô vừa mới sửa xong.

    ……

     Dạo sau này, vào khoảng năm 93, sau khi tốt nghiệp trường Trung cấp Thủy sản, không có việc làm, tôi quay ra chạy xích lô ban đêm kiếm sống. Cái ngã sáu trước chợ Đầm Nha Trang là cái địa điểm lý tưởng để đón những người khách bộ hành từ khu vực phía trong như khu chung cư, bến xe ngựa, Xương huân….để đi ra bến xe hoặc ga tàu. Ngoài ra còn có những người đàn bà đi chợ sớm cho việc cúng lễ, giỗ quãy. Những khách mối cho việc lấy hàng , rồi phân phối cho những chợ nhỏ, phụ lưu. Tại đây tôi có gia nhập vào tổ xích lô 3 người. Tuy tuổi tác khác nhau, hoàn cảnh sống khác nhau, nhưng chúng tôi cùng chia sẻ miếng cơm, manh áo từ những cuốc xe, khá là dễ chịu. Thông thường tôi là thằng thanh niên khỏe nhất và nhỏ tuổi nhất trong đám, nên luôn nhường nhịn cho mấy người kia chạy trước. Đôi lúc tôi cũng vấp phải những lời cự nự:

    _ Mày cứ nhường cho tụi tao hoài, lấy tiền đâu mà nuôi gia đình mậy?

     Tôi thường giã lã cho qua chuyện:

   _ Em mới ăn xong, đạp xóc hông…Mấy anh chạy trước đi!

    Thực ra tôi cũng thật ái ngại khi nhìn thấy những thân người tàn phế đã cung hiến một phần thân thể mình cho đất Mẹ, dù cho lý tưởng của họ là gì, nhưng cũng thật đáng tôn vinh, nay phải còm cõi với ghánh nặng gia đình, lọc cọc trên những phương tiện thô sơ vào bậc nhất thế giới, lặn lội mưu sinh. Nhìn cái dáng người lệch hẳn một bên, với chiếc chân gỗ, xiêu vẹo như chực đổ, rồi lại rướn lên, làm một vòng tròn mới ….Con đường thăm thẳm , trống vắng dưới ánh đèn vàng, đầy hạt mưa bụi, những chiếc lá vàng mùa thu lả tả và chiếc bóng khập khểnh, cô độc , vắt ngang  ……những dãy phố đứng im lìm….. Ai thấy mà không se lòng!

     Người thứ nhất là trung sĩ nhất, trung đoàn 47, sư đoàn 22 bộ binh, mất một chân tại Tuy Hòa, Phú Yên năm 1974

    Người thứ hai binh nhì, sư 2 cũng mất một chân trong một cuộc hành quân tiểu phỉ ở Tây Nguyên năm 1985.

   …..

        Độ khoảng năm 2000 trở về sau, ta có thể ít bắt gặp hình ảnh của người thương phế binh Việt Nam cộng hòa trong cuộc sống đời thường. Có thể họ đã khá luống tuổi, rút lui khỏi bề nổi của những sinh hoạt xã hội. Có thể trong sự đổi mới, kinh tế khá dần lên và thế hệ con cái đã lớn, họ không muốn cha anh mình tiếp tục với nghiệp kiếm sống cơ cực. Một vài chính sách cứng rắn của chính quyền, đã quét họ khỏi mảnh đất sống truyền thống, khiến họ phải chuyển sang những nghề khác để tiếp tục tồn tại… Tuy vậy vẫn còn rãi rác đâu đó, ở những tỉnh lị ven đô  miền Nam là những mái đầu nhuốm bạc, những thân hình tàn phế bị bào mòn bởi chiến tranh và cả thời gian, trên chiếc xe lăn, dưới cái nắng gắt gỏng…trên tay là tập vé số, giọng nói khản đặc vì lời mời chào….Trong những trường hợp đó, tôi thường dừng xe, mua vài tờ vé số ủng hộ…và luôn là tiếng cám ơn, như một âm giọng vọng lại từ một thời đã qua, của những tâm hồn thật tử tế!

   
Tương lai thật xa vợi và có thể bị quên lãng:
    Nếu giờ đây ai có đặt câu hỏi” _ Liệu tương lai của những người thương phế binh Việt Nam cộng Hòa sẽ ra sao?” Chắc tôi cũng sẽ ngồi cười trừ và gãi đầu, vì bạn đã đẩy tôi vào một tình thế thật lúng túng. Tôi không phải là một nhà nghiên cứu đúng nghĩa có chuyên môn về các thành phần xã hội và đưa ra những giải pháp khả thi để giải quyết một vấn đề. Tôi chỉ là một người ghi chép lại những hình ảnh về những con người bất hạnh thuộc một thành phần, mà trãi qua những biến cố lớn của lịch sử, họ trở thành những nạn nhân bắc đắc dĩ. Tồn tại trong sự bỏ rơi và quên lãng, gắng gượng đi nốt những cung đoạn cuối của cuộc đời.

     Tôi cũng tự hỏi  chính mình “_ Liệu với lứa tuổi 60 trở lên ( 1975, 18 tuổi; hiện nay 2017) người ta sẽ làm được gì?

       Ở xã hội Việt nam hiện tại, vẫn chưa có một chính sách nào trên danh định về việc giúp đỡ hay tạo điều kiện làm ăn cho những người thương phế binh thuộc chế độ trước. Dù vậy vẫn có một số chính sách song hành như xóa đói giảm nghèo (Dù đã được tuyên truyền khá nhiều, nhưng qua một số cuộc tiếp xúc, một số người dân vẫn ngại tiếp xúc với nguồn vốn này) , những người trên tám mươi tuổi được hưởng bảo hiểm y tế và một số chính sách hỗ trợ không phổ quát khác. Tôi gọi đó sự không phổ quát vì điều đó bao gồm hàm ý, không biết thành phần mà tôi đang nói đến có được hưởng lợi từ nó hay không? Có thể những vấn đề trên cũng tạo được một cái nhìn tốt cho sự quan tâm của chính quyền, ngoại trừ những hoàn cảnh đặc biệt như bán thân bất toại cần người chăm sóc, hoặc neo đơn chẳng hạn….Nhưng trên hết họ vẫn được xem là nhân dân và có đủ các quyền lợi của một công dân. 

   Những hợp tác xã, những hiệp hội, đoàn thể của những người tàn tật cũng tạo được một số công ăn, việc làm nuôi sống những con người này. Ngoài ra, đó cũng là mục tiêu nhắm đến của các tổ chức từ thiện do những nhà hảo tâm, các doanh nghiệp tư nhân trong và ngoài nước. Có thể số tiền hoặc quà trị giá không lớn, nhưng nó cũng giúp những con người tàn phế ấy vượt qua những giai đoạn khó khăn và thể hiện một tấm lòng. Tự tôi nghĩ, thực ra cũng không thiếu những con người muốn giúp đỡ một cách chính danh, nhưng họ cũng ngại động chạm đến những vấn đề nhạy cảm. Điều này, cũng rất mong mỏi một sự cởi mở của chính quyền. Đã hơn nửa thế kỷ, tiếng súng lắng im trên đất nước này, nhưng vẫn còn những phận người rất cần sự giúp đỡ.

      Vào khoảng năm 1998,  ba tôi , một cựu quân nhân quân lực Việt nam công hòa, bị chứng đột quỵ, khá đột ngột. Kinh tế gia đình tụt dốc đáng sợ, phần lo thuốc thang, phần phải có người nghỉ việc để chăm sóc riêng. Chỉ vài tháng sau khi ngã bệnh, sự túng bấn đã ập đến, vơ vét dần những thứ có thể bán được như chiếc hon da, cái máy may….Cho đến nửa năm sau, ông ngồi dậy được, dù vẫn liệt một nửa thân người thì cái nhà đã trở nên trống trơn, không còn gì để bán, lúc đó tôi đang làm cho một công ty đóng tàu Hàn quốc. Số tiền lương của tôi hàng tháng được dùng để chi trả cho thuốc men cho ông và sinh hoạt của gia đình. Nhìn ông đi lại khó khăn, tôi vẫn ước mơ một chiếc xe lăn làm phương tiện cho di chuyển. Một người lớn tuổi có cho tôi địa chỉ một hội bảo trợ Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa có trụ sở ở California (Hoa Kỳ) , bảo tôi nên viết thư cho họ. Tôi đã viết hai lá thư và chờ đợi…nhưng không thấy hồi âm.  Bị đột quỵ lần hai, ba tôi lâm vào cuộc sống thực vật. Nửa năm với cuộc sống không lí trí, ông ra đi. Riêng tôi, đôi lúc tôi vẫn còn mơ thấy ông với chiếc xe lăn và vẫn chờ đợi….

       Gần đây, tôi có xem trên Youtube và được biết số điện thoại cũng như địa chỉ của hội cứu trợ Thương phế binh và quả phụ Việt Nam Cộng Hòa tại hải ngoại. Tôi xin ghi ra đây, để ai thấy cần thiết, xin liên hệ trực tiếp. Hy vọng ngày nay với những phương tiện truyền thông hiên đại như Internet, điiện thoại di động. Những điều mong mỏi của quý vị sẽ được đáp ứng đầy đủ và nhanh chóng hơn.

Hội HO cứu trợ Thương phế binh và quả phụ Việt Nam Cộng Hòa (Disable Veterans and Widows relief Association)
Địa chỉ/ Address: P.O Box 25554 , Santa Ana, CA, 72799, USA.
Điện thoại: (714) 837-5998, (714) 842-7656, (714) 788-4753, (714) 371-7967, (714) 702-4725
Website: http://www.camonanhtb.com

       Một sự kiện khá mới mẻ, cũng đáng được ghi nhận là bản dự thảo SJR5 của Thượng nghị sĩ Janet Nguyễn, yêu cầu chính quyền liên bang lại lập chương trình tái định cư vì lí do nhân đạo và chương trình ra đi có trật tự, cho phép hơn 500 hồ sơ sĩ quan thương phế binh  Việt Nam cộng hòa cùng gia đình  định cư tại Hoa Kỳ , đang được xem xét  tại quốc hội liên bang….Trong khuôn khổ còn đang nghiên cứu, nhưng nó được đánh giá là một nỗ lực lớn của cộng đồng Việt tại hải ngoại trong việc cứu vãn phần nào còn lại cuộc đời những con người cùng thời nhưng đã chịu quá nhiều bất hạnh.

     Vài lời cho thế hệ trẻ:

       Phải nói rằng thời đại mà chúng ta đang đứng là một sự chênh vênh đáng sợ của tình người và sự cảm thông. Ngày công sở tám tiếng, tối về giải tỏa những ức chế bằng những sự kiện xã hội  mang tính thu nạp kiến thức nhiều hơn mổ xẻ vấn đề , (đó là chưa nói đến viếc phẩu thuật bằng phương tiện gì, ai trang bị nó cho chúng ta) và tương tác với những tác nhân văn hóa thuần túy giải trí. Và  điều đó làm cho chúng ta nghèo dần về mặt tình cảm. Điều này chúng ta có thể quy chụp cho một xã hội công nghiệp và một số lý do mà chúng ta không tiện nói ở đây.

     Giả sử, sống trong cuộc sống của các bạn, ở thế kỷ 21, tôi cũng thực hiện những bước mà các bạn đã làm. Đầu tiên, phải kiếm một công việc. Cái mà chúng ta phải biết, là cám ơn thời đại Internet và người phát minh ra nó. Bạn không  cần phải chạy đôn, chạy đáo;  lòng vòng cách xa khu vực bạn ở 5,7 cây số hoặc ½ vòng trái đất, tại những khu công nghiệp hoặc các nhà máy để tìm một bảng cáo thị cần người. Một cái smart phone, một cái máy tính bảng hoặc một cái máy tính để bàn là đủ để thực hiện công việc này rồi. Việc cần làm tiếp theo là lướt web. Tìm kiếm những trang tìm việc của các công ty môi giới công việc trong và ngoài nước. Vietnam work, Career link, Tìm việc nhanh, Lina Job…vv. Thực tế, trong đó cũng khá nhiều công việc phù hợp với trình độ kiến thức, lứa tuổi, sức khỏe…

     _ Tốt nghiệp thạc sĩ, đại học, cao đẳng, trung cấp, phổ thông trung học ( Cùng lắm lớp 9)

    _ Có tay nghề, kinh nghiệm bao năm????

   _ Sức khỏe tốt, phù hợp với công việc…( Không dị hình, dị dạng đối với một số ngành nghề)

     Bạn lựa chọn được một số công ty, có cùng tiêu chí tuyển dụng. Với mẫu đơn có sẵn , bản cần ghi đầy đủ vào đó theo hướng dẫn….và cuối cùng, gấp máy lạ. Ngồi đợi phỏng vấn.

     Được gọi phỏng vấn là đã vượt đến 3/4 đoạn đường nhưng chưa hẳn. May mắn chưa mỉm cười với bạn.

   Ít nhất cũng phải đến lần thứ tư, thứ năm gấp máy, khi bạn cảm nhận rằng cái việc đi xin việc với một người đầy đủ tiêu chuẩn sức khỏe và có học vấn như bạn là khó khăn như thế nào, họa may một cánh cửa hé mở ra cho bạn!....Đó là nói đến việc những người có tay chân đầy đủ, sinh lực tàn trề của một thanh niên với khát vọng cống hiến như bạn.

  Bạn thật may mắn!

     Tôi đã mở máy và gấp lại cả trăm lần, để đi tìm một vận may cho những kẻ không may. Cũng trên những trang web đó,  một công việc, vài tiêu chí thích hợp cho những con người mà tôi đã nói đến ở đầu bài. Tỉ lệ bao nhiêu, bạn biết không?..... Vô vọng!  Với những con người hiện nay đã vào tuổi sáu mươi hoặc hơn, chiến tranh lấy đi một phần cơ thể, hầu như mất sức lao động hoàn toàn, với trình độ học vấn lớp 3 , lớp 4 đến tú tài, sống hoàn toàn không có một nguồn trợ cấp…..

   Với sự may mắn hôm nay của thế hệ các bạn, bạn đã bỏ lại phía sau những gì , bạn biết không?

……

     Đoạn kết:

      Thỉnh thoảng rỗi việc, tôi vẫn hay phóng xe loang quanh, đi tìm một tiếng cám ơn như lời tri ân từ một câu chuyện xưa cũ, nhưng càng lúc càng hiếm gặp những con người đó. Gần đây,  trên chuyến xe buýt  từ Thủ Đức lên Ngã tư An Sương, tôi có gặp một người đàn ông tàn phế bán vé số dạo. Nhưng sau khi hỏi han, tôi biết anh không phải là một thương phế binh, anh là một nạn nhân chiến tranh, quê ở Long An. Tai nạn xảy ra khi anh mới 15 tuổi, trong một buổi phát bụi trồng mì, anh va phải một đầu đạn M.79 chưa nổ. Anh bị mất hai cánh tay, mù một con mắt, khuôn mặt như biến dạng hoàn toàn….

     Theo số liệu thống kê không chính thức của hội HO cứu trợ Thương phế binh và quả phụ Việt nam Cộng Hòa, hiện có khoảng hơn 500 sĩ quan và 15,000 hạ sĩ quan cũng như binh sĩ thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa hiện đang còn sinh sống tại miền nam Việt Nam.

 ……

Người quê còn nhớ người chăng
Vì ai vào chốn tử sinh
Chiến trường quên, quên mình
Người về có nhớ thương mình!
( Nhớ người thương binh _ Phạm Duy /1947 )   

 

                                                                            

Nha Trang, 31 tháng 10 năm 2017          
Vũ Khuê

                                                                                                                        

 

  

     

   

       

       

       

 

 

                                               

   

   

      

   

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
07 Tháng Mười Hai 201012:00 SA(Xem: 131552)
Đọc truyện ngắn “ Trả lại tiền ” in trong tập truyện “ Vài mẩu chuyện ” của nhà văn Cao Xuân Huy (tạp chí Văn Học xuất bản, 2010), tôi không khỏi mỉm cười bởi cái phong cách khôi hài đen của câu chuyện—truyện của Cao Xuân Huy đa phần đều như thế...
12 Tháng Mười Một 201012:00 SA(Xem: 106216)
LTS: Bài phỏng vấn nhà thơ Đặng Hiền được thực hiện bởi nhà thơ Go Hyeong Ryeol Tổng biên tập tạp chí Thi Bình (The poet society of Asia ) trong số mùa Đông 2009. Phần chuyển ngữ do Giáo sư Tiến sĩ Yang Soo Bae thuộc đại học Pusan University of Foreign Studies tại Hàn Quốc biên dịch. Chúng tôi hân hạnh giới thiệu đến quí văn hữu và độc giả Tạp Chí Hợp Lưu.
05 Tháng Mười Một 201012:00 SA(Xem: 225214)
LTS: ... Nhân dịp cuộc đàm phán Việt-Hoa về Hoàng Sa và Trường Sa đang khởi sự - mà theo chúng tôi Việt Nam nên từ chối ký bất cứ một văn kiện tay đôi nào với Bắc Kinh,và cương quyết đòi hỏi một hội nghị quốc tế do Liên Hiệp Quốc bảo trợ, để tránh ô danh đời đời trong lịch sử dân tộc như cha con Hồ Quí Ly, Mạc Đăng Dung... xin trân trọng giới thiệu với quí độc giả thân quí những giải đáp thuần túy chuyên nghiệp về sử học của sử gia Vũ Ngự Chiêu. TẠP CHÍ HỢP LƯU
31 Tháng Mười 201012:00 SA(Xem: 110894)
ĐNV_5: Nếu một nhà xuất bản trong nước nhìn ra được giá trị thực của “ Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch” , và họ muốn in để phát hành trong nước, và điều kiện tiên quyết là phải có giấy phép. Mà để có được giấy phép xuất bản, họ phải "biên tập" lại nhiều đoạn, nhiều câu có tính chất "nhạy cảm" theo cách hiểu của nhà xuất bản, và trường hợp xấu nhất, là phải cắt đi một số chỗ. Vì nếu không, dù là một người có tâm huyết với đất nước hay một nhà xuất bản có nặng lòng với vấn đề chung, cũng không thể xuất bản được. Vậy quyết định của anh trong vấn đề này như thế nào, và tại sao?
08 Tháng Mười 201012:00 SA(Xem: 142495)
Đ êm Sài Gòn đứng đường bơ vơ Dòng người mênh mang không ngày yên lặng Còn con đường nào cho em Mộng mơ là trò chơi xa xỉ
13 Tháng Tám 201012:00 SA(Xem: 110055)
III. TUYÊN CÁO CHUNG 16/6/1963: Do áp lực Mỹ, từ giữa tháng 5/1963, Diệm đã gặp lãnh tụ Phật Giáo để thảo luận về 5 đòi hỏi ngày 10/5. Tuy nhiên, chế độ chỉ muốn kéo dài thời gian để vô hiệu hóa dần cuộc tranh đấu.
13 Tháng Tám 201012:00 SA(Xem: 121992)
IV. GIỌT NƯỚC LÀM TRÀN LY: Sau khi Nolting rời Việt Nam, anh em Diệm-Nhu quyết chào đón tân Đại sứ Lodge bằng vài món quà ngoạn mục. Hai món quà lớn nhất là cuộc tổng tấn công các chùa trên toàn quốc và công khai tiếp xúc với sứ giả Hà Nội.
13 Tháng Tám 201012:00 SA(Xem: 119250)
Cuộc tranh đấu của Phật Giáo năm 1963 là đề tài còn gây nhiều xúc động và tranh cãi. Tuy nhiên, tới nay vẫn chưa có nghiên cứu sử đích thực nào về đề tài này. Một trong những lý do là thiếu sử liệu. Tài liệu văn khố chưa hoàn toàn giải mật, và số người được tiếp cận tư liệu văn khố Đệ nhất Cộng Hòa không nhiều.
05 Tháng Tám 201012:00 SA(Xem: 128047)
( Người sống sót từ trận bom nguyên tử Hiroshima: Bà Tomiko Matsumoto ) LTS: Trần Huyền Sâm sinh năm 1973, hiện là Giảng viên Khoa văn trường Đại học Sư phạm Huế. Tác giả cuốn Tiếng nói thi ca (Nxb Văn học, 2002), giải thưởng Hội nhà văn Thừa thiên Huế 2003, và cuốn Lý luận văn học phương Tây - Tự sự học kinh điển (Nxb Văn học, 2010). Lần đầu tiên cộng tác với Hợp lưu.
30 Tháng Bảy 201012:00 SA(Xem: 105470)
Khi chúng ta đã thôi nhau anh mới chợt nhận ra Rằng mùa thu đổi sắc lá thành màu mái tóc em Tròn như một vòng trong xoắn ốc như bánh xe trong bánh xe Không kết thúc hoặc bắt đầu trên guồng quay không dứt
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3808)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13261)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19629)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18608)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1592)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1744)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2255)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2388)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1427)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2194)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1923)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1973)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1339)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2382)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2573)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2336)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 227)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 779)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 981)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1060)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6388)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15865)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32123)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38846)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1446)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13875)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6882)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10651)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9851)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9971)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10766)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3432)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11109)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10339)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi