- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

LÀNG ĂN MÀY VÀ MẪU BÁNH MÌ CŨ

19 Tháng Mười Hai 201711:54 CH(Xem: 59898)



UYEN LE -Truyen thang 12
Uyên Lê - SG 2017

 

Bà bác dâu đón tôi ở phi trường Trudeau, không phải bà cô ruột. Tôi đã mong đợi bà cô ruột. 

 

Bố tôi có hai bà cô, một là cô ruột và bà bác dâu. Từ lúc tôi chào đời đã có hai bà ở đó, Tôi vẫn quen gọi bằng bà dù hai bà còn khá trẻ. Ông cố tôi nhiều vợ, lắm thiếp, lại đẻ dày, đến nỗi con và cháu nội ra đời cách nhau không xa lắm.

 

Quê bố tôi ở Hương Sơn Hà tĩnh, mảnh đất cúi Bắc, đầu Trung, nửa núi, nửa đồng bằng, người nói giọng trọ trẹ, nửa thị và quá nửa quê, mà quê đá, quê núi, quê cằn, quê cỗi, quê không có đất để cày, có trâu để cưỡi. Bà bác dâu vẫn hay kể cho tôi nghe như vậy.

 

Không gian phi trường Trudeau cũ mèm, trên nềm thảm cũ màu tối, đèn đêm mờ tối,  chuyến bay 12 giờ đêm làm những con người lơ láo chung quanh cũng xuống màu, nhàu nát, cũ kỹ,  bà đứng đó lặng im nhìn tôi, không ôm vồ vập,  áp môi hôn một bên má như kiểu Tây gặp nhau, đôi mắt đen sắc như hai đường chì kẻ mảnh, nhìn trực diện vào mặt người đối diện, miệng mơ hồ như cười như không, làn da trắng xanh mỏng như giấy lụa bóng.

 

Cả nhà, cả họ hàng ai cũng sợ bà vì nhan sắc lạnh lẽo này.

 

Trừ tôi và bố tôi. Bố tôi bảo cả họ nhà bố tôi nợ bà nhiều thứ, và bố tôi ra sức mà trả để không dây dưa qua kiếp sau. Tôi chỉ biết tôi vừa yêu bà, vừa nể, vừa sợ.

 

Bà tự tay lái xe đưa tôi về nhà, vẫn lặng im không nói gì nhiều. Ngôi nhà bằng gỗ, lọt thỏm giữa khu rừng cây lá kim dày đặc, trời mùa hè nên 10 giờ vẫn còn sáng rực, chỉ có hơi ẩm bắt đầu len qua nhánh lá thông, lọt vào khung cửa lưới. 

 

Bà cô ruột từ trong nhà ào ra, tóc bạc trắng, vừa khóc vừa cười, tíu ta tíu tít. Và ngay lập tức tôi được ôm ấp, hôn hít chầm chập vào cổ, vào má, kèm theo bao nhiêu là rên rỉ, sờ sẫm suýt soa. Và mùi hương người già, trong giá lạnh, phả ra héo hắt mốc thếch, bao vây lấy tôi.

 

Đây là bà cô ruột của tôi rồi, đúng tính chất của họ Lê nhà tôi rồi, vồ vập, hối hả thắm thiết đấy mà lợt lạt, hời hợt, bạc bẽo ngay đấy!

 

Giữa chừng cái ôm ra rít, thắm thiết, bà cô ruột chợt vụng trộm  thầm thì vào tai tôi,

- Con có để dành bánh mì cho bà không?

 

Vì bố tôi đã dặn dò rất kỹ lưỡng, nên tôi lật đật lục tung túi xách, đưa ngay cho bà một túm bánh mì phần ăn trên máy bay, và hớn hở:- Có ngay đây bà ạ!

 

Mắt bà cô ruột sáng lóe lên rồi đờ dại hẵn đi, như chạm vào giọng nói đều đều lành lạnh của bà bác dâu  xuyên qua căn phòng rộng:

 

- Bà lại xin bánh mì nữa à?

 

- Tôi thấy thèm bánh mì- bà cô ruột cúi gằm đầu, tiếng nói lí nhí như thoát ra từ đôi vai rụt.

 

- Thế những thứ này là gì?

 

Bà bác dâu giựt mạnh tất cả các cánh tủ bếp trên đầu, một trận mưa bánh mì rào rào rơi xuống, bánh mì đen, bánh mì trắng, bánh mì sandwich, bánh crossant còn nửa cái, bánh mì vòng còn nguyên vẹn, bánh mì bagguette chỉ còn  lại cùi nhọn hay mẫu vụn, và vô số bánh mì tròn bằng lòng bàn tay từ phần ăn của các hảng Airlines tuôn xuống, không ngừng.

 

Mặt bà cô ruột của tôi chuyển sang nhăn nhúm rồi trắng bệch, bà gào lên bằng tất cả hơi sức của mình, gân cổ căng ra đỏ tía:

- Bà làm nhục tôi thế này vì bà thù tôi, bà đã  hận tôi suốt đời bà.

- Vì lẽ gì tôi phải hận bà? Tôi đem bà về đây nuôi khi con của bà bỏ bà vào nhà dưỡng lảo- bà bác dâu vẫn không thay đổi giọng nói.

- Vì cái làng ăn mày của nhà bà. Vì chúng tôi cứu bà từ cái làng ăn mày đấy! 

 

Bà bác dâu lặng lẻ đi lên cầu thang, lưng vẫn thẳng, đầu ngẩng cao như không hề nghe thấy gì. Đến bậc đá cẩm thạch  đen tuyền cuối cùng, bà đứng sững người, không quay đầu lại, ném vào không gian lặng ngắt từng từ một, không âm sắc:

 

- Cái làng ăn mày đó, tôi quên hẳn rồi. Nó chỉ còn sống trong đầu bà thôi. Trong nỗi sợ của bà, trong nỗi ám ảnh sợ đói của bà. 

 

Bà cô ruột của tôi khóc, khóc rấm rứt trong khi cùng tôi thu dọn đống chiến trường ngỗn ngang bánh mì cũ khô mốc, nhét đầy lại trong ngăn tủ bếp.

 

Đầu óc tôi quay cuồng, ngay lúc ấy, tôi chỉ nghĩ về làng ăn mày. Làm sao bà ấy lại có thể quên được làng ăn mày? Và trên cái nền của sắc màu vàng vọt kỳ ảo nửa đêm trắng, trong không gian sặc mùi mốc xanh lên meo nấm của bánh mì, tôi nhớ về quê cha tôi, tôi nhớ về bài học lịch sử đầu tiên qua những nốt đậu mùa chi chít trên mặt bà bác dâu.

 

Tôi gọi đó là "bài học lịch sử đậu mùa"

 

Từ bé tôi đã mê mẫn môn lịch sử. Tôi khám phá ra niềm phấn khích lạ kỳ, nỗi đam mê rợn chân tóc, và tò mò lầm râm dưới làn da khi lật trang sách sử, dù đôi khi chỉ là ngày tháng lạnh lẽo, cộc lốc, những tên người, tên đất, tên miền, tên sự kiện lầm lủi nối tiếp nhau như ảnh mờ chạy chậm trên màn hình đen trắng, như dợm một bước chân vào sau tấm gương đồng mở lối vào đường hầm quá khứ…

 

Tình yêu này, trong sâu xa, bắt nguồn từ bà bác dâu.

 

Từ những nốt đậu mùa trên khuôn mặt trắng nhợt nhạt của bà bác dâu.  Khuôn mặt đầu tiên cúi nhìn tôi khi tôi vừa ngo ngoe ra đời từ bụng mẹ.

Người ta nói, ký ức về khuôn mặt đầu tiên người ta nhìn thấy khi chào đời sẽ nằm mãi trong trí nhớ và tiềm thức của người ta suốt một đời. Tôi tin vào điều đó.

 

Vì sau hết những ký ức ngồn  ngộn chất đầy trong bộ não tò mò phấn khích của tôi, thu nhận, lấp đầy, chảy mãi miết rồi đào thải, để lại tiếp tục tiếp nhận những hình ảnh mới, ký ức mới. Thì phần nằm lại kiên nhẫn nhất và sâu nhất vẫn là khuôn mặt của bà bác dâu.

 

Ký ức đó pha trộn ký hiệu đầy cảm xúc của da ngón tay lần dò trên nốt đậu mùa lồi lõm, và mùi ngọn bấc đèn dầu cháy gần tàn hoi hoi, tiếng reo lửa lục bục, đêm mùa hè ẩm ướt sau sóng lưng:

-  Những nốt sẹo này làm sao bà có?- tôi hỏi , rợn người vì sự thôi thúc của lòng gan dạ và trí tò mò.

-   Từ một năm đói, rất đói, cả làng đói, cả xã đói, không gì dày vò hủy hoại người ta bằng cái đói, cái đói làm người bò bằng đầu gối, vùng dậy trong đêm, đi như ma qua những cánh đồng chết vàng vì hoàng trùng, qua những ngõ xóm tối hoang và không bóng gia súc, vì tất cả đã bị đem ra làm thịt, kể cả lũ chuột.

-  Bà không chết đói à? – tôi rùng mình khi mồ hôi chạy dọc qua sóng lưng lạnh ngắt, là một đợt gió nửa nồm hè.

- Không, người ta chỉ có thể chết vì một thứ trong đời, người chết nhiều đến nỗi thần đói không màng giành giựt, ông ấy nhường bà vào tay thần đậu mùa, vậy mà bà sống đấy. Nhưng cả nhà bà đã chết hết, chết dấm dúi trong bụi, đống rơm, cây chuối, dưới ao, trên mặt nước, khi trên đường bò ra tìm côn trùng hay bất cứ thứ gì có thể bỏ vào mồm được. Bà sống được nhờ mẹ của bà, cụ chết đã ba ngày, chết đói, vàng mắt, hõm má, nhưng bầu sữa thì kỳ diệu, vẫn còn nóng cho bà lay lắt riết róng mãi cho đến lúc người ta kéo xác mẹ của bà hắt vào xe bò.  Nếu đôi mắt của bà không lóe lên trong đêm, người ta đã hắt bà xuống ao cùng cả nhà.

 

Từ trong góc tối ngọn đèn dầu không hắt tới, bà cô ruột của tôi chen vào , cười nhạt:

 

-  Bà không kể nốt chuyện làng ăn mày của bà à? Người ta cứu bà ấy cốt nuôi lớn để đi ăn mày và sai vặt. Làng ăn mày đông lắm , mà lại lười, chẳng ai muốn động tay động chân, chỉ có bà ấy là choắt người mà khỏe như hơn trâu vật. Cái số người đã lọt lưới tử thần một lần thì  sống dai lắm, dai hơn đĩa đã tróc lên bờ, dính phải vôi!

 

Tôi ngồi im trong sự lặng lẽ bất thường của bà bác dâu, bà cô ruột vẫn hơn hớn kể chuyện liến láu, từng từ lộn xộn như va chạm xo đẩy nhau tuôn ra:

- Bà cố mình lấy bà ấy về cho bác trưởng, bác ấy chẳng thiết vợ con, chỉ muốn người siêng làm về hầu hạ cả nhà. Ngày đón bà ấy về mới là kinh. Đám rước cũng đàng hoàng bằng đò, ba chiếc, người làng ăn mày bu theo ăn cỗ thừa đông cơ man là đông. Níu trĩu be xuồng không nhích được tất nào. Thế là người đi rước dâu phải lấy mái chèo quất thật lực vào tay dân đi ăn chực, bao nhiêu là ngón tay rụng lã chã xuống nước. Có mấy lóng tay còn dính cả vào be xuồng cứ run giật như thằn lằn phải mất đuôi. Vậy mà cũng không cản được mấy. Dân ăn mày ấy, chúng nó dai lì như đỉa trâu thấy mùi máu càng say! Tôi kể thế có đúng hay không?

 

Bác dâu chỉ bấu tay vào cạnh bàn, những đốt tay trắng bệch phình ra to khác thường, chờn vờn trên tường.

 

Không ai dám nhắc lại chuyện về làng ăn mày với bà bác dâu, trừ bà cô ruột. Bố tôi nói, có những người vì được chăm nom, chiều chuộng quá kỹ lưỡng đến nỗi chỉ có thể già đi mà không biết lớn lên. Bà cô ruột của tôi là một. Bà là con gái một , dù nhà kiết vẫn ra dáng tiểu thư con nhà chức sắc, quanh năm ốm đau quặt quẹo. Lớn lên lấy chồng , đẻ con một tay bà bác dâu trông nom bế ẵm.

Mà hầu như con cháu trong nhà, chỉ một tay bà bác dâu chăm sóc, ai chửa đẻ cũng gọi bà bác dâu hầu hạ thuốc thang, quạt than, hơ lửa. Số bà là thế rồi, người ta lấy dâu trưởng về không để ngồi đầu mâm, mà để chui vào xó bếp, không phải để ăn miếng ngon, miếng nóng mà chỉ được phần hẩm, và thừa.

 

Ngay cả với chồng, đêm đầu tiên về động phòng, ông bác tôi chỉ đạp bà một phát lăn xuống giường, ông đã quen ngủ một mình, và bà lúc ấy vừa hôi, vừa gầy nhom ,lại vừa rỗ chằng chịt. Mãi đến năm lên mười bảy, sau bốn năm thừa hưởng cơm thừa canh cặn nhà chồng, da thịt đỏ thắm lành lặn, bà mới được nằm cạnh bên chồng, mà chỉ thấy sấp lưng to tê đè nghiến, cảm giác tình yêu vừa thô vừa vụng về, mà lại nhớ hôi hổi hoài.

 

Ai dè cũng nhờ cái đạp xuống chân giường và cái lưng đè nghiến thô bè ấy, bà đã nhận ra xác của ông bác trai.

 

Ông thuộc diện lính kiểng, lính canh kho bạc mà chỉ một lần mang quân lương ra trận đã thành ngay tử sĩ , pháo giật đi nguyên đoàn phơi mình mấy ngày trên mặt ruộng.

 

Thời ấy chiến trận ác liệt, chẳng ai dám mang xác ông về, mà xác tanh bành té bẹ lẫn lộn, cũng không ai nhận ra ai nỗi mà lọc ra đem về.

 

Bà bác dâu một mình trong chiều, kéo xe bò cọc cạch đi tìm xác chồng. Bà cố tôi khóc hời hời : vì con vợ mặt mỏng, lại bạc như vôi nên hại hết phúc nhà chồng. 

 

Bà bác dâu lầm lũi kèo xe bò đi, cọc cạch , đường làng cọc cạch, năm ấy trăng quầng rất lớn , ráng chiều đỏ như máu loang, quạ đen bay đầy đồng, béo đến không cất cánh lên nổi.

 

Bà nhận ra xác chồng chỉ từ cái bàn chân dài khác thường, bàn chân một đêm đã đạp bà văng xuống đất , và cái lưng to bè, cái lưng đè sấp lên bà suốt những đêm yêu, cái lưng mà bà đã tưới biết bao nhiêu âu yếm nhớ thương mỗi đêm, bà hiếm khi thấy được mặt chồng sau những lần yêu vội vã.

 

Bà chỉ gào lên một tiếng nhỏ: Mình ơi ! rồi nín bặt, tiếng kêu duy nhất suốt mười năm làm vợ ấy không phải nghẹn vì đau đớn. Mà bà nghẹn tắt nữa chừng vì thấy lạ lùng. Cái dáng nằm của chồng bà ấy, sao mà co quắp, khốn khổ lạ lùng. Như đang ôm ấp, ủ ẩn cái gì đến quặn thắt bên trong. Bà lật xác bác trưởng lên, một bọc tiền lớn rơi ra, còn tươi màu máu và mùi máu.

 

Lúc này bà mới hộc lên nức nở: - Mình ơi!

 

Cả đời bà chưa rờ được vào đồng tiền, chồng bà chưa cho bà được một cái nhìn, một nụ cười âu yếm. Chỉ sau khi chết đi, ông mới vặn vẹo gìn giữ được cho bà một gia tài.

 

Cả một gia tài lớn so với thời ấy!

 

Bà đánh xe bò lầm lũi cả đêm đi về , bọc tiền vẫn úp dưới bụng chồng.

Sau đêm ấy bà trở nên người đàn bà hoàn toàn khác.

...

 

UYÊN LÊ

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Mười Hai 200912:00 SA(Xem: 143999)
* Viết tặng linh hồn Nhà báo Đặng Ngọc Khoa Buổi chiều mưa vụt tắt Tôi vớt điểm những vì sao là lững nơi chân mây.
20 Tháng Mười Một 200912:00 SA(Xem: 136449)
LTG: M ới đây, một số cơ quan ngôn luận trong nước–do Đảng Cộng Sản Việt Nam [CSVN] làm chủ–đã can đảm nhắc đến vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh hải. Dân biểu/sử gia Dương Trung Quốc từng kêu gọi chính phủ Nguyễn Tấn Dũng phải tường trình đầy đủ về vấn đề Trường Sa-Hoàng Sa. Báo Tuổi Trẻ (Sài Gòn) còn đăng cả ký ức của cựu Thượng sỉ HQ Lữ Công Bảy về trận hải chiến 30 phút, hơn 35 năm trước.
15 Tháng Mười Một 200912:00 SA(Xem: 140290)
Chán đời, y đi buôn màu sắc Gặp ai, y cũng rao mời “Mua màu không? Tôi bán cho!”
04 Tháng Mười Một 200912:00 SA(Xem: 121479)
Claude Lévi-Strauss, từ trần hôm nay thứ ba 03/11/2009, hưởng thọ 101 tuổi, là cây đại thụ đã thủ một vai trò quan trọng và rộng lớn trong nền văn học Pháp và thế giới hơn nửa thế kỉ vừa qua, từ giữa thế kỉ XX cho đến đầu kỉ XXI này.
04 Tháng Mười Một 200912:00 SA(Xem: 127890)
Khách phong lưu vẫn ngồi ở quán cà phê bên hồ vắng. Không thấy mẹ nàng đâu. Có lẽ mẹ nàng đi kiếm củi trên dãy núi bên hồ chưa kịp về. Nàng cũng không còn ngồi xoã tóc. Nàng lúi húi bên tách cà phê đang pha dở cho khách. Mùi cà phê ủ trọn cái lạnh giá đầu mùa đông, quyện chặt lại, nén hương rồi dậy lên trong mê muội.
01 Tháng Mười Một 200912:00 SA(Xem: 134647)
Có phải đêm dang đẩm ướt sương Anh lại về trong mơ đầy nổi nhớ Con đường xưa bên dòng sông như lụa Cỏ ven bờ rối rít những nụ hôn
20 Tháng Chín 200912:00 SA(Xem: 126955)
Gần đây tôi có dịp đọc một số tài liệu của người trong nước viết về văn học miền Nam 1954-1975. Rải rác đó đây không ít, nhưng gom vào một mối thì có thể kể ra hai nguồn. Thứ nhất là bài phỏng vấn khá thú vị của chị Thụy Khuê, đài RFI bên Pháp, với nhà phê bình Vương Trí Nhàn, hiện sống tại Hànội, xung quanh đề tài văn học miền Nam từ 1954-1975 (*).
17 Tháng Chín 200912:00 SA(Xem: 116210)
Vào những giờ phút cuồng dại vì tâm chúng ta mù quáng thì bất cứ việc gì cũng có thể xảy ra, kể cả chiến tranh. Cho nên, sự thực hành lòng từ bi và trí tuệ là điều hữu ích cho tất cả, nhất là đối với những người có trách nhiệm điều hành công việc quốc gia, khi mà họ nắm trong tay quyền lực và phương tiện có thể tạo dựng nền hòa bình cho thế giới.
15 Tháng Chín 200912:00 SA(Xem: 109705)
Hai người lớn lên cạnh nhà nhau, tại rìa thành phố, nơi tiếp giáp cánh đồng, khu rừng và vườn cây trái, trong tầm nhìn cái tháp chuông xinh xắn của ngôi trường cho người mù.
02 Tháng Chín 200912:00 SA(Xem: 108450)
Khái Hưng gốc làng Cổ Am, Vĩnh Bảo, Hải Dương–nơi chính quyền Bảo hộ Pháp từng dùng bom đạn san bằng sau cuộc khởi nghĩa mùa Xuân năm 1930 của Việt Nam Quốc Dân Đảng [VNQDĐ]. Thân phụ là Trần Mỹ, Tuần phủ Phú Thọ [Thái Bình?].
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3851)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13295)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19664)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18645)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1645)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1806)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2324)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2431)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1466)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2213)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1960)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 2006)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1381)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2425)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2638)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2385)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 249)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 821)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1012)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1127)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6421)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15902)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32165)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38869)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1493)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13904)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6914)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10715)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9911)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 10034)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10839)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3464)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11158)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10369)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi