- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

GIỮA HAI THẾ KỶ 55 NĂM HỘI HOẠ NGUYÊN KHAI VẪN CHẤT THƠ NGÀY ẤY

01 Tháng Bảy 201612:54 CH(Xem: 59840)

 

 

nk 1

Hình 1_ Chân dung Nguyên Khai

 

TIỂU SỬ NGUYÊN KHAI

      Tên thật Nguyễn Phước Bửu Khải, sinh ngày 01.09.1940 tại Huế. Nguyên Khai theo học hai năm đầu tại trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế (1960-1961), chuyển vào học năm thứ ba và thứ tư trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định (1962-1963). Huy chương Đồng Triển lãm Mùa Xuân Saigon 1963, cũng là năm Nguyên Khai tốt nghiệp tại trường này. Là một trong những thành viên sáng lập và là khuôn mặt nổi bật của Hội Hoạ sĩ Trẻ Việt Nam từ 1966.  Nguyên Khai hầu như tham dự tất cả những cuộc triển lãm hàng năm do Hội Hoạ sĩ Trẻ tổ chức (1965-1975) cùng với các cuộc triển lãm tranh khác của Alliance Française 24 Gia Long Saigon, Centre Culturel Français trên đường Đồn Đất, Goethe Institute đường Phan Đình Phùng (1968-1975).

 

      Nhà phê bình hội hoạ người Pháp Marc Planchon, người rất gắn bó với những khuôn mặt tài năng của Hội Hoạ sĩ Trẻ Việt Nam, trên trang báo Journal d' Extrême Orient 01.10.1964 đã viết về Nguyên Khai cách đây 52 năm [1964]:

 

      "Anh vừa đúng 24 tuổi và thân hình mảnh mai như thiếu ăn, với cái nhìn nóng bỏng ấy trên một khuôn mặt gầy guộc khiến người ta nghĩ tới những sinh viên thời Trung cổ, ở thời kỳ triết học kinh viện, được nuôi dưỡng bằng những ý tưởng thăng hoa hơn là ham muốn, trong nỗ lực hướng tới tri thức, thấy hạnh phúc xây dựng luận lý trên những tiền đề tưởng tượng, hơn là chỉ chú trọng vào sự kiện vật chất trong thực tế phẳng lì của nó."

 

      "Il a tout juste vingt-quatre ans et, d'apparence, cette maigreur famélique, et ce regard brûlant dans un visage emacié qui font songer à ces escholiers moyennanageux, des temps scholastique, plus nourris d' idées effervescentes que de bonne chair, dans leur effort vers la connaissance, plus heureux de constructions logiques sur des prémises imaginaires, que de considérer simplement le fait matériel dans sa plate réalité."        

 nk 2

Hình 2_ Một Nguyên Khai mảnh mai thư sinh

trong cuộc triển lãm tranh chung ở Sài Gòn 1965

 

 

      Hơn nửa thế kỷ sau, Marc Planchon nếu có gặp lại Nguyên Khai, thì vẫn là một Nguyên Khai mảnh mai của ngày nào, chỉ có thêm là rất nhiều những vết hằn sâu của thời gian.              

 

nk 3 

Hình 3_ Bài phê bình hội hoạ của Marc Planchon trên Journal d' Extrême Orient 01.10.1964 về cuộc Triển Lãm tại Phòng Thông Tin Đô Thành

Sài Gòn với nhan đề: "Tác phẩm Nguyên Khai là tranh? hay thi hoạ?  

 

      Sau 1975, gia đình Nguyên Khai kẹt lại Việt Nam 6 năm. Là thuyền nhân rời Việt Nam 1981, định cư tại Nam California. Nguyên Khai tiếp tục sáng tác, và triển lãm tranh.

      Năm 2003, có thể coi là dấu mốc quan trọng trong hành trình sáng tạo của Nguyên Khai qua cuộc triển lãm tại hội trường Nhật báo Viễn Đông, Little Saigon. Nguyên Khai đã táo bạo sử dụng những con chips từ các computer phế thải, gắn vào những bức tranh tuy là chất liệu hỗn hợp/ mixed media, nhưng vẫn giữ được vẻ đẹp hài hoà và thơ mộng của tranh Nguyên Khai. Có thể nói đây là bước tiên phong cách tân của nghệ thuật Nguyên Khai, một hội nhập vào thế kỷ của nhân loại với những tiến bộ kỳ diệu trong lãnh vực điện toán / Mankinds and Computers.

 

      Nhưng sớm hơn trước đó, năm 1998 Nguyên Khai đã có một cuộc triển lãm thành công ở Artcore Los Angeles. Nhà phê bình hội hoạ Collette Chattopaddhyay có một Review về Nguyên Khai, trích đoạn: "Những tác phẩm của Khai tinh tế và phức tạp chuyển biến cách nhìn từ nghệ thuật cung đình Á châu với các biểu tượng toàn hảo như mặt trời, mặt trăng và bốn mùa bước qua những hình ảnh hiện đại của máy móc với các bộ phận computer, đồng hồ chỉ thời gian. Như gửi tín hiệu cho một thiên niên kỷ mới sắp tới, các tác phẩm ấy như một nhìn lại những giá trị văn hoá - xã hội của cuối thế kỷ 20, với trân trọng thành tựu quá khứ nhưng đồng thời là bước vươn tới lãnh vực khoa học kỹ thuật của thời hiện đại." Nguyên Khai at L.A. Artcore, 1998]  

 

      Tác phẩm của Nguyên Khai đa dạng về thể loại: sơn dầu/ oil painting, chất liệu hỗn hợp/ mixed media, sơn mài/ lacquery, tranh độc bản / monoprint và một số tượng và phù điêu / bas-relief và cả vẽ bằng men sứ / ceramics; phong phú về nội dung: từ tranh biểu hiện / expressionism tới tranh trừu tượng / abstract. Đã không có phân định rõ về từng thời kỳ sáng tạo của Nguyên Khai, nhưng anh thì vẫn cứ làm việc bền bỉ và không ngừng tìm kiếm, cho tới nay cho dù đã bước qua tuổi cổ lai hy, khả năng vận dụng chất liệu, những gammes màu của Nguyên Khai ngày càng điêu luyện.  

    

      Cuộc triển lãm mới nhất gần đây tại Little Saigon 06.2016 đánh dấu 55 Năm Hội Hoạ Nguyên Khai (1961-2016). Khoảng thời gian ấy tính ra là đã hơn nửa đời người, nhưng có lẽ không có tuổi tác cho nghệ sĩ khi vẫn còn nung nấu ngọn lửa sáng tạo.

 

NHỮNG CUỘC TRIỂN LÃM

2016     Viet Bao Gallery, Westminster, California

2015     Viet Bao Gallery, Westminster, California    

2012     Viet Art Gallery, Houston, Texas

2007     Palette Art Gallery, Houston, Texas

2006     Viet Bao Kinh Te Gallery, Garden Grove, California

2005     Viet Art Gallery, Houston, Texas

2004     Hoa Mai Gallery, Paris, France

2003     "40 Years of Artistry," Vien Dong Gallery, California

2002     Vinh Loi Gallery, Saigon, Vietnam

2001     Old Courthouse Museum, California

2000     Artcore L.A. Gallery, California

1998     Cuttress Gallery, Pomona, California

1997     "Salt & Pepper," Inst. of Contemporary Art Gallery, San Jose, California

1996     Pacific Asian Museum, Pasadena, California

1995     Smithsonian Institute Traveling Exhibition

1995     Ryal Gallery, Boca Raton, Florida

1994     "East & West," Wignall Museum, California

1987     UCLA Art Gallery, Burbank, California

1982     UC Irvine Gallery of Art, California

1969     The Sao Paulo Biennial, Brazil

1968     The New Delhi Biennial, India

1967     The Tokyo Biennial, Japan

1965     The Paris Biennial, France

 

 

 nk 4

Hình 4a_ Lan Phương: người bạn đời, bà Tú Xương thời hiện đại, cũng là nguồn cảm hứng và chất thơ của Nguyên Khai 2005

 

 

 nk 4 b

Hình 4b_ Nguyên Khai đang uống nước Cam Lồ,

một khoảnh khắc rất hạnh phúc

 

 


 nk 5

Hình 5_ Bức tranh Nhà thờ 1965 vẽ trong thời gian Nguyên Khai

trốn quân dịch sống ẩn náu như trong một ốc đảo

 

nk 6

 

Hình 6_ Bài báo giới thiệu gia đình Nguyên Khai trên

Los Angeles Times, 30-05-1998

 

 

NHỮNG NHẬN ĐỊNH VỀ NGUYÊN KHAI

     Tuy gồm nhiều thể loại, nhưng các tác phẩm chính của Nguyên Khai chủ yếu là tranh sơn dầu / oil painting, từ tượng hình / figurative sang trừu tượng / abstract xen lẫn nhau qua các giai đoạn. Dù thể loại nào, chất thơ mộng, sang trọng và vương giả trong tranh Nguyên Khai chính là vẻ đẹp tinh khôi của chất liệu / matière, với những gammes màu như ẩn hiện đan vào nhau mà anh có khả năng sử dụng rất nhuần nhuyễn.

 

      Nhà phê bình hội hoạ Huỳnh Hữu Uỷ trong tác phẩm Nghệ Thuật Tạo Hình Việt Nam Hiện Đại 2008 đã nhận định: "Tranh của Nguyên Khai là thơ được dựng lại bằng sắc màu trên nền vải. Đó là một thế giới vô cùng thơ mộng và quý phái như phong cách đã định hình ngay từ những bước đầu... Nghệ thuật của anh là một bắt nhịp ra ngoài cái hiện tiền."

 

      Hãy để Hoàng Ngọc Biên, nhà văn tiên phong của phong trào tiểu thuyết mới Miền Nam trước 1975 cũng là bạn hàng xóm viết về người bạn của mình: "Nguyên Khai xưa nay là người trầm tĩnh – trong chuyện sống cũng như chuyện sáng tác. Thời ở Tân Định Saigon, anh sống một mình và vẽ tranh gần như lặng lẽ trong một căn phòng tương đối rộng, ít tiếp xúc với bên ngoài... Khai bạn bè nhiều nhưng có vẻ không mất thì giờ đàn đúm: thì giờ anh gần như dành hết cho việc tìm cái mới trong nghệ thuật. Sài Gòn thời ấy bừng bừng không khí Modigliani và Chagall, Nguyên Khai không phải đã thoát ra được cái kích thước quyến rũ ấy, nhưng cuộc trò chuyện của Khai với trăng, sao, bầu trời và con người là bất tận. Tranh Nguyên Khai, kể cả khi anh bước qua một kỹ thuật mới, luôn mang một bố cục khác, một thứ ánh sáng phi thường. Nhưng cũng chính cái lối âm thầm làm việc ấy khiến khi anh phản ứng trước các ồn ào của thế sự, anh là một người triệt để."

 

Nhà văn nhà thơ Nguyễn Đình Toàn đã nhận xét rất tinh tế khi xem tranh Nguyên Khai: "Cái chất thơ mộng lãng mạn của tâm hồn Nguyên Khai hình như lúc nào cũng chìm lẩn dưới màu sắc, dưới những đường nét. Có vẻ như ông muốn dấu bớt chúng đi chứ không phơi bày ra."

 

      Hoạ sĩ Đinh Cường, cũng là thành viên của Hội Hoạ sĩ Trẻ nhận định:  "Nguyên Khai là một họa sĩ đã định hình, với thế giới tranh sang trọng và thơ mộng mang âm hưởng Huế, nơi anh đã sống cùng gia đình trong một phủ xưa bên Gia Hội. Những thiếu nữ trong tranh anh mang hình dáng quý phái, đặc biệt có những chân dung hai mặt rất Nguyên Khai."

 

      Thêm một Trịnh Cung phát biểu về Nguyên Khai: "Trong suốt hơn nửa thế kỷ làm nghệ thuật của Nguyên Khai, với tôi, anh là một con ong trong thầm lặng và bền bỉ, bay khắp vùng hoa lạ tìm mật cho mình và cho đời. Chúng ta hãy ngắm nhìn tranh Nguyên Khai đã vẽ lúc còn trai trẻ cho đến hôm nay, dù là sơn dầu hay với đa chất liệu, cái đẹp hiện đại vẫn luôn ứa chảy sự ngọt ngào, sự dịu dàng vô tận của thi ca khiến ta cảm thấy mình được nhấc bỗng khỏi những ràng buộc tăm tối, khắc nghiệt của đời thường."

 

      Khi trả lời câu hỏi của nhà thơ Trịnh Y Thư: "Tương quan giữa hội hoạ và thực tại là gì?" Nguyên Khai phát biểu: "Hội hoạ không quay lưng lại thực tại, nhưng nó không minh hoạ thực tại. Hội hoạ cho chúng ta cái nhìn khác, cái nhìn phi thực tại, để từ đó những khả thể của chân thiện mĩ được biểu đạt."

 

     Hình như các nghệ sĩ tài năng đều có điểm hội tụ và gặp nhau ở quan điểm nghệ thuật này. Nghiêu Đề, cũng là thành viên nổi trội của Hội Hoạ sĩ Trẻ khi nói về quan niệm hội hoạ cũng cho rằng đó không phải là một sao chép từ cuộc sống, và Nghiêu Đề đã đưa ra một hình tượng ví von:“hoạ sĩ là người tìm được một nét đúng giữa hai nét sai của thực tại.”

 

CÂU CHUYỆN BỨC TƯỢNG THỜI GIAN

      Bức tượng Thời Gian, tác phẩm độc nhất của Nguyên Khai trên đảo Galang Indonesia 1981, tượng làm bằng đá san hô lượm được trên bờ biển, dụng cụ lúc đó chỉ có một con dao phay để đục đẽo.

 

     Vĩnh Thăng, con trai Nguyên Khai lúc tới đảo mới có 7 tuổi, sau này khi đã trưởng thành ở Mỹ, hồi tưởng viết về bức tượng Thời Gian ấy:   

 

       "Ban đầu với tôi bức tượng là một vô nghĩa, tuy nhiên qua thời gian, tôi thấy được nhiều điều kỳ diệu ẩn tàng trong đó. Trước đây tôi nghĩ bức tượng là thể hiện giấc mơ đang chết dần của cha tôi, nhưng sau đó tôi thấy là mình sai. Cha tôi và tôi có cách nhìn khác nhau về sự thành đạt / achievement, cha theo quan niệm Đông phương, theo ông thành tựu không phải là sự giàu có và nổi tiếng, mà là sự hiện hữu và lớn lên từ nội tâm / inner growth and existence. Tôi lớn lên ở Mỹ, có một lối suy nghĩ Tây phương hơn. Nhưng rồi nghĩ lại thời gian đã mất của cha tôi không hẳn là đã mất; cha tôi đã cống hiến toàn thời gian cho sáng tạo, cho nghệ thuật mà ông yêu mến. 

 

 nk 16

Hình 16_ Phải: Những ngày gia đình Nguyên Khai trên Đảo Galang; Trái: Bức tượng Thời Gian 1981, tác phẩm duy nhất của Nguyên Khai trên đảo Galang Indonesia, làm bằng đá san hô lượm trên bờ biển, chỉ có con dao phay để đục đẽo.

 

      Cha tôi đã tạc bức tượng này trên đảo Galang khi gia đình tôi vừa đào thoát khỏi Việt Nam. Nó là gia tài duy nhất chúng tôi mang vào nước Mỹ. Không dễ dàng gì để mang bức tượng đó theo. Tôi còn nhớ rất rõ những gì diễn ra ngày hôm đó. Khi nhập cảnh, họ khám xét các túi hành lý. Tôi còn thấy được vẻ sợ hãi trong ánh mắt cha tôi, chuông báo động réo lên khi túi xách có bức tượng đi qua màn hình phát hiện kim loại. Giọng cha tôi run lên với mấy chữ tiếng Anh rời rạc: "Art mine, please I keep OK?" Thật là may mắn, chúng tôi còn giữ được bức tượng ấy tới nay. Bức tượng được đặt giữa phòng khách, quay mặt về hướng nam.

 

      Bức tượng trông thì đẹp nhưng không có ý nghĩa gì với tôi lúc đó... Tượng màu cát biển tạc chân dung một cô gái Á châu với dáng sang cả, vương giả. Có lần cha tôi bảo bức tượng ấy không chỉ là tượng trưng cho hy vọng và ước mơ mà còn nhiều hơn thế nữa. Là một nghệ sĩ, bị tước đoạt tự do sau khi cộng sản cưỡng chiếm miền Nam, gia đình chúng tôi đã đào thoát với ước mơ đi tìm cuộc sống tự do. Cha tôi không chỉ có ước mơ cho chúng tôi mà cho chính ông nữa. Tất cả mong ước là ông được tự do sáng tạo và phát triển cuộc sống tâm linh.

 

      Ban đầu tôi đã lầm khi nghĩ rằng giấc mơ của cha là trở thành một nghệ sĩ nổi tiếng và giàu có. Rồi tôi hiểu rằng chẳng dễ gì để ông có thể nổi tiếng trên đất Mỹ, và ông phải khởi sự lại từ bước đầu. Nước Mỹ là vùng đất mới và rất khác, và chỉ có mỗi con đường phía trước là thời gian, và bức tượng được mang tên "thời gian". [Lược trích, The Time, Vĩnh Thăng, The Writers Post, July 1999]

 

ĐẾN VỚI CĂN NHÀ MƠ ƯỚC

      Những lần tới nhà Nguyên Khai, thường là cùng đi với vợ chồng Đổ Hoàng, bạn đồng môn Y khoa, nhưng Đường Thiện Đồng lại là bạn từ thời để chỏm với Bửu Khải với những ngày thơ ấu nơi trường tiểu học bên phủ Gia Hội. Nhà Đổ Hoàng có bộ sưu tập khá nhiều tranh Nguyên Khai và tôi vẫn gọi đùa đó là một Nguyên Khai's mini-museum. Tôi thì quen Nguyên Khai vào thập niên 60 có lẽ cùng thời với người bạn Tấm Cám Nghiêu Đề.

 

      Nơi phòng khách, nhà trên để Lan Phương - chị Nguyên Khai và cũng là bà Tú Xương thời hiện đại tiếp bạn. Riêng tôi mỗi lần tới Nguyên Khai thì lại thích xuống thăm xưởng vẽ của anh. Gọi là xưởng vẽ chứ đó chỉ là một garage nhỏ, thiếu ánh sáng và ban ngày làm việc đôi khi cũng phải cần có thêm vài ngọn đèn.

 

      Nguyễn Đình Toàn cũng phải ngạc nhiên viết: "Đối với con mắt bình thường, người ta không khỏi thắc mắc tự hỏi, làm thế nào có thể vẽ trong điều kiện như vậy?"

 

      Tranh Nguyên Khai không chỉ đẹp mà ở một số bức còn mang nét man mác buồn của tình hoài hương / Nostalgia. Cho dù đang đi giữa những toà nhà chọc trời của New York, Nguyên Khai vẫn nhìn thấy đâu đó ẩn hiện một nóc Nhà thờ Đức Bà của Sài Gòn trong trí tưởng ngày nào. [Cũng có Nhà thờ Đức Bà ở New York 2009] 

 

 

nk 7

 

Hình 7_ Trong garage, một bức tranh dở dang còn treo trên giá vẽ

 

      Nếu nhà trên ngăn nắp bao nhiêu, thì nơi đây trong xưởng vẽ chỉ có ngổn ngang những khung tranh, ống màu và các cây cọ hoặc còn ướt hay đã khô cứng còn vấy màu lem luốc; tất cả như không chừa chỗ cho có một lối đi. Rồi cả chồng những bức tranh cũ mới xếp bên nhau. Có những bức đã xem, có đôi bức tranh mới, và cả một bức tranh dở dang còn đứng trên giá vẽ.

 

       Nguyên Khai thì bao giờ cũng thú vị khi nói về bức tranh đang hình thành. Ý niệm của bước kết thúc ra sao, có thể còn có những bất ngờ đẹp hơn mà có lẽ người hoạ sĩ cũng chưa được biết rõ. Tình cờ trong hội hoạ có lẽ cũng thú vị như sự đột biến trong các bước cấu trúc của một tác phẩm văn chương.

 

 

 nk 8

Hình 8_ Tình hoài hương trong tranh Nguyên Khai:

"cũng có Nhà thờ Đức Bà ở New York" 2009

 

      Sau garage tranh ấy là khu vườn nhỏ, một khoảng không gian yên tĩnh khác mà tôi muốn lui tới. Diện tích mảnh vườn rất nhỏ thôi, ngoài mấy chậu Bonsai do chính tay Nguyên Khai chăm sóc cắt tỉa, khoảnh đất còn lại có đủ hoa trái bốn mùa: ổi, hồng dòn, cam chanh bưởi, một dàn lựu đỏ trĩu trái bên tường và rất hiếm là có cả một cây khế chua sai trái. Cũng phải tin là Nguyên Khai có tay trồng cây; cũng cây ấy trồng ở một nơi khác nhiều năm không ra trái, nhưng khi đưa về đây, chỉ năm sau cây trái đã lại xum xuê.

 

      Được xem tranh, ngắm mấy cụm Bonsai, và màu sắc cây trái thật sự là những phút thư giãn. Trời đổ tối, bước vào nhà bao giờ cũng là bữa ăn ngon, khi ra về không bao giờ tay không, nếu không là một túi cây trái tự hái, thì cũng là một gói xôi vò - món thuần bắc, chắc chắn không phải là do "Mệ Bửu Khải" trổ tài nội trợ.   

 

 nk 9

Hình 9_ Tranh số 24 Nguyên Khai 1967, mới tìm thấy trong sưu tập

của một gallery ở Arizona

 

 nk 10

Hình 10_ Tranh Ngựa Nguyên Khai 1993

 

 nk 11

Hình 11_ Hoàng Thành, tranh Sơn Mài Nguyên Khai 1987

 

 nk 12

Hình 12_ Chim và Nguyệt Thực, tranh sơn mài Nguyên Khai 1987

 

 

 

nk 14 

Hình 14_ Từ trái: Trà Sớm Trà Muộn, tranh tĩnh vật Nguyên Khai 2001,

với bộ đồ trà của mẹ, tưởng nhớ ngày mẹ mất

 

 hinh 13

Hình 13_ "Thời hiện đại và computer" 1992, "Mạch Dẫn" 1995

chất liệu hỗn hợp / mixed media

 

 HINH 17

Hình 17_ Nụ cười Đức Phật 2006, phù điêu / bas-relief Nguyên Khai:

 [sưu tập Đổ Hoàng, Newport Beach]

 

 hinh 15

Hình 15_ Nguyệt Thực Nguyên Khai 2016 trong cuộc triển lãm

55 Năm Hội Hoạ Nguyên Khai 1961-2016

 

 

 hinh 18 a

Hình 18a_ Cuộc triển lãm cuối cùng của "Hội Hoạ Sĩ Trẻ" tại Sài Gòn trước 1975; từ trái: Đinh Cường, Mai Chửng, Dương Nghiễm Mậu, Hoàng Ngọc Biên, Nguyên Khai, Nguyễn Trung, Hồ Thành Đức, Nguyễn Đồng

[tư liệu Hội Hoạ Sĩ Trẻ]

 

hinh 18b

 

Hình 18b_ Từ Saigon 1975 tới Houston 2005, bảy thành viên "Hội Hoạ Sĩ Trẻ" hội ngộ 30 năm sau; từ trái: Đinh Cường, Nguyễn Phước, Nguyên Khai, Nguyễn Lâm, Nguyễn Trung, Hồ Hữu Thủ, Trịnh Cung

 

 

hinh 19a 

Hình 19a_ Triển Lãm tranh Nguyên Khai 2016: từ phải Nguyên Khai

và Ngô Thế Vinh

 

hinh 19b

 

Hình 19b_ Triển Lãm tranh Nguyên Khai 2016

từ trái: vợ chồng Nguyên Khai Lan Phương, Ngô Thế Vinh và Trịnh Cung

 

MỘT NÉT VĂN HOÁ LITTLE SAIGON

      Gia đình Nguyên Khai từ nhiều năm sống êm ả trong một căn nhà nhỏ nơi vùng Tustin. Khi lần đầu tiên tới thăm, Trịnh Cung đã thốt lên: đó là căn nhà của mơ ước.

 

 hinh 20

Hình 20_ Trái: nghệ thuật Bonsai Nguyên Khai

Phải: vẽ bằng men sứ trên bình trà hai vòi

 

 hinh 21

HÌNH 21_ Đầu tường lựu đỏ, hồng, khế, bưởi, ổi...

bốn mùa cây trái trong vườn nhà Nguyên Khai

 

      Nhớ lại khi Mai Thảo vừa mất, Đỗ Ngọc Yến có ý tưởng lập một giải văn chương Mai Thảo. Tôi nói với Yến, trước khi nói tới một giải văn chương mang tên Mai Thảo, việc nên làm ngay là giữ lại chiếc bàn viết lữ thứ của anh ấy, như một nét văn hoá của Little Saigon. Khó có thể tưởng tượng cảnh sống đạm bạc của Mai Thảo trên đất Mỹ. Chỉ là một căn phòng rất nhỏ trên lầu 2 của một chung cư dành cho người cao niên ngay phía sau nhà hàng Song Long. Chỉ có một bàn viết, chiếc giường đơn, một kệ sách, và trên vách là tấm hình Mai Thảo ngồi với Vũ Hoàng Chương trên bậc thềm nhà. Nhưng rồi cả không gian sống của Mai Thảo, cuối cùng chỉ đủ xếp vào hai chiếc thùng giấy. Và đã không còn đâu dấu vết chiếc bàn viết lữ thứ của một nhà văn lưu vong có tên Mai Thảo.

 

      Người Việt phiêu bạt từ khắp năm châu, khi hành hương tới thủ đô tỵ nạn không lẽ chỉ để thấy một khu Phước Lộc Thọ, chỉ có một tiệm sách Văn Khoa thì nay cũng không còn nữa. Một người bạn cùng gia đình và đàn con thế hệ thứ hai đến từ xứ tuyết Toronto, nhận định là tới Little Saigon không lẽ chỉ để dẫn chúng nó vào những tiệm phở, ngắm bảng hiệu mấy văn phòng bác sĩ hay luật sư. Anh ấy muốn nói tới một Công Viên Văn Hoá Việt Nam.

 

      Mong ước, rồi ra ngoài một Gallery Nguyên Khai trên không gian ảo www.nguyenkhaiart.com, căn nhà nhỏ mơ ước của Nguyên Khai - chữ của Trịnh Cung, nơi thị trấn Tustin, Orange County California và một số tranh tượng ấy sẽ được giữ lại như thêm một nét văn hoá Việt nơi thủ đô tỵ nạn của một thế hệ di dân thứ nhất. 

 

 

NGÔ THẾ VINH

Tustin, California 10.06.2016

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
29 Tháng Năm 20251:06 SA(Xem: 20067)
Ở đâu tôi không biết chứ ở làng quê tôi, điều này đến thế hệ mình ít thấy được duy trì cách gọi này. Thôi thì con cái họ, họ cứ gọi tên cũng được, không sao! Nhưng với người khác nhất là anh em họ hàng nhưng họ lớn tuổi hơn mình thì cần lưu ý cách xưng hô cho lịch sự, dễ nghe để hiệu quả giao tiếp được tốt hơn.
29 Tháng Năm 202512:54 SA(Xem: 16789)
Năm 2025 Hoàng Thị Bích Hà trình làng 2 tập thơ: “Hoa tím sầu đông” (gồm 103 bài thơ) và “Hẹn anh về vĩ dạ ngắm mưa bay” (Hơn 180 bài). Hai tập thơ này tuyển chọn ra những bài thơ tâm đắc của Hoàng Thị Bích Hà trong 10 tập thơ đã xuất bản từ mấy năm trước đây. Những tập gồm 50 bài, mỗi tập lọc ra khoảng 10-15 bài, trong những tập gồm có 100 bài thơ lọc ra khoảng 15-20 bài. (Đây là 2 tập thơ cuối cùng khép lại việc in thơ. Từ nay về sau tôi tiếp tục dành thời gian và tâm huyết cho truyện ngắn và tùy bút, nếu bất chợt có cảm hứng thì vẫn làm thơ, đăng báo chứ không xuất bản nữa).
29 Tháng Năm 202512:23 SA(Xem: 19922)
Trong những năm gần đây, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI : Artificial Intelligence) đã tạo ra một làn sóng quan tâm sâu rộng trong giới viết lách. Với nhiều người, đây là một phương tiện mới mẻ, đáng để thử nghiệm. Nhưng với không ít người khác , nhất là những cây bút kỳ cựu hoặc thủ cựu, thì sự xuất hiện của AI đặt ra những hoài nghi, thậm chí phản ứng: Có nên xử dụng AI khi viết văn? Nếu có sự trợ giúp như thế, tác phẩm đó có còn là của cá nhân? Người viết có còn xứng đáng đứng tên tác giả? Tôi từng bỡ ngỡ và đặt những câu hỏi ấy khi mới tiếp xúc với AI. Nhưng nhờ trải nghiệm thực tiễn, tôi dần nhận ra bản chất thật sự của công cụ này – và càng hiểu rõ hơn đâu là ranh giới giữa công cụ hỗ trợ và ý tưởng sáng tạo. Bài viết này chia xẻ góc nhìn cá nhân ấy, không nhằm tranh luận hay áp đặt, mà như một cách giúp bạn đọc hiểu rõ hơn: trí tuệ nhân tạo không hề thay thế con người, và việc xử dụng AI trong sáng tác – nếu trung thực và có ý thức – là điều hợp lý và xứng đáng.
25 Tháng Năm 202510:09 SA(Xem: 26279)
Bài thơ hôm qua bây giờ đã cũ Tình yêu năm rồi bây giờ đã xa Chỉ nỗi buồn sao không chịu cũ Vẫn mới nguyên, như bị, tâm thần
20 Tháng Năm 202510:13 CH(Xem: 23013)
Ngày qua ngày còn chăng kỷ niệm / Bàn tay em đường chỉ vô tình / Chiều mưa lạ “chiều mưa dông tới” / Nỗi buồn vui con mắt nhớ nhà
20 Tháng Năm 202512:46 CH(Xem: 17528)
Tin anh Trần Hoài Thư mất đã được nhà thơ Phạm Cao Hoàng thông báo cùng bạn bè đúng một tháng sau ngày chị Nguyễn Ngọc Yến, người vợ dấu yêu của anh ra đi (27-4-2024), vào sáng ngày thứ Hai 27-5-2024 cũng là ngày lễ Chiến sĩ trận vong (Memorial Day) của Hoa Kỳ. Một trùng hợp thật ngẫu nhiên. Nhà văn nhà thơ Trần Hoài Thư là một sĩ quan thuộc QLVNCH ngày xưa và khi định cư ở Mỹ, anh cũng là một chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, đã cùng anh Phạm Văn Nhàn, một đồng đội và bạn văn thời trước, xuất bản tạp chí Thư Quán Bản Thảo và thành lập nhà xuất bản Thư Ấn Quán với chủ trương khôi phục và vực dậy di sản văn chương miền Nam. Nay thì người Chiến sĩ ấy đã trận vong. Thật buồn!
19 Tháng Năm 20254:34 CH(Xem: 22850)
Từ em thấp thoáng bên song / Vườn thơ anh nở một bông cúc vàng / Từ em đưa nắng xuân sang / Anh nghe tháng giá, năm hàn rụng rơi
19 Tháng Năm 202512:44 SA(Xem: 20678)
chiếc cà vạt đeo những giọt nước / nguồn khát vân bích hoang mạc / có những cú nhẩy nhổm chết người / đứng thắt thẻo một mình coi chừng té không ai người chụp bắt bóng.
19 Tháng Năm 202512:12 SA(Xem: 19749)
Lương y Lê Huân gọi hắn, giọng hụt hơi đọng nước mắt: - Chú… Chú cứu anh với… Anh gặp nguy… Rồi ông tắt máy có lẽ bằng bàn tay run rẩy… Hoang mang rối bời, hắn phóng xe đến ngay nhà người “bạn vong niên” - như ông đề nghị gọi thế. Lê Huân vốn là người bình tĩnh, từng trải, thương người, không chấp vặt, không gây ác nghiệp với ai bao giờ, vậy mà đang mắc phải chuyện cực kỳ hệ trọng. Nhưng hắn có bản lĩnh gì đây để ông nhờ vả? Quả là chuyện động trời, liên quan đến tính mạng của một cô bé vừa tốt nghiệp Trung học phổ thông, bạn thân của con gái hắn.
18 Tháng Năm 202511:27 CH(Xem: 18547)
Ngày 06.05.2010, cách nay 15 năm, tôi mất một người bạn thân và quý ở Hà Nội. Đó là anh Hoàng Cầm. Hoàng Cầm và Thái Bá Vân là hai người bạn HN mà tôi có tình thân và quý mến từ những năm 1990. Tình cảm này đã gây trong tôi những xúc động sâu xa khi mất đi các anh. Tôi không làm Thơ theo lối “khóc bạn” cổ điển. Những bài Thơ viết về các bạn đã mất là những cảm xúc của một tình bạn tuy không gian cách xa, nhưng rất gần gũi trong Tình, trong Thơ.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3849)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13295)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19662)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18638)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1639)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1797)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2318)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2422)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1463)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2213)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1959)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 2002)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1374)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2420)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2629)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2382)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 248)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 820)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1010)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1124)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6417)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15899)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32156)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38864)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1487)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13904)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6910)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10709)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9893)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 10024)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10830)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3460)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11154)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10362)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi