- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

GIỮA HAI THẾ KỶ 55 NĂM HỘI HOẠ NGUYÊN KHAI VẪN CHẤT THƠ NGÀY ẤY

01 Tháng Bảy 201612:54 CH(Xem: 56515)

 

 

nk 1

Hình 1_ Chân dung Nguyên Khai

 

TIỂU SỬ NGUYÊN KHAI

      Tên thật Nguyễn Phước Bửu Khải, sinh ngày 01.09.1940 tại Huế. Nguyên Khai theo học hai năm đầu tại trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế (1960-1961), chuyển vào học năm thứ ba và thứ tư trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định (1962-1963). Huy chương Đồng Triển lãm Mùa Xuân Saigon 1963, cũng là năm Nguyên Khai tốt nghiệp tại trường này. Là một trong những thành viên sáng lập và là khuôn mặt nổi bật của Hội Hoạ sĩ Trẻ Việt Nam từ 1966.  Nguyên Khai hầu như tham dự tất cả những cuộc triển lãm hàng năm do Hội Hoạ sĩ Trẻ tổ chức (1965-1975) cùng với các cuộc triển lãm tranh khác của Alliance Française 24 Gia Long Saigon, Centre Culturel Français trên đường Đồn Đất, Goethe Institute đường Phan Đình Phùng (1968-1975).

 

      Nhà phê bình hội hoạ người Pháp Marc Planchon, người rất gắn bó với những khuôn mặt tài năng của Hội Hoạ sĩ Trẻ Việt Nam, trên trang báo Journal d' Extrême Orient 01.10.1964 đã viết về Nguyên Khai cách đây 52 năm [1964]:

 

      "Anh vừa đúng 24 tuổi và thân hình mảnh mai như thiếu ăn, với cái nhìn nóng bỏng ấy trên một khuôn mặt gầy guộc khiến người ta nghĩ tới những sinh viên thời Trung cổ, ở thời kỳ triết học kinh viện, được nuôi dưỡng bằng những ý tưởng thăng hoa hơn là ham muốn, trong nỗ lực hướng tới tri thức, thấy hạnh phúc xây dựng luận lý trên những tiền đề tưởng tượng, hơn là chỉ chú trọng vào sự kiện vật chất trong thực tế phẳng lì của nó."

 

      "Il a tout juste vingt-quatre ans et, d'apparence, cette maigreur famélique, et ce regard brûlant dans un visage emacié qui font songer à ces escholiers moyennanageux, des temps scholastique, plus nourris d' idées effervescentes que de bonne chair, dans leur effort vers la connaissance, plus heureux de constructions logiques sur des prémises imaginaires, que de considérer simplement le fait matériel dans sa plate réalité."        

 nk 2

Hình 2_ Một Nguyên Khai mảnh mai thư sinh

trong cuộc triển lãm tranh chung ở Sài Gòn 1965

 

 

      Hơn nửa thế kỷ sau, Marc Planchon nếu có gặp lại Nguyên Khai, thì vẫn là một Nguyên Khai mảnh mai của ngày nào, chỉ có thêm là rất nhiều những vết hằn sâu của thời gian.              

 

nk 3 

Hình 3_ Bài phê bình hội hoạ của Marc Planchon trên Journal d' Extrême Orient 01.10.1964 về cuộc Triển Lãm tại Phòng Thông Tin Đô Thành

Sài Gòn với nhan đề: "Tác phẩm Nguyên Khai là tranh? hay thi hoạ?  

 

      Sau 1975, gia đình Nguyên Khai kẹt lại Việt Nam 6 năm. Là thuyền nhân rời Việt Nam 1981, định cư tại Nam California. Nguyên Khai tiếp tục sáng tác, và triển lãm tranh.

      Năm 2003, có thể coi là dấu mốc quan trọng trong hành trình sáng tạo của Nguyên Khai qua cuộc triển lãm tại hội trường Nhật báo Viễn Đông, Little Saigon. Nguyên Khai đã táo bạo sử dụng những con chips từ các computer phế thải, gắn vào những bức tranh tuy là chất liệu hỗn hợp/ mixed media, nhưng vẫn giữ được vẻ đẹp hài hoà và thơ mộng của tranh Nguyên Khai. Có thể nói đây là bước tiên phong cách tân của nghệ thuật Nguyên Khai, một hội nhập vào thế kỷ của nhân loại với những tiến bộ kỳ diệu trong lãnh vực điện toán / Mankinds and Computers.

 

      Nhưng sớm hơn trước đó, năm 1998 Nguyên Khai đã có một cuộc triển lãm thành công ở Artcore Los Angeles. Nhà phê bình hội hoạ Collette Chattopaddhyay có một Review về Nguyên Khai, trích đoạn: "Những tác phẩm của Khai tinh tế và phức tạp chuyển biến cách nhìn từ nghệ thuật cung đình Á châu với các biểu tượng toàn hảo như mặt trời, mặt trăng và bốn mùa bước qua những hình ảnh hiện đại của máy móc với các bộ phận computer, đồng hồ chỉ thời gian. Như gửi tín hiệu cho một thiên niên kỷ mới sắp tới, các tác phẩm ấy như một nhìn lại những giá trị văn hoá - xã hội của cuối thế kỷ 20, với trân trọng thành tựu quá khứ nhưng đồng thời là bước vươn tới lãnh vực khoa học kỹ thuật của thời hiện đại." Nguyên Khai at L.A. Artcore, 1998]  

 

      Tác phẩm của Nguyên Khai đa dạng về thể loại: sơn dầu/ oil painting, chất liệu hỗn hợp/ mixed media, sơn mài/ lacquery, tranh độc bản / monoprint và một số tượng và phù điêu / bas-relief và cả vẽ bằng men sứ / ceramics; phong phú về nội dung: từ tranh biểu hiện / expressionism tới tranh trừu tượng / abstract. Đã không có phân định rõ về từng thời kỳ sáng tạo của Nguyên Khai, nhưng anh thì vẫn cứ làm việc bền bỉ và không ngừng tìm kiếm, cho tới nay cho dù đã bước qua tuổi cổ lai hy, khả năng vận dụng chất liệu, những gammes màu của Nguyên Khai ngày càng điêu luyện.  

    

      Cuộc triển lãm mới nhất gần đây tại Little Saigon 06.2016 đánh dấu 55 Năm Hội Hoạ Nguyên Khai (1961-2016). Khoảng thời gian ấy tính ra là đã hơn nửa đời người, nhưng có lẽ không có tuổi tác cho nghệ sĩ khi vẫn còn nung nấu ngọn lửa sáng tạo.

 

NHỮNG CUỘC TRIỂN LÃM

2016     Viet Bao Gallery, Westminster, California

2015     Viet Bao Gallery, Westminster, California    

2012     Viet Art Gallery, Houston, Texas

2007     Palette Art Gallery, Houston, Texas

2006     Viet Bao Kinh Te Gallery, Garden Grove, California

2005     Viet Art Gallery, Houston, Texas

2004     Hoa Mai Gallery, Paris, France

2003     "40 Years of Artistry," Vien Dong Gallery, California

2002     Vinh Loi Gallery, Saigon, Vietnam

2001     Old Courthouse Museum, California

2000     Artcore L.A. Gallery, California

1998     Cuttress Gallery, Pomona, California

1997     "Salt & Pepper," Inst. of Contemporary Art Gallery, San Jose, California

1996     Pacific Asian Museum, Pasadena, California

1995     Smithsonian Institute Traveling Exhibition

1995     Ryal Gallery, Boca Raton, Florida

1994     "East & West," Wignall Museum, California

1987     UCLA Art Gallery, Burbank, California

1982     UC Irvine Gallery of Art, California

1969     The Sao Paulo Biennial, Brazil

1968     The New Delhi Biennial, India

1967     The Tokyo Biennial, Japan

1965     The Paris Biennial, France

 

 

 nk 4

Hình 4a_ Lan Phương: người bạn đời, bà Tú Xương thời hiện đại, cũng là nguồn cảm hứng và chất thơ của Nguyên Khai 2005

 

 

 nk 4 b

Hình 4b_ Nguyên Khai đang uống nước Cam Lồ,

một khoảnh khắc rất hạnh phúc

 

 


 nk 5

Hình 5_ Bức tranh Nhà thờ 1965 vẽ trong thời gian Nguyên Khai

trốn quân dịch sống ẩn náu như trong một ốc đảo

 

nk 6

 

Hình 6_ Bài báo giới thiệu gia đình Nguyên Khai trên

Los Angeles Times, 30-05-1998

 

 

NHỮNG NHẬN ĐỊNH VỀ NGUYÊN KHAI

     Tuy gồm nhiều thể loại, nhưng các tác phẩm chính của Nguyên Khai chủ yếu là tranh sơn dầu / oil painting, từ tượng hình / figurative sang trừu tượng / abstract xen lẫn nhau qua các giai đoạn. Dù thể loại nào, chất thơ mộng, sang trọng và vương giả trong tranh Nguyên Khai chính là vẻ đẹp tinh khôi của chất liệu / matière, với những gammes màu như ẩn hiện đan vào nhau mà anh có khả năng sử dụng rất nhuần nhuyễn.

 

      Nhà phê bình hội hoạ Huỳnh Hữu Uỷ trong tác phẩm Nghệ Thuật Tạo Hình Việt Nam Hiện Đại 2008 đã nhận định: "Tranh của Nguyên Khai là thơ được dựng lại bằng sắc màu trên nền vải. Đó là một thế giới vô cùng thơ mộng và quý phái như phong cách đã định hình ngay từ những bước đầu... Nghệ thuật của anh là một bắt nhịp ra ngoài cái hiện tiền."

 

      Hãy để Hoàng Ngọc Biên, nhà văn tiên phong của phong trào tiểu thuyết mới Miền Nam trước 1975 cũng là bạn hàng xóm viết về người bạn của mình: "Nguyên Khai xưa nay là người trầm tĩnh – trong chuyện sống cũng như chuyện sáng tác. Thời ở Tân Định Saigon, anh sống một mình và vẽ tranh gần như lặng lẽ trong một căn phòng tương đối rộng, ít tiếp xúc với bên ngoài... Khai bạn bè nhiều nhưng có vẻ không mất thì giờ đàn đúm: thì giờ anh gần như dành hết cho việc tìm cái mới trong nghệ thuật. Sài Gòn thời ấy bừng bừng không khí Modigliani và Chagall, Nguyên Khai không phải đã thoát ra được cái kích thước quyến rũ ấy, nhưng cuộc trò chuyện của Khai với trăng, sao, bầu trời và con người là bất tận. Tranh Nguyên Khai, kể cả khi anh bước qua một kỹ thuật mới, luôn mang một bố cục khác, một thứ ánh sáng phi thường. Nhưng cũng chính cái lối âm thầm làm việc ấy khiến khi anh phản ứng trước các ồn ào của thế sự, anh là một người triệt để."

 

Nhà văn nhà thơ Nguyễn Đình Toàn đã nhận xét rất tinh tế khi xem tranh Nguyên Khai: "Cái chất thơ mộng lãng mạn của tâm hồn Nguyên Khai hình như lúc nào cũng chìm lẩn dưới màu sắc, dưới những đường nét. Có vẻ như ông muốn dấu bớt chúng đi chứ không phơi bày ra."

 

      Hoạ sĩ Đinh Cường, cũng là thành viên của Hội Hoạ sĩ Trẻ nhận định:  "Nguyên Khai là một họa sĩ đã định hình, với thế giới tranh sang trọng và thơ mộng mang âm hưởng Huế, nơi anh đã sống cùng gia đình trong một phủ xưa bên Gia Hội. Những thiếu nữ trong tranh anh mang hình dáng quý phái, đặc biệt có những chân dung hai mặt rất Nguyên Khai."

 

      Thêm một Trịnh Cung phát biểu về Nguyên Khai: "Trong suốt hơn nửa thế kỷ làm nghệ thuật của Nguyên Khai, với tôi, anh là một con ong trong thầm lặng và bền bỉ, bay khắp vùng hoa lạ tìm mật cho mình và cho đời. Chúng ta hãy ngắm nhìn tranh Nguyên Khai đã vẽ lúc còn trai trẻ cho đến hôm nay, dù là sơn dầu hay với đa chất liệu, cái đẹp hiện đại vẫn luôn ứa chảy sự ngọt ngào, sự dịu dàng vô tận của thi ca khiến ta cảm thấy mình được nhấc bỗng khỏi những ràng buộc tăm tối, khắc nghiệt của đời thường."

 

      Khi trả lời câu hỏi của nhà thơ Trịnh Y Thư: "Tương quan giữa hội hoạ và thực tại là gì?" Nguyên Khai phát biểu: "Hội hoạ không quay lưng lại thực tại, nhưng nó không minh hoạ thực tại. Hội hoạ cho chúng ta cái nhìn khác, cái nhìn phi thực tại, để từ đó những khả thể của chân thiện mĩ được biểu đạt."

 

     Hình như các nghệ sĩ tài năng đều có điểm hội tụ và gặp nhau ở quan điểm nghệ thuật này. Nghiêu Đề, cũng là thành viên nổi trội của Hội Hoạ sĩ Trẻ khi nói về quan niệm hội hoạ cũng cho rằng đó không phải là một sao chép từ cuộc sống, và Nghiêu Đề đã đưa ra một hình tượng ví von:“hoạ sĩ là người tìm được một nét đúng giữa hai nét sai của thực tại.”

 

CÂU CHUYỆN BỨC TƯỢNG THỜI GIAN

      Bức tượng Thời Gian, tác phẩm độc nhất của Nguyên Khai trên đảo Galang Indonesia 1981, tượng làm bằng đá san hô lượm được trên bờ biển, dụng cụ lúc đó chỉ có một con dao phay để đục đẽo.

 

     Vĩnh Thăng, con trai Nguyên Khai lúc tới đảo mới có 7 tuổi, sau này khi đã trưởng thành ở Mỹ, hồi tưởng viết về bức tượng Thời Gian ấy:   

 

       "Ban đầu với tôi bức tượng là một vô nghĩa, tuy nhiên qua thời gian, tôi thấy được nhiều điều kỳ diệu ẩn tàng trong đó. Trước đây tôi nghĩ bức tượng là thể hiện giấc mơ đang chết dần của cha tôi, nhưng sau đó tôi thấy là mình sai. Cha tôi và tôi có cách nhìn khác nhau về sự thành đạt / achievement, cha theo quan niệm Đông phương, theo ông thành tựu không phải là sự giàu có và nổi tiếng, mà là sự hiện hữu và lớn lên từ nội tâm / inner growth and existence. Tôi lớn lên ở Mỹ, có một lối suy nghĩ Tây phương hơn. Nhưng rồi nghĩ lại thời gian đã mất của cha tôi không hẳn là đã mất; cha tôi đã cống hiến toàn thời gian cho sáng tạo, cho nghệ thuật mà ông yêu mến. 

 

 nk 16

Hình 16_ Phải: Những ngày gia đình Nguyên Khai trên Đảo Galang; Trái: Bức tượng Thời Gian 1981, tác phẩm duy nhất của Nguyên Khai trên đảo Galang Indonesia, làm bằng đá san hô lượm trên bờ biển, chỉ có con dao phay để đục đẽo.

 

      Cha tôi đã tạc bức tượng này trên đảo Galang khi gia đình tôi vừa đào thoát khỏi Việt Nam. Nó là gia tài duy nhất chúng tôi mang vào nước Mỹ. Không dễ dàng gì để mang bức tượng đó theo. Tôi còn nhớ rất rõ những gì diễn ra ngày hôm đó. Khi nhập cảnh, họ khám xét các túi hành lý. Tôi còn thấy được vẻ sợ hãi trong ánh mắt cha tôi, chuông báo động réo lên khi túi xách có bức tượng đi qua màn hình phát hiện kim loại. Giọng cha tôi run lên với mấy chữ tiếng Anh rời rạc: "Art mine, please I keep OK?" Thật là may mắn, chúng tôi còn giữ được bức tượng ấy tới nay. Bức tượng được đặt giữa phòng khách, quay mặt về hướng nam.

 

      Bức tượng trông thì đẹp nhưng không có ý nghĩa gì với tôi lúc đó... Tượng màu cát biển tạc chân dung một cô gái Á châu với dáng sang cả, vương giả. Có lần cha tôi bảo bức tượng ấy không chỉ là tượng trưng cho hy vọng và ước mơ mà còn nhiều hơn thế nữa. Là một nghệ sĩ, bị tước đoạt tự do sau khi cộng sản cưỡng chiếm miền Nam, gia đình chúng tôi đã đào thoát với ước mơ đi tìm cuộc sống tự do. Cha tôi không chỉ có ước mơ cho chúng tôi mà cho chính ông nữa. Tất cả mong ước là ông được tự do sáng tạo và phát triển cuộc sống tâm linh.

 

      Ban đầu tôi đã lầm khi nghĩ rằng giấc mơ của cha là trở thành một nghệ sĩ nổi tiếng và giàu có. Rồi tôi hiểu rằng chẳng dễ gì để ông có thể nổi tiếng trên đất Mỹ, và ông phải khởi sự lại từ bước đầu. Nước Mỹ là vùng đất mới và rất khác, và chỉ có mỗi con đường phía trước là thời gian, và bức tượng được mang tên "thời gian". [Lược trích, The Time, Vĩnh Thăng, The Writers Post, July 1999]

 

ĐẾN VỚI CĂN NHÀ MƠ ƯỚC

      Những lần tới nhà Nguyên Khai, thường là cùng đi với vợ chồng Đổ Hoàng, bạn đồng môn Y khoa, nhưng Đường Thiện Đồng lại là bạn từ thời để chỏm với Bửu Khải với những ngày thơ ấu nơi trường tiểu học bên phủ Gia Hội. Nhà Đổ Hoàng có bộ sưu tập khá nhiều tranh Nguyên Khai và tôi vẫn gọi đùa đó là một Nguyên Khai's mini-museum. Tôi thì quen Nguyên Khai vào thập niên 60 có lẽ cùng thời với người bạn Tấm Cám Nghiêu Đề.

 

      Nơi phòng khách, nhà trên để Lan Phương - chị Nguyên Khai và cũng là bà Tú Xương thời hiện đại tiếp bạn. Riêng tôi mỗi lần tới Nguyên Khai thì lại thích xuống thăm xưởng vẽ của anh. Gọi là xưởng vẽ chứ đó chỉ là một garage nhỏ, thiếu ánh sáng và ban ngày làm việc đôi khi cũng phải cần có thêm vài ngọn đèn.

 

      Nguyễn Đình Toàn cũng phải ngạc nhiên viết: "Đối với con mắt bình thường, người ta không khỏi thắc mắc tự hỏi, làm thế nào có thể vẽ trong điều kiện như vậy?"

 

      Tranh Nguyên Khai không chỉ đẹp mà ở một số bức còn mang nét man mác buồn của tình hoài hương / Nostalgia. Cho dù đang đi giữa những toà nhà chọc trời của New York, Nguyên Khai vẫn nhìn thấy đâu đó ẩn hiện một nóc Nhà thờ Đức Bà của Sài Gòn trong trí tưởng ngày nào. [Cũng có Nhà thờ Đức Bà ở New York 2009] 

 

 

nk 7

 

Hình 7_ Trong garage, một bức tranh dở dang còn treo trên giá vẽ

 

      Nếu nhà trên ngăn nắp bao nhiêu, thì nơi đây trong xưởng vẽ chỉ có ngổn ngang những khung tranh, ống màu và các cây cọ hoặc còn ướt hay đã khô cứng còn vấy màu lem luốc; tất cả như không chừa chỗ cho có một lối đi. Rồi cả chồng những bức tranh cũ mới xếp bên nhau. Có những bức đã xem, có đôi bức tranh mới, và cả một bức tranh dở dang còn đứng trên giá vẽ.

 

       Nguyên Khai thì bao giờ cũng thú vị khi nói về bức tranh đang hình thành. Ý niệm của bước kết thúc ra sao, có thể còn có những bất ngờ đẹp hơn mà có lẽ người hoạ sĩ cũng chưa được biết rõ. Tình cờ trong hội hoạ có lẽ cũng thú vị như sự đột biến trong các bước cấu trúc của một tác phẩm văn chương.

 

 

 nk 8

Hình 8_ Tình hoài hương trong tranh Nguyên Khai:

"cũng có Nhà thờ Đức Bà ở New York" 2009

 

      Sau garage tranh ấy là khu vườn nhỏ, một khoảng không gian yên tĩnh khác mà tôi muốn lui tới. Diện tích mảnh vườn rất nhỏ thôi, ngoài mấy chậu Bonsai do chính tay Nguyên Khai chăm sóc cắt tỉa, khoảnh đất còn lại có đủ hoa trái bốn mùa: ổi, hồng dòn, cam chanh bưởi, một dàn lựu đỏ trĩu trái bên tường và rất hiếm là có cả một cây khế chua sai trái. Cũng phải tin là Nguyên Khai có tay trồng cây; cũng cây ấy trồng ở một nơi khác nhiều năm không ra trái, nhưng khi đưa về đây, chỉ năm sau cây trái đã lại xum xuê.

 

      Được xem tranh, ngắm mấy cụm Bonsai, và màu sắc cây trái thật sự là những phút thư giãn. Trời đổ tối, bước vào nhà bao giờ cũng là bữa ăn ngon, khi ra về không bao giờ tay không, nếu không là một túi cây trái tự hái, thì cũng là một gói xôi vò - món thuần bắc, chắc chắn không phải là do "Mệ Bửu Khải" trổ tài nội trợ.   

 

 nk 9

Hình 9_ Tranh số 24 Nguyên Khai 1967, mới tìm thấy trong sưu tập

của một gallery ở Arizona

 

 nk 10

Hình 10_ Tranh Ngựa Nguyên Khai 1993

 

 nk 11

Hình 11_ Hoàng Thành, tranh Sơn Mài Nguyên Khai 1987

 

 nk 12

Hình 12_ Chim và Nguyệt Thực, tranh sơn mài Nguyên Khai 1987

 

 

 

nk 14 

Hình 14_ Từ trái: Trà Sớm Trà Muộn, tranh tĩnh vật Nguyên Khai 2001,

với bộ đồ trà của mẹ, tưởng nhớ ngày mẹ mất

 

 hinh 13

Hình 13_ "Thời hiện đại và computer" 1992, "Mạch Dẫn" 1995

chất liệu hỗn hợp / mixed media

 

 HINH 17

Hình 17_ Nụ cười Đức Phật 2006, phù điêu / bas-relief Nguyên Khai:

 [sưu tập Đổ Hoàng, Newport Beach]

 

 hinh 15

Hình 15_ Nguyệt Thực Nguyên Khai 2016 trong cuộc triển lãm

55 Năm Hội Hoạ Nguyên Khai 1961-2016

 

 

 hinh 18 a

Hình 18a_ Cuộc triển lãm cuối cùng của "Hội Hoạ Sĩ Trẻ" tại Sài Gòn trước 1975; từ trái: Đinh Cường, Mai Chửng, Dương Nghiễm Mậu, Hoàng Ngọc Biên, Nguyên Khai, Nguyễn Trung, Hồ Thành Đức, Nguyễn Đồng

[tư liệu Hội Hoạ Sĩ Trẻ]

 

hinh 18b

 

Hình 18b_ Từ Saigon 1975 tới Houston 2005, bảy thành viên "Hội Hoạ Sĩ Trẻ" hội ngộ 30 năm sau; từ trái: Đinh Cường, Nguyễn Phước, Nguyên Khai, Nguyễn Lâm, Nguyễn Trung, Hồ Hữu Thủ, Trịnh Cung

 

 

hinh 19a 

Hình 19a_ Triển Lãm tranh Nguyên Khai 2016: từ phải Nguyên Khai

và Ngô Thế Vinh

 

hinh 19b

 

Hình 19b_ Triển Lãm tranh Nguyên Khai 2016

từ trái: vợ chồng Nguyên Khai Lan Phương, Ngô Thế Vinh và Trịnh Cung

 

MỘT NÉT VĂN HOÁ LITTLE SAIGON

      Gia đình Nguyên Khai từ nhiều năm sống êm ả trong một căn nhà nhỏ nơi vùng Tustin. Khi lần đầu tiên tới thăm, Trịnh Cung đã thốt lên: đó là căn nhà của mơ ước.

 

 hinh 20

Hình 20_ Trái: nghệ thuật Bonsai Nguyên Khai

Phải: vẽ bằng men sứ trên bình trà hai vòi

 

 hinh 21

HÌNH 21_ Đầu tường lựu đỏ, hồng, khế, bưởi, ổi...

bốn mùa cây trái trong vườn nhà Nguyên Khai

 

      Nhớ lại khi Mai Thảo vừa mất, Đỗ Ngọc Yến có ý tưởng lập một giải văn chương Mai Thảo. Tôi nói với Yến, trước khi nói tới một giải văn chương mang tên Mai Thảo, việc nên làm ngay là giữ lại chiếc bàn viết lữ thứ của anh ấy, như một nét văn hoá của Little Saigon. Khó có thể tưởng tượng cảnh sống đạm bạc của Mai Thảo trên đất Mỹ. Chỉ là một căn phòng rất nhỏ trên lầu 2 của một chung cư dành cho người cao niên ngay phía sau nhà hàng Song Long. Chỉ có một bàn viết, chiếc giường đơn, một kệ sách, và trên vách là tấm hình Mai Thảo ngồi với Vũ Hoàng Chương trên bậc thềm nhà. Nhưng rồi cả không gian sống của Mai Thảo, cuối cùng chỉ đủ xếp vào hai chiếc thùng giấy. Và đã không còn đâu dấu vết chiếc bàn viết lữ thứ của một nhà văn lưu vong có tên Mai Thảo.

 

      Người Việt phiêu bạt từ khắp năm châu, khi hành hương tới thủ đô tỵ nạn không lẽ chỉ để thấy một khu Phước Lộc Thọ, chỉ có một tiệm sách Văn Khoa thì nay cũng không còn nữa. Một người bạn cùng gia đình và đàn con thế hệ thứ hai đến từ xứ tuyết Toronto, nhận định là tới Little Saigon không lẽ chỉ để dẫn chúng nó vào những tiệm phở, ngắm bảng hiệu mấy văn phòng bác sĩ hay luật sư. Anh ấy muốn nói tới một Công Viên Văn Hoá Việt Nam.

 

      Mong ước, rồi ra ngoài một Gallery Nguyên Khai trên không gian ảo www.nguyenkhaiart.com, căn nhà nhỏ mơ ước của Nguyên Khai - chữ của Trịnh Cung, nơi thị trấn Tustin, Orange County California và một số tranh tượng ấy sẽ được giữ lại như thêm một nét văn hoá Việt nơi thủ đô tỵ nạn của một thế hệ di dân thứ nhất. 

 

 

NGÔ THẾ VINH

Tustin, California 10.06.2016

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
23 Tháng Ba 20266:41 CH(Xem: 2318)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
15 Tháng Ba 20261:13 SA(Xem: 2408)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
15 Tháng Ba 202612:47 SA(Xem: 2963)
Một Bài Thơ Dịch, 114 Năm Sau Khi Bài Thơ Gốc Ra Đời. LE PONT MIRABEAU - Tác giả Guillaume Apollinaire -1912 DƯỚI CẦU MIRABEAU – Trần C. Trí chuyển ngữ -2026
14 Tháng Ba 202611:58 CH(Xem: 3428)
. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024. Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.
14 Tháng Ba 202611:11 CH(Xem: 3656)
Xin thưa ngay, “Giáo chủ” đang nói tới đây không nhằm nói về một nhân vật cụ thể, ở một xứ sở cụ thể nào. Và động lực để hắn có đủ lòng dũng cảm (vâng, cần tới lòng dũng cảm) để viết những dòng tạm gọi là “truyện ngắn” cho lành này, chính là tâm sự của một người mẹ - bạn gái hắn, kể với tay nhà báo quèn về chuyện đã “mất” đứa con gái duy nhất tên là MTT cho một đấng “Giáo chủ” cùng hệ thống giáo lý và cái “Thiên đường” của ông ta ra sao…
14 Tháng Ba 202610:45 CH(Xem: 4260)
đưa em về qua chợ / bến đò đầy khách rồi / bữa hôm trời trở gió / tháng giêng hai đến rồi
14 Tháng Ba 202610:34 CH(Xem: 3728)
Ở miền sông nước Hậu Giang, nơi những con rạch nhỏ lặng lẽ chảy qua vườn dừa, vườn khóm, người ta vẫn nhớ về một cô gái có nụ cười “tỏa nắng” như nắng tháng Ba phương Nam. Cô tên là Mai Thị Ngọc Linh.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 4733)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
28 Tháng Hai 20263:32 SA(Xem: 3050)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
28 Tháng Hai 20262:58 SA(Xem: 2980)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 8819)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15794)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14807)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15169)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
23 Tháng Ba 20266:41 CH(Xem: 2318)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
15 Tháng Ba 202612:47 SA(Xem: 2963)
Một Bài Thơ Dịch, 114 Năm Sau Khi Bài Thơ Gốc Ra Đời. LE PONT MIRABEAU - Tác giả Guillaume Apollinaire -1912 DƯỚI CẦU MIRABEAU – Trần C. Trí chuyển ngữ -2026
14 Tháng Ba 202610:45 CH(Xem: 4260)
đưa em về qua chợ / bến đò đầy khách rồi / bữa hôm trời trở gió / tháng giêng hai đến rồi
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 5606)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 3050)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 4567)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 4081)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 4832)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
14 Tháng Ba 202611:58 CH(Xem: 3427)
. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024. Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.
14 Tháng Ba 202611:11 CH(Xem: 3655)
Xin thưa ngay, “Giáo chủ” đang nói tới đây không nhằm nói về một nhân vật cụ thể, ở một xứ sở cụ thể nào. Và động lực để hắn có đủ lòng dũng cảm (vâng, cần tới lòng dũng cảm) để viết những dòng tạm gọi là “truyện ngắn” cho lành này, chính là tâm sự của một người mẹ - bạn gái hắn, kể với tay nhà báo quèn về chuyện đã “mất” đứa con gái duy nhất tên là MTT cho một đấng “Giáo chủ” cùng hệ thống giáo lý và cái “Thiên đường” của ông ta ra sao…
14 Tháng Ba 202610:34 CH(Xem: 3728)
Ở miền sông nước Hậu Giang, nơi những con rạch nhỏ lặng lẽ chảy qua vườn dừa, vườn khóm, người ta vẫn nhớ về một cô gái có nụ cười “tỏa nắng” như nắng tháng Ba phương Nam. Cô tên là Mai Thị Ngọc Linh.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 4733)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
15 Tháng Ba 2026(Xem: 2408)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
28 Tháng Hai 2026(Xem: 2980)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 2026(Xem: 3097)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 3581)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 11663)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28068)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 34478)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 34554)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9220)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 11456)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2318)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
(Xem: 5606)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 5122)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 5182)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 4517)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 6480)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 5732)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 7533)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.