- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

NHỤC HẬN BIỂN ĐÔNG NAM Á KIỆN HAY KHÔNG KIỆN? (Tập 1)

Sunday, November 15, 20152:36 AM(View: 71539)

VNC-2014 DẪN NHẬP
Viết về liên hệ giữa Việt Nam và Trung Hoa hiện nay, rất tế nhị và khó khăn, vì không chỉ có liên hệ giữa hai nước láng giềng, mà còn những ràng uộc giữa hai đảng “Cộng Sản,” ít nhất từ năm 1938, khi Nguyễn Sinh Côn (Linov, tức Hồ Chí Minh, 1892-2/9/1969) được Quốc Tế Cộng Sản [QTCS, Comintern] gửi về Diên An.

Chúng tôi nghĩ thuật ngữ “Communism” của Karl Marx—vốn chỉ có nghĩa “công hữu trong xã hội nguyên thủy”—đã bị nhóm Chen Doxu [Trần Độc Tú] và Li Dachao [Lý Đại Chiêu] dịch sai thành “Cộng Sản” [gongshan hay gongchan]. Họ cũng dịch tên Karl Marx thành Mã Khắc Tư, và năm 1919 lập Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mã Khắc Tư, tiền thân Đảng Cộng Sản Trung Hoa [THCSĐ]. Tháng 11/1945, giữa lúc hiểm họa liên quân Pháp và Bri-tên tài xâm chiếm phía nam vĩ tuyến 16 dưới chiêu bài Đồng Minh, và Pháp đang điều đình với chính phủ Tưởng Giới Thạch (Chang Kai-shek) để tiến ra bắc, “tước vũ khí quân Nhật,” Ban Chấp Ủy trung ương Đảng Cộng Sản Đông Dương [CSĐD] loan tin đã họp ngày 5/11/1945, "nghị quyết tự động giải tán Đảng CSĐD [từ ngày 11/11/1945]. Những tín đồ của Chủ nghĩa CS muốn tiến hành việc nghiên cứu chủ nghĩa, theo Cờ Giải Phóng, cơ quan ngôn luận vủa Đảng CSĐD, sẽ gia nhập Hội Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mã Khắc Tư ở Đông Dương." Đặng Xuân Khu (Trường Chinh, 1909-1988), đương kim tổng bí thư, làm Tổng thư ký.[1] Việc giải tán Đảng CSĐD này, theo Nguyễn Sinh Côn, nhằm mục đích "hợp tác tinh thành" với các đảng phái khác, hầu thiết lập một chính phủ liên hiệp kháng chiến đầu năm 1946, và bầu cử Quốc Hội, đặt xuống những nền tảng pháp lý.[2] Thực sự, các phe phái Việt Nam đã bị quan tướng Quốc quân Trung Hoa và đại diện Pháp áp lực, khuyến khích ngồi lại với nhau sau khi Tưởng Giới Thạch quyết định nhường quyền kiểm soát phía bắc vĩ tuyến 16 cho Pháp (Hòa ước Trùng Khánh [Chongqing], 28/2/1946) và phụ bản quân sự tháng 4/1946 để tập trung đánh Cộng. Theo vài nhân chứng, kể cả Võ Nguyên Giáp, tức Võ Giáp (1911-2013), Tư lệnh Hà Nội là Chu Phúc Thành cùng Tiêu Văn, cố vấn chính trị, đã từng tạm giữ Côn trọn một ngày để điều tra về vụ ám sát một Pháp kiều. Cuối cùng, Côn được phóng thích, nhưng tài xế và xe bị giữ lại. Một lãnh tụ Việt Cách, từng cầm đầu một phe Việt Nam Quốc Dân Đảng Hải ngoại ở Côn Minh nhưng đã bí mật ngả theo Cộng Sản từ thập niên 1930, đang vận động tranh cử ở Thái Bình cũng bị gọi về Hà Nội, giam giữ, tra khảo và mớm cung, trút trách nhiệm

 

 

 

 

 TaiLieu 2-F1

 

Tài liệu 2: Thư trường Quốc Học

Hiệu trưởng trường Quốc Học Huế thông báo trò Nguyễn Sinh Côn, cựu học sinh trường Pháp-Nam Thừa Thiên, được nhận vào trường Quốc Học từ ngày 7/8/1908. Nguồn: CAOM (Aix), Annam, R1. Đã công bố trong Chính Đạo, Hồ Chí Minh, 1892-1969: Con người & Huyền thoại.

 


 

 cho Linov Côn cùng Võ Giáp. Nhờ vậy, đầu năm 1946, một chính phủ liên hiệp ra đời, rồi đến một Quốc Hội mà các phe phái ngầm thỏa thuận về số dân biểu. Phe Việt Cách của Nguyễn Hải Thần, và Quốc Dân Đảng của Vũ Hồng Khanh (tức liên Minh Đại Việt Quốc Dân Đảng trong nước và Việt Nam Quốc Dân Đảng Hải Ngoại, từ Trung Hoa về, hay từ ngục tù, Côn Đảo ra) được tặng không 70 ghế đại biểu Quốc Hội, và bốn ghế bộ trưởng. Nguyễn Sinh Côn cùng các lãnh tụ đối lập như Vũ Hồng Khanh cũng ký Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt ngày 6/3/1946 và Phụ bản quân sự 3/4/1946, đồng ý cho Pháp thay thế Quốc quân Trung Hoa, đổi lấy điều kiện mông lung như “một quốc gia tự do trong Liên Hiệp Pháp,” được duy trì một quân đội riêng, và Pháp hứa sẽ rút quân khỏi Việt Nam trong năm [5] năm—những điều kiện mà Linh Mục Cao Ủy Georges Thierry d’Argenlieu kết tội là vượt qua quyền ủy thác của Đô Đốc, nhưng vì nhu cầu đổ bộ lên miền bắc trước ngày đệ nhất chu niên chiến dịch Meigo (9-14/3/1945), d’Argenlieu tìm đủ cách xé bỏ tạm ước, và hoàn trả Paris Tướng Philippe M Leclerc de Hautecloque, Raoul Salan, cùng Ủy viên Cộng Hòa Bắc Kỳ Jean Sainteny (Roger).[3] Tháng 9/1946, Nguyễn Sinh Côn cũng mang việc giải tán Đảng CSĐD ra để “đánh lừa” Đại sứ Mỹ ở Paris rằng mình và chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến của VNDCCH không phải là Cộng Sản. Mặc dù an ninh Mỹ chưa tìm ra những bằng chứng cụ thể về liên hệ giữa Nguyễn Sinh Côn cùng Quốc Tế Cộng Sản trong giai đoạn này, (và thực ra Josef Stalin chẳng mấy thiết tha, và tới đầu năm 1950 mới miễn cưỡng cho Mao Trạch Đông [Mao Ze-dong] sử dụng Côn) nhưng ngày 9/9/1946, Bộ Ngoại Giao Mỹ cho Tổng Lãnh sự Sài Gòn Charles S Reed biết có tin Liên Sô Nga đã chỉ thị Đảng Cộng Sản Pháp gửi cán bộ qua huấn luyện Việt Minh. Ngoài ra, cơ quan tình báo Pháp báo động về sự hiện diện của cán bộ Cộng Sản Trung Hoa tại Sài Gòn, Chợ Lớn, Hải Phòng, và ngay cả Hà Nội.

Trong khi đó, hội nghị Fontainebleau giữa Pháp và VNDCCH ngừng họp từ ngày 9/9/1946. Tình thế căng thẳng đến độ ngay một tuyên cáo chung dự trù công bố ngày 10/9/1946 cũng không đạt được. Bởi vậy, ngày 11/9/1946, Nguyễn Sinh Côn bí mật gặp Đại sứ Mỹ Jefferson Caffery ở Paris để nhờ can thiệp, và ngay tối đó, được Đệ nhất thư ký Tòa Đại sứ là George M. Abbott tiếp xúc, tìm hiểu lập trường Côn.[4]

Hôm sau, có sự can thiệp của Caffery hay không, Bộ trưởng Pháp Quốc Hải Ngoại Marius Moutet (đã biết Nguyễn Sinh Côn tại Paris từ thập niên 1920) quyết định cứu vãn tình hình, tiếp tục đích thân thảo luận bí mật với Nguyễn Sinh Côn (từ tháng 7/1946 theo đề nghị của Côn ngày 22/7/1946) rồi đồng ý ký Tạm ước [Modus vivendi] 14/9/1946 cùng Tuyên Cáo Chung. Thực ra, đây chỉ là một phần nước trộn lẫn đất cát cố gắng gạn vét từ một ly nước đổ để lập lại nguyên tắc của Hiệp ước Sơ bộ 6/3/1946, với lời hứa đình chiến tại Nam Bộ từ ngày 30/10/1946, phóng thích tù binh, và sẽ nối lại thương thuyết từ tháng 1/1947. Đáng chú ý là Côn đã nhấn mạnh muốn về nước ngày 14/9, và chiều đó Moutet đã làm phiếu trình chính phủ Georges Bidault về Tạm Ước 14/9/1946. Chẳng hiểu tại sao có tin đồn nửa đêm 14/9 Côn mới chịu chấp nhận điều kiện của Moutet dù Bộ Chính Trị đã yêu cầu Côn đừng nên ký bất cứ thứ gì, và Moutet không muốn đặt lên đĩa bạc ân sủng của nước Pháp, vì chưa thấy cần thiết phải giao trả lại Nam Bộ, và quan tâm đặc biệt đến cái gọi là “bạo lực cách mạng” của Đảng CSĐD. Ngoài ra, một nhóm đại diện các nhà kỹ nghệ và thương gia làm ăn ở Đông Dương cũng bí mật thương thuyết với chuyên viên kinh tế của phái đoàn VNDCCH, nhưng không đạt được kết quả nào.[5] Thái độ ương ngạnh của Linh Mục/Cao Ủy Georges Thierry d’Argenlieu, với sự yểm trợ của Tướng Charles de Gaulle, được coi như nỗ lực phá hủy mọi ảo vọng của Nguyễn Sinh Côn. Và, các quan tướng Pháp như Jean Valluy đều hăm hở vén cao tay áo, sửa soạn chiến xa, phi cơ, tàu chiến cùng Nhảy Dù, Lê Dương, Biệt kích chờ đợi đuổi Côn khỏi Bắc Bộ Phủ Hà Nội, lang thang trong rừng núi—giống như Liên quân Bri-tên, Pháp và tù binh Nhật đã đuổi Lâm Ủy Hành Chánh và Kháng Chiến Nam Bộ của nhóm Hoàng Quốc Việt (tức Quận thọt Hà Bá Cang), Trần Văn Giàu, và Phạm Văn Bạch khỏi Sài Gòn trong dịp cuối tuần 22-23/9/1945. Tướng Bri-tên Douglas D Gracey, Tư lệnh Sư đoàn 20 Gurkha (da đen), được đích thân Tướng Slim, người cầm đầu lục quân Bộ Tư lệnh Đông Nam Á, chọn làm Tư lệnh lực lượng Liên Hiệp Quốc giải giới quân Nhật ở phía nam vĩ tuyến 16, từng lạnh lẽo cho lệnh Thống chế Terauchi, cựu Tư lệnh Lộ Quân Miền Nam, phải dời chỗ ở từ Đà Lạt xuống Sài Gòn, chỉ huy tù binh Nhật bắn vào dân An-nam-mít, nếu cần, để sớm vãn hồi trật tự theo kiểu Pháp—và, công khai đe dọa vấn đề hồi hương của quân Nhật sẽ tùy thuộc vào sự hợp tác với “Đồng Minh.” Hồ sơ mật về những buổi họp của Ủy Ban Đón Tiếp Đồng Minh tại Sài Gòn, cùng những lệnh bắt Nhật đưa đại diện Lâm Ủy Hành Chính tới bàn Hội nghị, giải thích rõ ràng tại sao đã xảy ra những vụ cướp bóc và bạo lực ở Tân Định do Bình Xuyên chủ xướng.[6]

Chuyến qua Pháp từ ngày 30/5 tới 16/9/1946, mà Côn [Hồ] đóng vai một quốc trưởng, hy vọng thuyết phục thế giới về chính nghĩa độc lập của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa [VNDCCH] (1945-1976) thất bại, vì Linh mục/Cao Ủy Thierry d’Argenlieu và nhóm Gaullist chỉ coi “Hồ” như lãnh tụ một Đảng, và lãnh thổ Việt Nam không quá vĩ tuyến 16, trừ thêm các khu tự trị cho sắc tộc ở thượng du Bắc Việt (Mường, Thái, Nùng, Mèo [H’Mong) cùng vùng rừng núi phía tây Trung Kỳ (Chàm, Ê-đê hay Rhadé, Gia Lai hay Jirai, Hrê). Đáng sợ hơn nữa, Thierry d’Argenlieu quan niệm rằng mọi hòa ước chỉ có tính cách giai đoạn, sẽ bị xóa bỏ, khi bước sang một giai đoạn mới. Trong hồi ký cuối đời, Raoul Salan từng gọi cấp chỉ huy cũ của mình là “Monsieur Vilain” [Ông Đê Tiện].

Thierry d’Argenlieu và phe nhóm muốn tìm một giải pháp khác Hồ Chí Minh—như tái lập cựu hoàng Duy Tân (1907-1945), đã bị giáng xuống thành Hoàng tử “Vĩnh Sang,” đầy sang Réunion, châu Phi, mới được phong cấp Chuẩn úy, đưa sang Paris theo đơn xin và sự vận động của các viên chức thuộc địa. Nhưng tai nạn phi cơ ngày 26/12/1945 khiến “lá bài bí mật” của de Gaulle tan biến như một giấc mơ đẹp. Cố vấn chính trị Léon Pignon cùng d’Argenlieu—phần nào do sự gợi hứng của Khâm sứ Vatican Antonin Drapier ngả sang ý muốn tái lập cựu hoàng Nguyễn Vĩnh Thụy (Bảo Đại, 1926-25/8/1945) với sự phò trợ của Ngô Đình Diệm (21/7/1897-2/11/1963), con bài “Công Giáo,” xuất thân từ một gia đình hai đời vui hưởng “bát cơm bảo hộ Pháp,” thích dùng cây trúc như một biểu hiệu quân tử, nhưng bị nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam (1908-1963) lên án là “sẽ làm mất nước vào tay Cộng Sản.” Ông vua thứ 13 nhà Nguyễn đã được Linov Côn thả sang Trung Hoa tị nan từ tháng 3/1946, rồi tạm trú ở Hong Kong với một vũ nữ, dưới sự bao bọc của Hội truyền giáo Hong Kong và một điệp viên bí danh Yolle, qua trung gian Lưu Bá Đạt, một cựu nhân viên Ngân hàng Đông Dương người Việt gốc Hoa ở Đà Nẵng, thân thiết và bạn đồng tù của Lê Văn Hiến, Bộ trưởng Tài chính của VNDCCH, cùng nhiều lãnh tụ cách mạng Việt Nam hay các giáo phái miền nam.[7]

2. Chủ thuyết “Đông Phương Hồng” Mao Trạch Đông (Mao Nhuận Chi, 1893-1976) [Maoism] là một thứ chow mein trộn lẫn những mảnh vụn dã sử tiểu thuyết Tam Quốc Chí, Thủy Hử với kiểu mẫu công nhân vô sản [proletariat] của thế kỷ XIX, cùng nông dân “nghèo và trắng như tờ giấy, có thể viết bất cứ chữ gì trên đó.” Ngày còn trẻ, Marx từng ví nông dân như một bị khoai [a bag of potatoes] của cách mạng. Tuy nhiên, thuyết duy vật, đan kẽ với sự nghèo khổ và đè nén, bóc lột triền miên của những xã hội quân chủ chuyên chế, chậm tiến kiểu Trung cổ Á châu đã khiến Đảng Cộng Sản Việt Nam [CSVN] cầm quyền được 70 năm, và Đảng CSTH, 66 năm. Hơn nữa, áp lực Trung Cộng xiết tới gân cốt, khiến khó vẫy vùng. Nghiên cứu Mao’s China (1977) của Giáo sư Maurice Meisner, là một nghiên cứu xuất sắc về giai đoạn này. Vì vị thế bất đối xứng giữa Hà Nội và Bắc Kinh, đã nẩy sinh những thuật ngữ “bandwagoning v/s hedging” để xếp loại sự “hợp tác toàn diện, 16 chữ vàng” với sự đề phòng, cảnh giác âm thầm qua hàng rào quyền lợi quốc gia cùng kinh nghiệm lịch sử. Riêng trường hợp Việt Nam, ảnh hưởng của 1,000 năm chiếm đóng “cơ mi” và 900 năm “thông hiếu” theo qui luật xã hội đen, pha trộn với men rượu hồng “thiên mệnh” cần được nghiên cứu kỹ càng hơn, trên những văn bản của hai nước. Hai mẫu người “Hảo Hán tử” của tiểu thuyết và phim ảnh kiếm hiệp Trung Hoa cần được xếp bên những Hoa kiều lang thang mua “đồng nát,” hay những trùm tài phiệt như “Hui Bon Hoa,” hãng sản xuất bột giặt bằng vôi sống, hay tung vào thị trường hàng tấn thực phẩm lên men thối, sinh độc, cùng những đồ chơi cho trẻ nhỏ mang đủ loại vi khuẩn ô nhiễm. Từ cuối thập niên 1990 còn xuất hiện thêm những đòi hỏi “lãnh địa” hay “tô giới” tại những khu khai thác quặng mỏ bauxite ở Cao nguyên Trung Bộ hay phía tây Hà Tĩnh, khiến gợi nhớ khu kỹ nghệ gang thép Thái Nguyên trước đó. Chuyện khó tin, nhưng có thực: Các đại sứ toàn quyền Trung Cộng trên thực chất là những Đạt lỗ xích thời Nguyên, hay Bố chính sứ ti và Án sát sứ ti thời Minh—trực tiếp và lạnh lùng ngăn cản người Việt bầy tỏ long yêu nước, thương nòi, kể cả biển đảo. (Thật đáng khuyến khích khi thấy Bộ trưởng Công An, Ủy viên Bộ Chính Trị, Đại tướng Trần Đại Quang cho phổ biến trên website của mình, tháng 8/2015, bài của Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, kêu gọi cần bảo vệ biển Đông Nam Á, biên giới Hoa-Việt, Cao nguyên Trung Bộ và biên giới Tây Nam. Người ta tự hỏi liệu Đại Hội Đảng thứ XII sắp tới, và Quốc Hội Việt Nam có dám ra Nghị Quyết về biển đảo hay chăng? Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đi về đâu? Chủ tịch Trương Tấn Sang? Và, Đại tướng Phùng Quang Thanh? Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh thay đổi về nhân sự chưa hẳn mang lại thay đổi chính sách. 70 năm hiện hữu của chế độ “Cộng Sản” Việt Nam khiến không thể không thận trọng khi thẩm giá về thay đổi nhân sự.)

3. Từ đầu năm 1950, dư luận thế giới mới biết đến thứ “ngoại giao nhân dân,” hay giữa hai đảng CSTH và CSVN; nhưng khối văn chương cổ điển chiến tranh lạnh chưa thể nói đúng và đầy đủ sự lệ thuộc của Nguyễn Sinh Côn vào Zhongnanhai [Trung Nam Hải], nơi đặt ban thường vụ Bộ Chính Trị Đảng CSTH, cùng Quân Ủy Trung Ương Giải Phóng Quân—qua cố vấn chính trị Luo Guibo [La Quí Ba], và phái bộ cố vấn quân sự do Wei Guoqing [Vi Quốc Thanh], người gốc Tày tức Choang ở Guangxi [Quảng Tây] chỉ huy.

Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” từ Tuyên Quang “đi bộ 17 ngày” mới tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được đón lên Bắc Kinh trong kế hoạch của Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi]. Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến cầu viện bí mật này. Những nghiên cứu “nghiêm túc” nhất suy đoán rằng “một phái đoàn” đã đến Bắc Kinh và “có thể” ký một hiệp ước ngày 18/1/1950—đúng ngày Bắc Kinh nhìn nhận VNDCCH. Ngay Đại tướng Võ Nguyên Giáp—tên thực Võ Giáp (1911-2013)—từ năm 1994 và rồi 2001 mới đề cập đến “bạn” và chuyện cầu viện; nhưng không trưng dẫn được những phụ bản tài liệu khả tín như phóng ảnh các công điện và văn bản liên hệ.

(Võ Nguyên Giáp, Điện Biên Phủ [ĐBP] (Hà Nội: NXBQĐND, 2001), tr 14-17 [Stalin chỉ thị Mao giúp tổ chức 10 đại đoàn, HCM mời Trần Canh qua giúp], 32-4 [đoàn CSQS/TC], 39-42 [Trần Canh], 45–50 [Đông Khê], 51-85 [Thất Khê, Cốc Xá], 92-5 [Trần Canh], 102-3 [viện trợ TC năm 1950], 128 [20% nhu cầu năm 1950]; Idem., Chiến đấu trong vòng vây [CĐTVV], (Hà Nội: NXBQĐND, 2001); Idem., Đường tới Điện Biên Phủ [ĐTĐBP] (Hà Nội: NXBQĐND, 2001); William S. Turley, “The Military Construction of Socialism: Post-war Role of the People’s Army of Vietnam;” trong David G. Marr & Christine P. White (eds), Postwar Vietnam: Dilemmas in Socialist Development (Ithaca: SEAP, 1988), pp 195-210);

Nhân dịp tranh chấp giữa Hà Nội và Bắc Kinh trong giai đoạn 1977-1991, giới nghiên cứu được tiếp cận một số thông tin vượt ngoài dự tưởng—như Võ Giáp chỉ có công đứng ra nhận chiến công do tướng tá cố vấn quân sự Trung Cộng chỉ huy, từ chiến dịch Lê Hồng Phong II (9-10/1950) tới Điện Biên Phủ (1953-1954). Điều khiến những người thận trọng thắc mắc là tại sao Bộ Chính Trị và Quân Ủy Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam [CSVN] chưa bạch hóa các tài liệu văn khố Đảng và Quân Đội Nhân Dân [QĐND] để phản bác hay xác nhận chứng từ của Chen Geng [Trần Canh], Liu Shaoqi [Lưu Thiếu Kỳ], Zhou En Lai [Chu Ân Lai], Luo Guibo [La Quí Ba], Wang Yanquan [Vương Nghiên Tuyền], cùng các cố vấn khác mới công bố.

Hầu hết những tài liệu lược dẫn trên đều có hạn chế về mức khả tín. Thứ nhất, với Bắc Kinh và Hà Nội, “lịch sử Đảng” chỉ công bố những sự thực giai đoạn, hay nửa sự thực, phù hợp với mục tiêu chính trị và tuyên truyền nhất thời. Thứ hai, nhật ký hay hồi ký và truyền khẩu sử, tự chúng đầy chủ quan và khó tránh lầm lỗi. Đó là chưa nói đến thú ngụy tạo chứng từ, được biện minh bằng nguyên tắc: chiến tranh hay chính trị phải biến trá. (Kiểu Hồ Chí Minh là người Tàu!)

Trường hợp tiêu biểu là di chúc và ngày chết của Nguyễn Sinh Côn, tức Hồ Chí Minh. Theo tài liệu chính thức từ năm 2001, Hồ Chí Minh (Linov Côn) chết tại Hà Nội lúc 9G47 ngày Thứ Ba, 2/9/1969. Vì là ngày Quốc Khánh thứ 24, Bộ Chính trị Đảng LĐVN quyết định không công bố ngay. (President Ho Chi Minh’s Testament (Hanoi: The Gioi, 2001), tr 10). Năm 1969, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn (1909-16/7/1986) quyết định HCM chết ngày 3/9 hay 4/9/1969. Ngày Thứ Tư, 3/9/1969, Phái đoàn BV tại Paris ra thông cáo: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bị đau nặng từ mấy tuần nay, Đảng và Nhà Nước hết sức săn sóc. Bệnh đang tái phát và việc cứu chữa cho Chủ tịch lành mạnh là nhiệm vụ trọng đại và khẩn cấp bậc nhất của Đảng và chánh phủ. Đảng và Nhà Nước treo giải thưởng danh dự tối cao cho bất cứ ai chữa bịnh được cho Chủ tịch (được gọi là Người).

Hôm sau, Thứ Năm, 4/9/1969, Đài phát thanh Hà Nội và phái đoàn BV tại Paris loan tin Hồ chết, sau một cơn đau tim rất nặng. BV tổ chức lễ quốc tang từ 4/9 đến 11/9. Tại Paris, phái đoàn BV yêu cầu hoãn phiên họp thứ 33. Xuân Thủy và Nguyễn Thị Bình (Yến Sa) về Hà Nội chịu tang Hồ. Thứ Sáu, 5/9/1969, Nhân Dân loan tin HCM chết ngày 4/9/1969. Ủy ban lễ tang: Duẩn, Tôn Đức Thắng, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ, Giáp, Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị, Hoàng Văn Hoan, Trần Quốc Hoàn, Văn Tiến Dũng, Lê Văn Lương, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Lương Bằng, Chu Văn Tấn, Nguyễn Thị Thập, Phan Kế Toại (Phó Thủ tướng), Trần Đăng Khoa, Nguyễn Xiển, Nghiêm Xuân Yêm, Thích Trí Độ, Vũ Xuân Kỷ (Ki-tô), Hoàng Minh Giám, Nguyễn Văn Hương, và Vũ Quang. (ND, 5/9/1969)

Theo Hoàng Văn Hoan, trước lúc Hồ tắt thở, Lê Duẩn không cho các Ủy viên BCT đến chào Hồ, hay nghe lời trối trăng. Sau đó, đưa ra một bản di chúc đánh máy, có chữ ký của cả Hồ và Duẩn. Nhưng khi di chúc Hồ được công bố, không làm lại phóng ảnh di chúc này. Theo Hoan, Duẩn đã ngụy tạo di chúc Hồ. (Tin Việt Nam, 7, (9/1981):1-6) Năm 2001, Đảng CSVN mới công bố di chúc “thục” của Nguyễn Sinh Côn, nhưng không tuân theo, vì Côn đòi hỏa thiêu để khởi xướng tục hỏa thiêu.

Có lẽ phải nhiều thập niên nữa, văn khố Việt Nam, Trung Hoa, Pháp, Nga Sô và Mỹ mới bạch hóa hoàn toàn, trả cuộc chiến Việt Nam, và liên hệ Hoa-Việt vào chỗ đứng đích thực của chúng. Phương pháp làm việc tỉ đối giữa nhiều nguồn tài liệu văn khố [multi-archival] đã giải mật vào đầu thế kỷ XXI giúp tạm phác họa cái nhìn toàn cảnh vai trò tiền đồn của Việt Nam trong cuộc chiến tranh lạnh 1947-1991, mà chuyến xuất ngoại cầu viện Trung Cộng và Nga Sô năm 1950 của Hồ được coi như một dấu mốc quan trọng. Chúng cũng giúp phản ánh hiện tượng “Trung quốc hóa” hay “Mao-hóa” Đảng CSVN (dưới danh nghĩa Đảng Lao Động), và con đường “khúc khuỷu” [zigzag] mà Mao Nhuận Chi (Mao Trạch Đông) muốn Đảng LĐVN vượt qua. Hay, ba [3] biện pháp, mười hai [12] chữ: “hai [2] đại đoàn rưỡi, 1 đường quốc lộ, ba [3] lớp cán bộ.”

Do ảnh hưởng của phong trào phản chiến tại Pháp rồi Liên Bang Mỹ, cộng với trào lưu “tả phái” của một số trí thức và phóng viên, ký giả, cuộc chiến Việt Nam đôi khi bị diễn dịch một cách ngây ngô, sai lầm. Một thí dụ cụ thể là trận đánh Điện Biên Phủ và Hiệp định Đình chiến Geneva, 20-21/7/1954. Trận Điện Biên Phủ thực sự khởi đầu ngày 13/3/1954, sau khi Chu Ân Lai (1898-1976) cho lệnh Vi Quốc Thanh kiếm ít chiến thắng làm đà cho hội nghị Geneva. Cho tới đầu thế kỷ XXI, ba tiếng Điện Biên Phủ được cơ quan tuyên truyền CSVN gán ghép cả vào chiến dịch đấu tố địa chủ và trung nông (1953-1956), hay cuộc oanh tạc Linebacker II của Liên Bang Mỹ (18-26/12/1972), trước khi ký Hiệp định Ngưng Bắn và Tái Lập Hòa Bình Paris 27/1/1973. Trên 25,000 bộ đội Việt Minh tử vong và hơn 100,000 dân công (tức lao công chiến trường) sử dụng trong chiến dịch Tây Bắc này, tại khu vực được biết như Điện Biên ngày nay. Mặc dù chẳng có công trạng đáng kể, Đại tướng Võ Giáp từng lấy tên Điện Biên đặt cho con mình, hay danh hiệu truyền tin của Ban thường vụ Quân Ủy Trung ương. Từ năm 1991, khi Võ Giáp chống việc cho Trung Cộng khai thác mỏ Bauxite ở Trung Nguyên, Bắc Kinh đã tiết lộ phần nào sự thực qua hồi ký Chu Ân Lai, La Quí Ba, v... v... cùng vài nghiên cứu bằng Anh ngữ. Trong ấn bản thứ hai hồi ký Điện Biên Phủ (Nhà xuất bản QĐND năm 2001), Tướng Giáp mới nhắc đến vai trò “bạn” cùng áp lực trên gân cốt não tủy của Bắc Kinh—như hủy bỏ kế hoạch Đông-Xuân 1953-1954 cúa Giáp—tức tập trung vào mặt trận đồng bằng sông Hồng—và tiếp tục chiến dịch Tây Bắc, dựa trên bản sao kế hoạch Navarre mà Bắc Kinh trộm cắp được. Bắc Kinh còn tiết lộ vai trò chủ động của Ân Lai trong kế hoạch đình chiến ở Đông Dương, theo kiểu mẫu Hiệp ước Ngưng bắn giữa Nam và Bắc Hàn Panmunjon (Bàn Môn Điếm, 27/7/1953). Như thế, bài phỏng vấn HCM trên báo Expressen vào cuối tháng 11/1953—tiết lộ Nguyễn Sinh Côn muốn mở lại thương thuyết với Pháp—có lẽ là một mệnh lệnh của Bắc Kinh và Mat-scơ-va, không phải của cá nhân Côn.

Năm 1954, trên đường về nước phúc trình với Mao về hội nghị đình chiến Geneva, Ân Lai đã ký với Nehru và U Nu tuyên cáo tôn trọng năm nguyên tắc “sống chung hòa bình” mà Lai đề xướng từ ngày 31/12/1953 [mutual respect for territorial integrity and sovereignty; non-aggression; non-interference in each other’s internal affairs; equality and mutual benefit; peaceful co-existence].

Sau đó, đến Liễu Châu [Liuzhou], Quảng Tây [Guangxi] họp mật với Sinh Côn về việc tạm thời chia cắt Việt Nam theo vĩ tuyến 16 hay 17. Với chủ trương “thờ nước lớn”—sự đại chi lễ, hay bandwagoning—Sinh Côn hứa sẽ theo lệnh Bắc Kinh, “đả thông tư tưởng” những cán bộ tả khuynh, đòi đánh Pháp đến người Việt cuối cùng.[8]

Năm 2001, ở lần tái bản thứ hai hồi ký Điện Biên Phủ, Võ Giáp mới nói về Quốc Thanh, hay thái độ kiêu ngạo nước lớn của Ân Lai khi cho lệnh rút quân khỏi Căm Bốt và Lào, cùng chấp nhận vĩ tuyến 16 hoặc 17 (sông Bến Hải, cầu Hiền Lương) làm ranh giới hai vùng tập trung hai quân đội Bắc-Nam;[9]

Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 30 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[10]

 
VŨ NGỰ CHIÊU

 

 

Sách có thể đặt mua từ hệ thống phát hành AMAZON theo đường dẫn dưới đây:


 

http://www.amazon.com/Nhuc-Bien--Kien-Khong-Vietnamese/dp/1944372008/ref=sr_1_1?ie=UTF8&qid=1447811671&sr=8-1&keywords=NHUC+HAN+BIEN+DONG+NAM+A

 


 



[1] Cờ Giải Phóng, (Hà Nội), số 33, 18/11/1945. Năm 2000, BCH Đảng CSVN đã hiệu đính tên dịch Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương, và sửa lại ngày 5/11/1946 thành 11/11/1946. Văn Kiện Đảng Toàn Tập [VKĐTT], số 8:1945-1947 (Hà Nội: 2000), tr 19-20.Đa tạ bà Trần Thị Nga đã tặng bộ VKĐTT.

[2] Chúng tôi quyết định sử dụng tên thực Nguyễn Sinh Côn, hoặc Linov Côn, sau khi phát hiện tập hồ sơ liên quan đến Trường Quốc Học, tức An Nam Tây Tự Quốc Học ở Huế, từ 1886 đến 1910. Xem, thư ngày 7/8/1908, Giám đốc trường Quốc Học, gửi Tòa Khâm về việc trò Nguyễn Sinh Côn được nhập học trường này trong niên khóa 1908-1909; CAOM (Aix en-Provence), Annam, dossier R1. Từ năm 1981-1982, chúng tôi đã làm việc trên nhiều tài liệu về Nguyễn Sinh Côn, như báo cáo của Mật Thám Pháp và Tòa Khâm sứ Huế, cũng như một mật báo viên người Việt ở Paris năm 1919-1920 (Fonds SLOTFOM và ECOLE COLONIALE). Tuy nhiên, vì lá thư xin nhập học Trường Thuộc Địa Paris ngày 15/9/1911 ký tên Nguyển Tất Thành, sinh năm 1892, con Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy, Vinh, Nghệ An, chúng tôi chưa cả quyết Nguyễn Sinh Côn là tên thực của Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc hay Hồ Chí Minh. Xem thêm Nguyễn Vĩnh Châu, “Phỏng vấn sử gia Vũ Ngự Chiêu về Hồ Chí Minh” (2010); hopluu.net. Linov là bí danh của Sinh Côn tại Mat-scơ-va trong giai đoạn 1934-1938. Đáng chú ý là trong Nghị quyết sửa lại ngày chết của Nguyễn Sinh Côn từ 4 hay 3/9/1969 thành 2/9/1969, chỉ có bí danh cách mạng Hồ Chí Minh, không nhắc gì đến tên Nguyễn Sinh Côn. Cần xác định thêm một lần: Ông Nguyễn Thế Anh ký chung tên với tôi trong bài về hai lá đơn xin nhập học Trường Thuộc Địa Paris trên báo Đường Mới (Paris), nhưng không dính líu gì đến sự phát hiện những tư liệu về Nguyễn Tất Thành. Nhiều chuyên viên Việt Nam không biết đến những tài liệu quí báu của đợt trí thức tây học thứ hai Việt Nam qua cửa chính hay cửa hậu Trường Thuộc Địa, như Bùi Quang Chiêu, Trần Trọng Kim, v... v…

[3] Vũ Ngự Chiêu, “Political and Social Change in Viet-Nam Between 1940 and 1946” [Những Biến Đổi Chính Trị và Xã Hội tại Việt Nam Giữa 1940 và 1946], unpublished Ph D dissertation, University of Wisconsin-Madison, Dec 1984, under the supervision of Professor John R W Smail, Part III: Brutality of World Politics, chapts 10-13. Nguyên Vũ [Vũ Ngự Chiêu], “Con tàu thống nhất;” Hợp Lưu (Foutain Valley, CA), số 85, tháng 10-11/2005, tr 127-128 [121-150]; Service historique de l’Armée de Terre [SHAT] (Vincennes), 10H xxx; Department of State, Foreign Relations of the United States [FRUS], 1946, VIII: The Far East, (1971) pp 54, 58-9; Department of Defense, United States-Vietnam Relations, 1945-1967, (Washington: GPO, 1971), Book 1-C 95-96., và Book 8, p. 79. Võ Nguyên Giáp, Những Năm Tháng Không thể nào quên, (Hà Nội: QĐND, 1974), tr 63, 184-187: Lê Tùng Sơn, Nhật ký một chặng đường (Hà Nội : Văn Học, 1978), tr. 200-209 ; Amiral Thierry d’Argenlieu, Chronique d’Indochine, 1945-1947 (Paris: Albin Michel, 1985), pp 190-192, 193, 200-203, 439-441 [Thiều Bá Xương, Quyền Tư lệnh Quân đoàn 53, can thiệp]. [Sẽ dãn: Chronique, 1985] Tài liệu CSVN chỉ nhắc đến Tiêu Văn và Chu Phúc Thành.

[4] Tel 6131, Jefferson Caffery gửi BNG, ngày 11/9/1946; FRUS, 1946, VIII: The Far East, (1971) pp 58-59; United States-Vietnam Relations, 1945-1967, 1971, Book 1-C 95-6; Memo, George M. Abbott gửi Đại sứ Caffery, ngày 12/9/1946; Ibid., Book 1-C 95-6, 103-104). Abbott sẽ trở thành Tổng Lãnh sự Sài Gòn; và năm 1950, trao cho Bảo Đại tin mừng Liên Bang Mỹ thừa nhận Quốc Gia Việt Nam. Ba ngày sau, 7/2/1950, đến lượt Bri-tên.

[5] "Modus Vivendi [Tạm ước] 14/9/1946." gồm 11 điều khoản [articles], và Bản tuyên cáo chung. Ngày 18/9/1946, chính phủ Pháp phê chuẩn Modus Vivendi 14/9/1946. CĐ 4671, Paris gửi BNG, 17/9/1946, 17G00; FRUS, 1946, VIII: The Far East, (1971) pp. 59-60; US-Vietnam Relations, 1945-1967, (1971), Book 1-C 80-81; Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu [VNNB], IA: 1939-1946, (Houston: 1996), Phụ bản, tr 393-99; "Nguyên văn bản Thoả Hiệp Án Pháp-Việt làm tại Paris ngày 14/9/1946;" Nam Kỳ (Sài Gòn), 23/9/1946. Linh mục Cao Ủy d’Argenlieu chống lại điều IX, liên quan đến Nam Kỳ; Chronique, 1985:320-24.]

[6] SHAT (Vincennes), 10 H xxx; trích dịch trong Chính Đạo, VNNB, IA: 1939-1946 (1996), tr 269-270. Khi hoàn tất luận án năm 1984, chúng tôi chưa có dịp tham khảo những tài liệu của Ủy Ban Đón Tiếp Đồng Minh Sài Gòn. Cần xác nhận đây là những tư liệu nghiêm túc, không phải tin tình báo. Xem thêm CAOM (Aix), Conseiller Politique [CP], hộp 247.

[7] Báo cáo ngày 21/12/1946, Massimi, Hải Phòng, gửi Ủy viên Bắc Kỳ [Sainteny]: CAOM (Aix), HCFI, CP 255. Đa tạ Bà Giám đốc Văn Khố Aix en Provence đã cho phép đặc biệt tham khảo tài liệu này năm 1999, khi chưa đến thời hạn giải mật. Xem thêm Vũ Ngự Chiêu, Các Vua Cuối Nhà Nguyễn, 1883-1945, 3 tập (Houston, TX: Văn Hóa, 1999-2000), tập II & III. Để có một ý niệm đại cương về các tác nhân lịch sử cận và hiện đại, xin tham khảo Chính Đạo, VNNB, 1939-1975, tập III: Nhân vật chí, tái bản có hiệu đính (Houston: Văn Hóa, 1997). [Sẽ dẫn: “Nhân Vật Chí (1997)]

[8] Zhounianpu [Chu [Ân Lai] Niên Phổ], 1949-1976, 1:384, 386-388; Qiang Zhai, China and the Vietnam Wars, 1950-1975 [Trung Hoa và những cuộc chiến Việt Nam, 1950-1975] (Chapel Hill: North Carolina Press, 2000), tr 58, 59-61)

[9] Võ Nguyên Giáp, Điện Biên Phủ, in lần thứ hai (Hà Nội: QĐND, 2001); Hoàng Văn Thái, Điện Biên Phủ Chiến dịch lịch sử, (Hà Nội: QĐNG, 1994), tr. 15-9). 1/1/1953: Vi Quốc Thanh về nước. Trình bày kế hoạch lập mật khu cho Pathet Lào. (Vu Hóa Thẩm, LQB, 2008:58)

Về hội nghị Geneva (26/4 [8/5]-21/7/1954), xem Great Britain, Documents relating to the discussion of Korea and Indo-China at the Geneva Conference. Miscellaneous No.16 (1954), Cmd. 9186; Commissaire Général de France et Commandement en Chef en Indochine, “Note a/s Conférence de Genève sur l’Indochine (14 juillet 1954); SHAT (Vincennes), Tư liệu Ely [1K 233], carton 39, d. 1; Indochine, 10H xxx [246-248]; United States-Vietnam Relations, 1945-1967 (Washington: GPO, 1971}; Bk IX; FRUS, 1952-1954, XVI: The Geneva Conference, (Washington: GPO, 1981); Chính Đạo, Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng (Houston: Văn Hóa, 2004).

[10] Centre des Archives d’Outre-Mer [CAOM] (Aix en Provence), Affaires Politiques [AP], carton 3441, d. 4; và, Service historique de l’Armée de Terre [SHAT] (Vincennes), 10H xxx. [sẽ dẫn: Báo cáo của Bonfils ngày 23/9/1948]. Những tài liệu ghi chú “xxx” là tư liệu chưa giải mật hoặc được yêu cầu không bạch hoá.


Nhuc Han Bien Dong Nam A -Kien Hay Khong Kien, tap 1 (Volume 1) (Vietnamese Edition) (Vietnamese) Paperback – November 11, 2015

by Chieu N Vu (Author)

 

http://www.amazon.com/Nhuc-Bien--Kien-Khong-Vietnamese/dp/1944372008/ref=sr_1_1?ie=UTF8&qid=1447811671&sr=8-1&keywords=NHUC+HAN+BIEN+DONG+NAM+A



Send comment
Your Name
Your email address
Thursday, February 17, 201112:00 AM(View: 145089)
Em Người đàn bà sống dậy lúc nửa đêm icon bật sáng Lang thang trong thế giới ngôn từ Đi về bằng đôi chân giả Dối gạt nhau qua lũ hình nhân sặc sỡ Sắc màu
Thursday, February 17, 201112:00 AM(View: 99642)
Một cái chết tức tưởi, phi lí như thân phận con người trên cõi đời, như Albert Camus đã nhận xét trước kia. Ở tuổi 46, hai năm sau ngày lãnh giải Nobel. Trong túi xách của ông có đựng bản thảo cuốn tự sự hư cấu còn dang dở Le Premier Homme (Người đầu tiên), kí ức tặng mẹ, “người sẽ không đọc được nó’’. Cây ngô đồng (không hiểu sao) nay không còn nữa, chỉ có đài tưởng niệm dựng ở ven làng. (1)
Thursday, February 17, 201112:00 AM(View: 125695)
Sự thật là tôi không khóc khi chị cướp mất người đàn ông của tôi. Chị trơ trẽn mơn trớn anh ngay trước mắt tôi, rồi lại giả đò lúng túng vì những hành động ấy. Giá tôi có thể đẩy chị về nơi thật xa. Đẩy chị vào khoảng không vô chừng của bóng tối, trong sa mạc, cát bụi.
Thursday, February 17, 201112:00 AM(View: 113437)
Thật trơ trẽn, chúng nó hít hà, giá mà bóp vú em - dù chỉ qua lớp áo bà ba và áo nịt - được cái thì dù tử thần bảo phải nhượng cho mươi tuổi thọ, chúng cũng ký cả hai tay. Chàng cười diễu, bọn mày chẳng biết thế nào là tình ái. Chẳng chịu khó tìm phương đến đích. Nếu chinh phục được họ, sá gì hai quả đào mưng sữa kia chứ, bao nhiêu hầm mỏ ruộng nương mà các cô không dâng sạch cho tình lang?
Thursday, February 17, 201112:00 AM(View: 126048)
...Cô y tá nựng tôi! Tôi chồm lên ngang vai rồi liếm vào mồm, cô ngã ngửa ra, tôi tiếp tục vồ lấy. Tôi hôn cô. Tôi hít cô. Tôi xé quần áo cô. Tôi kiên quyết không rời cô. Tôi không có ý thức, mà cũng chẳng biết đạo đức là gì? Tôi đã tấn công cô y tá, đấy là họ bảo tôi thế, có người bàn thiến hai hạt dái của tôi...
Thursday, February 17, 201112:00 AM(View: 120304)
Nơi nào mùa xuân bắt đầu? Mùa Xuân bắt đầu từ những mầm cây non còn ngủ sâu dưới lòng đất giữa mùa Đông giá buốt. Chúng là những đứa con của các cây bố cường tráng, khỏe mạnh; và những cây mẹ dẻo dai, sum suê kết quả suốt mùa Hạ thơm lừng; sau những đêm ấm nồng lửa nhiệt đới và mặt trời không bao giờ tắt giữa đôi tay. Các bố mẹ cây gửi tình yêu của họ trong bọc lụa theo gió, để những đứa con mang mùa Xuân đến cho mặt đất và muôn loài.
Tuesday, February 15, 201112:00 AM(View: 125963)
Chuyên đề Tạp chí Văn : Nhiều Tác Giả (văn hóa) Sau chuyên đề về Tập san văn chương Ý THỨC, Văn Chương Việt hân hạnh được giới thiệu chuyên đề về Tạp chí Văn và chân dung những người đã dựng nên tờ tạp chí một thời vang bóng này.
Monday, February 14, 201112:00 AM(View: 149168)
Cũng chẳng cần mầu xanh của lá mầu đỏ của hoa hồng chỉ thấy trong veo như nước lọc nước tan trên môi nước hòa trong mắt làm thế nào mà tách được nước ra
Monday, February 14, 201112:00 AM(View: 153883)
Tháng sáu bắt đầu bằng cành hoa mong manh Trưa nắng chói chang lấp lánh mảnh thuỷ tinh vỡ Theo vòng tay buông lơi Mùa hè trở lại ở góc 360 Những cánh phù du trĩu nặng mắt chiều
Monday, February 14, 201112:00 AM(View: 146942)
Sông như lọn tóc dài cầu gầy như cánh tay Sa Lung ga chờ anh vời vợi con tàu qua rất vội như là trốn chạy nhau
Friday, August 7, 2026(View: 3848)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
Saturday, August 16, 2025(View: 13295)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
Wednesday, December 18, 2024(View: 19662)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
Wednesday, December 18, 2024(View: 18638)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
Sunday, October 18, 20266:14 PM(View: 1635)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
Sunday, October 18, 20266:04 PM(View: 1797)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
Friday, October 9, 20266:39 PM(View: 2314)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
Friday, October 9, 20266:09 PM(View: 2416)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(View: 1460)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(View: 2211)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(View: 1953)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(View: 2000)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
Sunday, October 18, 20264:43 PM(View: 1373)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
Friday, October 9, 20265:49 PM(View: 2420)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
Friday, October 2, 202612:54 AM(View: 2628)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
Wednesday, September 23, 202610:53 PM(View: 2378)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
Tuesday, October 27, 2026(View: 246)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
Wednesday, October 21, 2026(View: 811)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
Monday, October 19, 2026(View: 1008)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
Monday, October 19, 2026(View: 1121)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
Friday, June 5, 2026(View: 6414)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
Friday, June 6, 2025(View: 15899)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
Friday, December 22, 2023(View: 32154)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
Wednesday, April 27, 2022(View: 38863)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(View: 1485)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(View: 13904)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(View: 6910)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(View: 10701)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(View: 9890)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(View: 10020)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(View: 10824)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
Monday, September 14, 20262:19 AM(View: 3459)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
Friday, October 31, 202510:09 PM(View: 11154)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
Saturday, October 25, 20251:53 AM(View: 10356)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi