- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

TRỜI XANH HẺM NHỎ

13 Tháng Năm 20154:12 SA(Xem: 61280)
HemNho1

Tin nhắn chú Tư e không qua khỏi đêm nay làm Nhiên đờ đẫn. Nhiên đóng cửa phòng mạch, chạy chẳng kịp chào ai. Đường vào nhà chú ngoằn nghèo rắc rối tựa ma trận. Sau rốt Nhiên vẫn đến được theo quán tính. Sự âm u lạnh lẽo cô buồn bàng bạc khắp nhà. Một vùng cấm mấy chục năm nay không hề có bóng đàn bà. Chú cấm tiệt. Cấm luôn thằng con trai duy nhất, không được có bạn gái.

Bụi bám đầy nhà và dưới giường. Ảm đạm. Chú Tư nằm dán chặt xuống giường, tiếng thở hơi đuối. Căn bệnh ung thư buộc chú phải cắt phân nữa dạ dày, bớt ăn, thêm thuốc, người càng ngày càng héo. Chú gắng gượng, khẽ gật đầu chào Nhiên:

- Nhiên à. Có lẽ hôm nay chú sẽ… Chú muốn… nói chuyện này với cháu…

Nhiên thảng thốt:

- Kìa chú! Chú cháu gặp nhau mỗi tuần. Còn chuyện gì mà chú chưa nói?

- Con còn nhớ… thùng kẽm ngâm xác số 13… sát tường bên phải không?

Nhiên dè dặt:

- Xác người phụ nữ. Chuyện này con và chú đã biết hết mà.

- Vẫn chưa hết con à…

Năm ấy Nhiên mới tập tễnh vào y khoa năm nhất. Còn chú Tư, kĩ thuật viên kiêm quản lý phòng xác giải phẫu. Tất cả sinh viên đều xưng hô chú cháu với ông. Chỉ Nhiên khác biệt. Bạn bè trơ mắt khi Nhiên gọi chú bằng thầy. Mà lại là thầy dạy tiếng Anh. Nhà chú Tư không xa chốn trọ của Nhiên, cuối con hẻm nhếch nhác trong xóm lao động nghèo. Trên cao nhìn xuống, căn nhà như cái chấm nhỏ lạc lõng. Nhưng từ mảnh sân trước nhà chú nhìn lên, lồng lộng bầu trời xanh vắt. Chú hay bảo Nhiên, hẻm cụt chốn thị thành chứ không phải ngõ cụt đời chú. Ở hẻm cụt thế mà hay, tránh xa cái ồn ào xô bồ bụi bặm của Sài Gòn. Nhất là những đêm trăng tròn, ánh trăng vàng đổ đầy mảnh sân trước nhà. Chú bày đồ nhậu, gọi Nhiên sang. Ánh trăng ôm chặt hai người đang nhỏ to chuyện đời, chuyện trường y. Mỗi lần rót rượu, chú Tư thường lắc nhẹ chiếc li cho bóng trăng tan vỡ rồi mới ngửa cổ uống đánh ực. Có lần Nhiên thắc mắc sao chú uống nhiều thế, chú giải thích, đơn giản, mùi rượu át mùi phóc môn ngâm xác ám đầy người. Nhiên đã từng tin thế, nhưng hơi ngờ ngợ. Cuộc đời của con người này hẳn còn nhiều bí mật…

*

*     *

 Sau năm 1975, thời bao cấp loay hoay không lối ra, cuộc sống đảo lộn cùng cực. Chú Tư gò lưng trên chiếc xe đạp thồ cà tàng chở khách kiếm cơm qua ngày. Một lần chú chở một vị khách mặt mũi có vẻ trí thức, sáng sủa nhưng gầy gò. Tốt! Khách càng gầy, đạp càng nhẹ. Bỗng khách ngồi sau bâng quơ câu rủa đời bằng tiếng Anh. What the hell is this world! - Cái thế giới chết tiệt này! Chú Tư ngứa miệng chen ngang:

“Ông thầy ơi. Ông nói chữ world thiếu âm L rồi.”

Vị khách giật mình:

“Ông mới là ông thầy chứ không phải tôi. Ông làm nghề xe thồ phí quá!”

Khách là giảng viên trường đại học y, phòng thực tập đang thiếu người quản lý xác…

Tận hôm nay Nhiên vẫn chưa quên được cảm giác ớn lạnh mỗi khi bước vào phòng giải phẫu. Mùi hóa chất hăng hắc xốc lên tận đỉnh đầu. Từng xác người được nâng lên khỏi bề mặt dung dịch sóng sánh màu hư ảo. Họ đang lặng lẽ cống hiến cho khoa học.

Chú Tư cần mẫn làm sạch từng xác một. Chú lọc những mẫu thịt thừa rơi rớt sau khi sinh viên thực tập. Đôi khi xác người được lật úp để sinh viên nghiên cứu phần lưng. Nhiên để ý, đã một tuần từ ngày nhận xác, chẳng bao giờ chú Tư lật úp xác ở thùng số 13. Chẳng bao giờ. Không ai thắc mắc điều đó.

Rảnh rỗi Nhiên đều tranh thủ xuống phòng giải phẫu. Nhiên muốn gần với những xác người bởi tương lai của mình. Nhưng còn chú Tư, cái gì đã khiến chú tận tụy bên những xác người? Nhiên đã hỏi, và chú chỉ trả lời một cách bí hiểm: “Nghề này như cái nghiệp con à.”

Nhiên đã không hỏi chú Tư về nghề nữa. Nhưng rồi một ngày, tuần thứ hai từ ngày nhận xác số 13, chú Tư cẩn thận lật úp xác. Mắt rưng rưng nhiều oán hận, chú bảo Nhiên: “Xác vợ chú!”

Nhiên choáng người. Trên lưng xác rõ một vết cắt ngọt xớt dài cỡ ba phân đã khâu lại khéo léo. Chú bảo Nhiên vết cắt do chính chú khâu lại. Trong khoa giải phẫu, sinh viên đoán nhăng đoán cuội xác này vô thừa nhận, chết do bị chém. Chẳng ai biết xác này là vợ chú. Cái xác như một uẩn khúc khiến Nhiên không nén nổi tò mò tìm đến nhà chú.

Hẻm nghèo nhưng giàu muỗi. Nhiên quơ tay quạt liên hồi. Chú Tư bình thản rít một hơi thuốc thật dài rồi phả khói lên cả hai tay hai chân, ra chiều khoái chí. Lạ thay chẳng muỗi nào dám bén mảng làn da ám khói. Chú Tư cười khà khà kể chuyện đời dài như con hẻm ba lần xuyệt.

Chú từng làm thông dịch viên cho cố vấn Mỹ ở Sài Gòn. Mới tung tẩy được  vài tháng, cố vấn Mỹ di tản, chấm dứt chiến tranh. Ba chữ thông dịch viên như cái án chung thân vô hình. Đi đâu xin việc cũng bị từ chối khéo. Hai vợ chồng chú cùng thằng con vô hướng bị kéo xệch lên vùng kinh tế mới.

Nhiên đã buột miệng hỏi:

“Con thấy sau Bảy lăm, người ta bỏ nước đi rần rần, nhất là mấy người làm cho Mỹ. Sao chú không đi?”

Chú vẫn lặng câm. Mắt trừng trừng nhìn lên như nuốt chửng ánh trăng. Tia mắt hằn oán giận, nuối tiếc, lẫn hả hê. Nhiên tiếp tục hỏi:

“Chú vẫn ở đây vì chú yêu quê hương?”

Một li rượu được cạn trong im lặng.

“Hay chú không có tiền?”

Hai li…

“Hay chú yêu chế độ?”

Ba li…

“Hay chú có lý tưởng?”

Bốn li…

Dứt li thứ tư, chú Tư rít một hơi thuốc dài, phà đầy khói lên trời. Chú mở miệng. Chú nói một mạch dài. Con nên bỏ cách hỏi xát muối vào lòng Nhiên à. Chú không đi vì chú không thích người Mỹ. Thế thôi. Họ đã phủi tay, ruồng bỏ VNCH. Sống ở đời có trước có sau. Một lần bất tín vạn lần bất tin… Đúng ra chú không có tiền. Mảnh đất này- chú nhìn xuống nền nhà gạch xám xỉn, bầu trời này- chú nhìn lên ánh trăng đầy tự do- là của người Việt, muốn ở đâu là quyền của người Việt.

*

*     *

Nắng mùa hè rát mặt. Chú hăm hở vào phòng chuẩn bị ướp xác. Uống một ly rượu trắng, phà hơi rượu lên hai bàn tay. Mười ngón tay xoắn nhau, khớp tay răng rắc. Chú kéo tấm vải trắng đang che phủ một xác người. Và chú sựng người, khụy xuống nền nhà. Chú lần theo mép bàn, gượng nhìn kỹ. Chú buột miệng, Thanh …em! Chiếc áo trắng của chú bệt sát lưng bởi đẫm mồ hôi. Máy lạnh chạy vù vù, chú vẫn nóng bừng bừng. Cái nóng trong tâm. Những vạt nắng lùa qua quạt thông gió trên tường, hắt lên sàn nhà những bóng nắng nhảy nhót kỳ quái. Đầu chú quay cuồng mờ mịt... Vợ của chú, người mà chú trông ngóng bao nhiêu năm nay đây ư?

Chú đã ở riết quanh xác cho đến tận đêm để truyền phóc môn, để chuyện trò cùng vợ…

“ Thanh! Hôm ấy, lên rẫy về, con chúng mình kể lại em đi Sài gòn lấy hàng. Anh tưởng rằng em đi như mọi lần. Ai ngờ đó là lần cuối anh và con ở bên em. Con cứ đứng trước thềm bậc cửa ngóng em mỗi ngày. Mẹ hứa về nhanh, sao mấy năm rồi chẳng thấy mẹ? Anh chỉ biết vỗ về con, ừ mẹ đi thêm vài năm nữa, rồi mẹ sẽ đem thật nhiều tiền về.

Ngày ấy anh bất tài thật. Nhớ ngày đầu lên núi làm rẫy, anh còn nhầm cây lúa cùng cỏ dại. Và em đã cố gắng bươn chải kiếm thêm tiền  nhưng cuộc sống của chúng ta vẫn không khá nổi. Em đòi ly thân. Anh vô hướng lần nữa. Căn nhà nhỏ tẹo nay càng nhỏ hơn. Đến bữa, hai mâm cơm riêng biệt. Em và con bên mâm có thịt. Em có tiền. Anh lủi thủi nhai sắn mà lòng ngổn ngang.

Ngày em đi, xóm giềng thuật lại, em gạt nước mắt ngoái nhìn túp lều mãi. Mấy lần em bước hụt chân. Anh biết, em còn nặng lòng với ngôi nhà, với bố con anh, nên anh đã cố làm lụng nuôi con và hi vọng suốt mấy năm trời mà em vẫn không quay lại.

Về thành phố anh làm chàng xe thồ bất đắc dĩ. Trong cõi đời này, chỉ có anh lập dị, đi xe thồ mà lẽo đẽo con phía trước. Nhiều khi cả ngày chẳng được cuốc xe. Ai cũng tưởng anh đang chở khách, chính là con. Vợ chồng mình xuất thân từ cô nhi viện. Ra đời càng lạc lõng.Em rời xa anh có lẽ anh không còn thằng Tư ngạo mạn như ngày xưa. Thời thế tạo anh hùng. Biết làm sao được.

Anh từng có giấc mơ đẹp ngày gặp lại em. Phũ phàng, anh và em hội ngộ trong phòng giải phẫu. Anh đang giải phẫu thân xác em. Ngửa mặt, anh muốn rủa đời. Hai chữ mồ côi cứ neo chặt đời anh”.

Chú Tư ôm xác vợ khóc rồi hét Thanh ơi như người điên dại. Khóc đến khi hai mắt ráo hoảnh. Hai mắt trừng tận sáng hôm sau. Một đêm dài nhất trong đời chú. Dài hơn cả đêm chú biết người vợ yêu quay lưng, bỏ lại cha con chú với núi rừng.

- Đã hai tuần trôi qua, chú vẫn giấu mọi người sao? Con sẽ giúp một tay quyết xác sự thật.

Nhiên và chú đã đi ngược thời gian. Đi từ nơi cuối cùng nhận xác-trường y, đến bệnh viện, gặp người xích lô đưa Thanh đi cấp cứu, đọc biên bản của cảnh sát điều tra, và thăm căn nhà Thanh đã ra đi vĩnh viễn.

Một villa gỗ kín cổng nổi bật trong khu phố giàu. Nhà xây bằng gỗ quí, phủ một màu đỏ sậm lạnh như màu máu khô. Nhiên cảm thấy như ngạt thở và sặc sụa trong không gian ấy. Màu sậm tàn nhẫn đang cắt phăng niềm cảm xúc. Chú Tư tặc lưỡi, thế mà Thanh đã ở đây hơn sáu năm trời. Trên tường treo la liệt các bức tranh chép lại thời Phục Hưng. Toàn tranh phụ nữ. Rải rác dăm tấm hình khỏa thân còn sót trong góc phòng. Phòng của Thanh trên lầu rõ dấu vết cửa kiếng vỡ và máu. Chủ nhân ngôi nhà đang đi xa. Chỉ có vài người giúp việc còn kiên nhẫn chờ đợi chủ. Chính họ đã giúp cảnh sát mô phỏng những gì đã xảy ra trong đêm bi thương và trước đó.

Thanh bỏ hai cha con về thành sống với người chồng thứ hai. Người chồng đang đánh gỗ tận bên Lào. Dễ chừng nữa năm mới về nhà. Những lần anh ta đi xa, Thanh gần như bị giam lỏng trên lầu một, không thể ra khỏi nhà. Ăn uống có người hầu hạ. Nàng như con chim quí run rẩy xanh xao, chỉ quanh quẩn trong lồng son. Hầu như ngắm đường phố qua cửa sổ là thú vui duy nhất của nàng. Nàng chán chường mấy trò hát hò hoặc đắm mình trong trang sách. Nảng cứ tha thẩn phòng này qua phòng khác để giết thời gian. Nàng lọt vào căn phòng chứa tất cả đồ thừa thải trong nhà. Phòng ẩm thấp tăm tối. Nàng chạy kiếm đèn cầy. Nàng háo hức trò chơi mới, tìm những gì khác lạ. Nàng đã tìm thấy một hộp gỗ nhỏ. Chiếc hộp mà nàng đã quên mất từ lâu. Trong đó chẳng có gì quí, ngoài hình người con trai. Ôm chặt hình, nàng bật khóc.

Ông xích lô nhớ rõ. Đêm ấy mưa nặng hạt to đùng. Đang lang thang kiếm khách. Tiếng nhạc AKAI nhà bên văng vẳng tuồng cải lương. “Trời mưa bong bóng phập phòng. Mẹ đi lấy chồng con ở với ai”. Ông chợt nghe tiếng xoảng cửa kính vỡ trên lầu một. Tiếng hét “giúp tôi” át hẳn mưa. Một thiếu phụ mờ ảo trong đêm đang gắng chui qua cửa sổ rồi trườn đến lan can. Ông dừng xe, cố gắng đỡ người phụ nữ. Nhưng lan can lầu một cao quá. Kiễng người trên chiếc xe xích lô, ông mới chạm chân người thiếu phụ. Họ cứ chênh vênh như thế. Ông chờ đợi nàng thả người xuống chút nữa. Mưa trơn trượt, nàng đã vuột khỏi tầm tay ông xích lô rồi nằm sõng soài trên đường. Nén chặt sợ hãi, ông chở nàng đi bệnh viện.

Gần sáng Thanh qua đời vì đa chấn thương vùng bụng, mất máu nhiều. Trước khi chết nàng có nhắc đến chú Tư và người con trai.

- Con vẫn mơ hồ tại sao thím Thanh muốn hiến xác trước khi qua đời.

- Ngày chú thím ra khỏi cô nhi viện, sơ dặn dò các con ít vướng bận gia đình nên hiến xác, làm việc nghĩa cho khoa học. Chú Tư trầm ngâm nhớ.

 

 

*

*     *

 

Nhiên ngồi thừ ngắm chú Tư. Người sắp chết, cơ mặt gần như bất động, khó kiếm nỗi nụ cười. Mới ngày nào chú vẫn ngạo mạn về gương mặt này: Nếp nhăn chỉ là ký ức những nụ cười ngạo nghễ, chứ không phải dấu vết bất lực tuổi già. Vậy mà bây giờ…

Chú Tư than đau quá. Cơn đau lan khắp người. Nhiên tiêm cho chú mũi morphin với hi vọng chú sẽ thanh thản khi ra đi. Nhưng thuốc đã mang lại một tác dụng ngoài ý muốn. Chỉ sau mấy phút, gương mặt chú Tư bất ngờ nhẹ nhõm, ánh mắt lại có thần, giọng đột nhiên trở nên mạch lạc. Chú kể cho Nhiên về vết chém trên xác vợ.

Cả đêm chú nhìn đăm đăm chai dịch truyền chứa chất phóc môn. Từng giọt hóa chất, nhỏ từng giọt theo ống nhựa len lỏi vào động mạch người chết. Đôi mắt cứ lắc lư theo nhịp dịch truyền. Mắt nổ đom đóm. Hoảng loạn. Đầu óc chú lảo đảo, lắc lư, bồng bềnh vì quá kiệt sức căng thẳng. Chân chú vấp vào giá sắt để chai dịch truyền. Giá sắt sụp, chân vướng dây truyền, chú ngã sấp lên bàn giải phẫu. Phập. Mũi dao trên tay chú đã ngập sâu vào thân xác người vợ đáng thương. Máu. Máu ứa ra trên dao. Máu thấm đôi găng tay. Hình như máu đã chảy trong tim trong não của chú.. Những giọt nắng lọt qua cửa sổ thông gió không còn nhảy nhót. Nắng ngã. Nắng quay. Rồi trượt dài bên chú. Ngồi sát góc tường lạnh, chú thở rít từng cơn như người bệnh suyễn. Con dao vẫn rung bần bật. Chú thở mạnh, dao càng rung. Nín thở, dao đứng yên. Nhéo chặt bắp tay, hồi tỉnh, nhìn xác vợ, chú càng hoa mắt. Xác người vợ hiền lật úp từ bao giờ. Con dao ngập lút trên lưng. Dăm ba phút trước xác còn ngửa kia mà. Mặt bàn xoay úp ngửa, chú đã khóa. Lẽ nào linh hồn người chết biết xấu hổ.

- Như vậy chú đã đâm. Tại sao vậy? Nhiên hỏi dồn dập. Chú đã vượt qua được hận thù sau cuộc chiến. Chú đã hòa hợp cùng cuộc sống mới. Chú làm được tất cả. Sao chú không bỏ qua cho thím? Không quên được mối hận bị vợ bỏ rơi?

- Không. Chú chỉ vấp ngã. Chú không đâm vợ. Chú vẫn thương vợ mà.

- Lúc đó chú cầm dao giải phẫu.

- Tất nhiên, giải phẫu để ướp xác. Chỉ là tai nạn con à.

- Chú đã khâu lại vết cắt trên lưng.

-Chú Tư lặng yên…gật đầu. Chú đã khâu luôn vết thương lòng.

Chú rướn mắt lên bàn thờ. Lung linh hình người vợ trẻ như đang cười với người sống. Bao năm qua căn nhà vẫn vậy. Chú muốn vậy. Dù chú dư tiền xây nhà cao tầng. Thứ tiếng Anh bị nguyền rủa sau 75 nay thành thần tài hộ mệnh của chú.Trung tâm Anh ngữ nào ở thành phố này cũng muốn có tên Tư trong danh sách giảng viên. Chú không muốn lạc lõng trong xóm nghèo. Chú mong đến ngày người vợ hiền trở về với hình ảnh chú Tư nghèo trong căn nhà cấp bốn. Chú không tin rằng thím đã xa.

- Nhiên à. Con nhìn ra sân kìa. Chú Tư đổi giọng ngọt ngào. Em đấy ư. Bao nhiêu năm rồi anh vẫn chờ em. Anh biết, mình không thể thiếu nhau. Chờ anh với. Em bay nhanh quá.

Nhiên nhìn ra sân, chẳng thấy gì. Ngoài sân nắng chiều vẫn chưa tắt. Trái lại sáng hơn ngày thường. Có lẽ những cây dầu trong hẻm đã bị hạ. Hay những cây rào chắn trong lòng chú đã không còn. Những gì chú Tư nhìn ngoài sân chỉ là ảo giác của thuốc morphin giảm đau. Ngoảnh lại. Chú đã nhắm mắt tự bao giờ. Trên miệng thoáng nụ cười “đếch cần đời”. Chắc chú đã bay xa. Để lại sáu mươi bốn năm trần ai trên dương thế.

Nhiên nhắc khéo con chú Tư.

- Giấy tờ hiến xác đầy đủ chưa con? Tối nay phụ chú giải phẫu xác ba con.

Nhiên bước ra ngoài gọi xe trường y đến đón xác.

Trên cao, trong con hẻm, mênh mang bầu trời rất xanh veo.

THÁI BẢO

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Mười Hai 200912:00 SA(Xem: 143927)
* Viết tặng linh hồn Nhà báo Đặng Ngọc Khoa Buổi chiều mưa vụt tắt Tôi vớt điểm những vì sao là lững nơi chân mây.
20 Tháng Mười Một 200912:00 SA(Xem: 136380)
LTG: M ới đây, một số cơ quan ngôn luận trong nước–do Đảng Cộng Sản Việt Nam [CSVN] làm chủ–đã can đảm nhắc đến vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh hải. Dân biểu/sử gia Dương Trung Quốc từng kêu gọi chính phủ Nguyễn Tấn Dũng phải tường trình đầy đủ về vấn đề Trường Sa-Hoàng Sa. Báo Tuổi Trẻ (Sài Gòn) còn đăng cả ký ức của cựu Thượng sỉ HQ Lữ Công Bảy về trận hải chiến 30 phút, hơn 35 năm trước.
15 Tháng Mười Một 200912:00 SA(Xem: 140194)
Chán đời, y đi buôn màu sắc Gặp ai, y cũng rao mời “Mua màu không? Tôi bán cho!”
04 Tháng Mười Một 200912:00 SA(Xem: 121429)
Claude Lévi-Strauss, từ trần hôm nay thứ ba 03/11/2009, hưởng thọ 101 tuổi, là cây đại thụ đã thủ một vai trò quan trọng và rộng lớn trong nền văn học Pháp và thế giới hơn nửa thế kỉ vừa qua, từ giữa thế kỉ XX cho đến đầu kỉ XXI này.
04 Tháng Mười Một 200912:00 SA(Xem: 127803)
Khách phong lưu vẫn ngồi ở quán cà phê bên hồ vắng. Không thấy mẹ nàng đâu. Có lẽ mẹ nàng đi kiếm củi trên dãy núi bên hồ chưa kịp về. Nàng cũng không còn ngồi xoã tóc. Nàng lúi húi bên tách cà phê đang pha dở cho khách. Mùi cà phê ủ trọn cái lạnh giá đầu mùa đông, quyện chặt lại, nén hương rồi dậy lên trong mê muội.
01 Tháng Mười Một 200912:00 SA(Xem: 134558)
Có phải đêm dang đẩm ướt sương Anh lại về trong mơ đầy nổi nhớ Con đường xưa bên dòng sông như lụa Cỏ ven bờ rối rít những nụ hôn
20 Tháng Chín 200912:00 SA(Xem: 126891)
Gần đây tôi có dịp đọc một số tài liệu của người trong nước viết về văn học miền Nam 1954-1975. Rải rác đó đây không ít, nhưng gom vào một mối thì có thể kể ra hai nguồn. Thứ nhất là bài phỏng vấn khá thú vị của chị Thụy Khuê, đài RFI bên Pháp, với nhà phê bình Vương Trí Nhàn, hiện sống tại Hànội, xung quanh đề tài văn học miền Nam từ 1954-1975 (*).
17 Tháng Chín 200912:00 SA(Xem: 116147)
Vào những giờ phút cuồng dại vì tâm chúng ta mù quáng thì bất cứ việc gì cũng có thể xảy ra, kể cả chiến tranh. Cho nên, sự thực hành lòng từ bi và trí tuệ là điều hữu ích cho tất cả, nhất là đối với những người có trách nhiệm điều hành công việc quốc gia, khi mà họ nắm trong tay quyền lực và phương tiện có thể tạo dựng nền hòa bình cho thế giới.
15 Tháng Chín 200912:00 SA(Xem: 109655)
Hai người lớn lên cạnh nhà nhau, tại rìa thành phố, nơi tiếp giáp cánh đồng, khu rừng và vườn cây trái, trong tầm nhìn cái tháp chuông xinh xắn của ngôi trường cho người mù.
02 Tháng Chín 200912:00 SA(Xem: 108421)
Khái Hưng gốc làng Cổ Am, Vĩnh Bảo, Hải Dương–nơi chính quyền Bảo hộ Pháp từng dùng bom đạn san bằng sau cuộc khởi nghĩa mùa Xuân năm 1930 của Việt Nam Quốc Dân Đảng [VNQDĐ]. Thân phụ là Trần Mỹ, Tuần phủ Phú Thọ [Thái Bình?].
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3792)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13217)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19614)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18593)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1543)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1714)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2224)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2330)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1408)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2165)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1895)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1946)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1296)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2330)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2539)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2321)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 204)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 760)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 965)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1034)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6368)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15840)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32098)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38814)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1398)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13868)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6864)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10622)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9824)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9941)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10746)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3420)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11091)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10316)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi