- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Bước Vội Bước Buồn…

13 Tháng Giêng 201512:08 SA(Xem: 62544)

 

SaiGon 2BW
Sài gòn giờ tan tầm-ảnh Internet

 

Sài Gòn tháng Mười Hai, tôi về trời nóng dịu và nắng êm.  Nơi phi trường, anh Hải quan trẻ tuổi hỏi nơi sinh của chúng tôi và lập lại _ Sài Gòn, Hà Nội _ với một nụ cười.  Ra khỏi phi trường em gái tôi nói cho tôi hiểu, anh ta nháy mắt với bạn đồng nghiệp đứng kề là không có tiền kẹp vào passport đó. 

 

Xe 7 chỗ đưa chúng tôi ra khỏi phi trường.  Đường phố ngăn nắp và sạch sẽ hơn so với 8 năm trước lúc tôi về.  Người nhà cho biết, cứ mỗi năm thì phố phường đã đổi khác nhiều, những người lâu mới về như tôi thấy lạ chứ dân địa phương thì họ nhìn những thay đổi hằng ngày đã quen.  Nhưng sao quanh tôi quạnh vắng.  Tôi không nghe tiếng tin tin của xe hai bánh xin đường, không nghe tiếng còi xe hơi báo quẹo, không tiếng còi tiếng máy tiếng người trộn lẫn vào nhau?  Người ta âm thầm đâm vào nhau rồi lách qua một bên, âm thầm lừ lừ lăn bánh xe tưởng sắp cán vào một xe gắn máy nào đó rồi va chạm tưởng có chợt hóa ảo.  Sự sống tưng bừng tấp nập chói chang sao im vắng thảm thiết, hay tôi điếc?  Lớp bụi trong phủ trọn thành phố theo chân tôi về căn nhà cũ. 

 

Nhà nay đã khác xưa, nhỏ hơn vì bị xén bớt đất, nhưng lại rộng hơn vì thêm lầu.  Tôi lên phòng vào thăm em. 

 

Em bịnh lay lất đã 10 năm.  Đến năm này, sau một tháng lăn lóc nơi nhà thường và phòng cấp cứu, em nói với chị tôi, người đã hoạn nạn cùng em bấy lâu, rằng thôi, mang em về nhà, để em yên nghỉ.  Tắm cho em, mặc cho em tấm áo, và gọi điện thoại sang Mỹ cho em chào giã từ mẹ, giã từ chị, giã từ em gái.  Số tiền em gái nhỏ cho anh để vào ngân hàng thì lấy ra trả lại cho em gái.  Từ nay xin đừng đem em đi nhà thương bác sĩ thử nghiệm, xin đừng nói em thử điều nọ điều kia.  Tôi nghĩ, dẫu anh em kiến giả nhất phận, dẫu tôi và em không còn cái tình thân quyến luyến của 2 chị em sát tuổi lúc mới vào đời, dẫu em  đã gây biết bao u oán cho mẹ, cho gia đình, dẫu sao chăng nữa, một lời rất mực kiên cường và đàn ông của em xứng cho tôi bỏ tất cả mọi thứ để về bên em giây phút cuối, về bên một người sau nửa đời hệ lụy có can đảm bảo vệ phẩm giá của mình.  Em can đảm hơn tôi nhiều.

 

Em ngồi dậy đón tôi, trên mình chỉ tấm chăn mỏng đắp trên bó xương khô trong tấm tã.  Hình ảnh tôi bắt gặp trong giấc mơ năm xưa nay hiện tiền với tất cả những sắc mùi của cái chết.  Tôi biết em áy náy.  Tôi biết em ngượng ngùng.  Và tôi biết em đắng cay.  Có ai đứng trước cái chết mà không sợ.  Tôi ôm em vào lòng.  Chị biết, sống đã khó, chết càng khó hơn, con sâu cái kiến cũng còn ham sống, chị đã về với em….

 

Má bắt đầu càm ràm tại sao.  Bà không còn minh mẫn tỉnh táo để biết con trai bà nay là đèn đã cạn dầu.  Em gái tôi sau khi đã thăm hỏi anh gọi ngay taxi dẫn tôi đi ăn bún.  Hắn có một danh sách những món ngon, những chỗ ăn ngon để dẫn tôi đi.  Buổi chiều, Sài gòn chào đón người xa với trận mưa cuối mùa.  Tôi lính quýnh hấp tấp tìm máy hình.  Mưa tạt ướt khuôn cửa sổ, tôi chỉ đành đứng nhìn dòng nước mưa chảy như một tấm mành thưa và trong từ mái tôn nhà đối diện… 

 

 

Một ngày mới bắt đầu, với chị lịch kịch dậy đi mua thức ăn sáng về cho em trai.  Sau đó, cả nhà uống cà phê rồi mạnh ai nấy vào sở.  Sau vài tiếng đồng hồ náo loạn, mọi sự chìm trong quạnh hiu.  Tôi vào phòng thăm em.  Em ngồi dậy nói năm ba câu, nhắc tôi bật quạt kẻo nóng.  Sao đến lúc này vẫn chẳng có gì để nói cùng nhau?  Tôi ngồi độ mươi phút rồi rút lui, tôi biết em đã oải, tôi biết em không thoải mái phải phô bó xương gầy phô cái tang thương trước mặt bất cứ ai.  Tôi không biết em có nghe được tiếng lòng tôi, rằng tôi ngưỡng mộ em, ngưỡng mộ cái can đảm trước cái chết của em, và tôi cũng sợ như em, cũng buồn như em.

 

Ngày rất dài, tôi bắt đầu tìm gọi một vài người bạn thân quen và bắt đầu đi một mình.  Tôi về Việt Nam đã nhiều lần, không phải mới, nhưng chưa bao giờ tôi bước chân ra đường mà anh rể không phải tìm cho tôi ông xe ôm quen thuộc, hoặc gọi taxi cho tôi dặn dò taxi chỗ tôi phải đến.  Nhưng bây giờ tôi phải biết nhường mọi chú tâm cho em, và khi bị bắt buộc thì ai cũng làm tròn công việc hết thẩy: tôi báo cơm _ ăn hay không bữa trưa, bữa chiều, tôi viết số phôn lên lịch dán trên tường cho mọi người thấy, tôi báo thời khóa biểu: ngày mai có mối gì với ai!!!!!  Ra đầu ngõ nếu không có anh taxi nào đang đậu bên đường, thì xịch ra đầu hẻm chỗ đại học Vạn Hạnh sẽ có chán vạn. 

 

Những chuyến xe vào Chợ Lớn lấp đầy ngày cho tôi, nói chuyện với tài xế cũng mang lại nhiều thú vị cho cả tôi lẫn bạn bè.

 

Em trẻ nhất tuổi độ hai ba, hai bốn.  Em nhanh và khôn ngoan lắm.  Em dạy tôi chớ cầm phôn đứng vơ vẩn nơi lề đường chờ xe, vì kẻ gian cứ lụi mình trước rồi hãy tính việc của có xứng.  Em nói cái bề mặt của những nhà hàng cơ sở chỉ là bẫy cho Việt kiều về đầu tư để rồi mất trắng.  Nghe em bảo gốc Rạch Giá, tôi cho là ở dưới quê được cái may sống tự nhiên thoải mái.  Dè đâu em nói sự thật phũ phàng: những ai có tiền có ruộng thì thoải mái, chứ dân quê mà lại nghèo thì, như em đây lên Sài Gòn lái taxi đủ nuôi thân cũng đã mừng Má không phải nuôi mình…

 

Có em tuổi vừa vừa, độ ba lăm, thì mơ màng quay kính xe xuống, gác tay lên thành cửa và kể về những cuộc điện đàm với “cô ấy” ở bang Tếch Xa.  Cô làm nghề nêu, là người hiền lành và bây giờ chỉ chú tâm nuôi hai con nhỏ.  Tối tối em gọi điện thoại nói chuyện, kể cho nhau nghe những buồn vui trong ngày, vậy thôi.

 

Có em cũng vừa vừa, độ ba tám thì mau miệng hơn. 

 

_Chị ạ, thế em ngồi xe với chị rất nâu mới biết chị Việt kiều đấy.

_Em làm sao để phân biệt?

_Thế này nhá, Việt kiều họ nói chưa hết câu là đã chèn tiếng Anh vào rồi.  Chị chỉ nói toàn tiếng Việt.

_Rồi cái gì khiến em nghe ra?

_Thì chị bảo anh bạn lúc xưa 49 ký mà giờ gặp lại 90 ký, thì chị hỏi đường đi rất kỹ, đến mỗi chỗ rẽ chị đều hỏi tên đường…

_Không phải chị sợ taxi ẩu, mà là muốn học đường đi cho nhớ, mai mốt bạn khác hỏi thì biết mà trả lời.

_Vâng, chị không phải no, em rất nghiêm chỉnh.

 

Bắt đầu kể lể tâm tình.

 

_Xưa em rất xinh trai chị ạ, mà cuộc đời chìm nổi nắm.  Khi em ra quân _ là sao? _ là ra bộ đội ấy, em đã quyết đời sống núc nào cũng nghiêm chỉnh như còn trong quân chị ạ.  Em tuy làm tài xế nhưng luôn ủi quần áo thẳng ni, em thà mua ít quần áo nhưng tấm nào cho ra tấm ấy, em không mua đồ si đa đâu chị ạ.  Nay mai giầy A Di Đà sêu, em sẽ mua 2 đôi, đôi chậy bộ và đôi đi hằng ngày.

_Chà, chậy bộ hằng ngày?

_Vâng, còn đá banh nữa chị nhá.  Đội banh chúng chỉ toàn hai tư hai lăm mà chậy không bằng em đâu.  Làm taxi không có cách sống nành mạnh thì bao tiền cũng hết, không đủ nuôi thân đâu.

_Nghĩa là không lăng nhăng chi cả?

_Thế này nhá, cái chuyện ăn bánh trả tiền thì không nói làm gì, nhưng em có đạo, đây này, lật tấm visor xuống, một bức hình nhỏ của Đức Thánh Cha dán nơi góc.  Năm em mới ra quân có người đưa lên Bảo Lộc làm ăn.  Anh đấy cũng sắp già, độ hơn năm mươi, chị vợ thì hơn em độ mươi tuổi.  Thế mà những lúc anh đấy không đi cùng chị ta cứ ôm em chắc cứng. 

_Rồi em bảo sao?

_Em lói đây là chốn đông người, chị nàm thế xem không được.  Để núc khác chị muốn thì em chở chị đến ô ten tha hồ không ai thấy.

_Rồi?

_Em chậy.  Đã nói rồi, em đâu có nạ gì cái chuyện ăn bánh trả tiền, nhưng anh ấy có ơn với em, còn chị ấy thì cũng có chồng con rồi, em đâu dám phá gia đình người ta…  Sau này nghĩ nại, em nói giá núc ấy em sút cho quả rồi ôm tiền chậy có phải ấm thân!

 

Hết cuốc xe 260 ngàn, em viết số phôn dặn gọi cho em trước 30 phút khi cần về, em sẽ đúng giờ.  Tôi ngồi kể chuyện tài xế cho T nghe, T hỏi có cho tiền típ.  Tôi không có nhiều để cho nhiều, nhưng chả tiếc như đã tiếc 10 phút hôm qua gặp anh bạn nay 90 ký.  Anh ngồi đầy cái ghế, mặt hồng hào thắm tươi xinh đẹp.  Anh nói ở đâu chả vậy, mình vào đảng thì phải đi sinh hoạt, nếu không thì họ đuổi mình, đảng Cộng Hòa đảng Dân chủ gì cũng vậy thôi.  Bây giờ không làm ở cơ quan thì về địa phương giúp quản trị dân, bên Mỹ cũng có chính quyền các cấp đó thôi. 

 

_Ừ khi em còn nhỏ, thời Cộng Hòa thấy xóm mình ở cũng có ông Liên Gia Trưởng, trưởng khóm, mà chả biết mấy ông đó có làm ăn gì không.

_Có chứ

_Sao anh biết?

_Biết, biết hết, ta cài người khắp nơi từ thấp đến cao,  nếu không sao chiến thắng?

 

Anh cười rạng rỡ thấy tôi im miệng, tựa như anh chiến thắng lần thứ 2.  Anh ra về rồi tôi và T nhìn nhau cười.  Mấy mươi năm trước khi tình cờ gặp nhau ở lớp học tôi muốn kết thân với T mà lại bị chia khác tổ.  Qua nhiều chặng đời, trực giác không đánh lừa tôi _ T chưa bao giờ bị đồng tiền và cuộc sống xoay chuyển bản chất.  Còn anh ấy, cái thuở trước cũng chỉ hơn tôi vài tuổi, công lao gì với cách mạng đâu, và cái thuở này thì tấm thân 90 ký với lại những nhà những đất thì biết cách mạng cỡ nào rồi…  tôi không còn biết anh, và có lẽ anh cũng không còn biết mình.  Dẫu sao, anh không phải người đầu tiên và duy nhất làm tôi thất vọng

 

Buổi tối, M đến chở tôi ra chợ Sài Gòn.  Hai đứa đi ăn, đi uống cà phê.  Một bên hông chợ Bến Thành nay là phố Mã Lai, người buôn kẻ bán ngả giá với nhau bằng tiếng Mã Lai, hàng hóa là khăn áo vải thêu cho những người đạo Hồi.  M là dân Sài Gòn mấy mươi năm, có lẽ từ lúc sinh ra, chợt bây giờ ngỡ ngàng.  Đường đêm lạnh và mát, đèn giăng sáng khắp nơi. 

 

Tôi về, nằm thao thức trong đèn sáng trong tiếng khua của má.  “Ăn bánh trả tiền,” anh taxi người Bắc dùng chữ ấy, cái chữ đặc miền Nam.  Bốn năm đầu ở với họ, có bao giờ nghe họ dùng chữ đó, giờ nghe từ miệng của một em chưa 40 tuổi đầu thật ngạc nhiên, tựa như lúc xuống phi trường tôi đã ngỡ ngàng khi nhận ra, trong 10 giọng nói trên loa giờ chỉ có 1 giọng Bắc, và trong 40 năm, giờ mới có một giọng Nam nói bằng cái âm điệu véo von của người Bắc 75.  Mọi ranh giới đã nhòa, cái cách biệt của lòng người có còn?

 

Khác giờ giấc, Má bắt đầu lục đục.  Hôm qua thì sột soạt bao ny lông tìm thuốc.  Hôm nay bị em gái tôi la, Má lò mò xuống lầu tìm bóp.  Ba giờ sáng nghe lục đục, tôi mở mắt: Má đeo bóp qua vai lộp cộp ra khỏi phòng _ Má đi đâu giờ này?  Má đi nhà vệ sinh.  Muốn cười mà mất giấc ngủ cười không được.

 

Ngày vẫn rất dài.  Có ngày tôi vào thăm 4 lần chỉ gặp em nằm thiêm thiếp ngủ.  Bây giờ em không còn gọi phôn xuống nhà dặn chị mua món ăn gì nữa.  Đến giờ ăn chị phải gọi phôn thức em dậy hỏi em ăn món gì để mua.  Buổi trưa chị từ sở về mua thức ăn đem lên lầu cho em, rồi mua cơm hộp về cho Má và chị ăn trưa.  Tôi nhìn chị.  Chị tròn quay, thấp bé như con chim cút.  Tôi nhớ, những ngày đầu “giải phóng” chị phải đi dạy học ở Củ Chi, người ốm rạc chỉ còn 30 ký.  Những lúc về thăm nhà, mua được mớ giấy trắng, mớ viết theo tiêu chuẩn giáo viên, chị lẽo đẽo sau tôi, bảo tôi lấy xài đi.  Những khi vui chị hát, và toàn hát lạc tông.  Khi được cái gì đẹp, chị reo vui như đứa trẻ.  Tôi “đi” rồi chị lấy anh, thiếu úy phi công bị bắt tù binh.  Mấy mươi năm, ông anh rể to như hộ pháp của tôi lúc nào cũng loay hoay làm mọi thứ cho chị chim cút, và chị vẫn cứ tưng tửng như trẻ con, đứa trẻ con hiền lành và tận tụy với gia đình.  Mà lạ sao, cái tổ ấm của chị như nhờ cái tưng tửng ấy mà gắn bó với nhau tha thiết.  Mỗi ngày anh rể đem xe xuống sân cho chị đi làm rồi mới đi.  Mỗi lần ngắc ngứ một cái gì đó, chị lại tửng tửng nói trỏng trơ, “ờ cái này mình làm hông được, có ai làm dùm hông ta,” thì rồi ông hộ pháp sẽ làm và sẽ nhiếc, và sẽ làm nữa, làm mãi.  Công việc của anh được rộng rãi thì giờ nên thường về sớm nấu cơm cho gia đình.  Mỗi tối mấy đứa nhỏ đều về ăn cơm nhà rồi mới đi đâu thì đi, và đêm đến, chúng vẫn sán vào ngủ chung phòng với bố mẹ dù thằng con trai đã 32, đứa con gái đã 23.  Họ nói chuyện với nhau, đả kích chê bôi tâm tình với nhau, “mổ” nhau, toàn bằng cái giọng tưng tửng của chị.  Nhìn lại, tôi thật đã không có duyên lành được tưng tửng như vậy.

 

Để lấp cho ngày, tôi giở laptop của cháu những khi nó đi làm để đọc thư, để xem bài.  Rồi tôi lại hẹn bạn cà phê.  Cà phê Bean đối diện Nhà Thờ Đức Bà rất đông và phần nhiều là giới trẻ.  Khách của tiệm đại khái cũng giống như nơi tôi ở, trẻ thì túm tụm vào nhau mà chẳng chung chuyện chung lòng _ mỗi em một điện thoại; không còn trẻ lắm và rảnh việc thì luôn ngồi bàn bên ngoài để tha hồ ngắm nhìn người chung quanh một cách tự do và lộ liễu!!!  Tôi chuồn vào một góc để dễ nói chuyện với bạn mình.  Chuyện mưa nắng giãi dầu, chuyện tào lao, rồi lại chia tay nhau.

 

Tôi ra về băng ngang đại lộ, ngang Vương Cung Thánh Đường, ngang qua 3 đám cưới.  Các cô dâu đều áo trắng môi son.  Một cô đi đất, chú rể tuxedo theo sau, bàn tay xòe bưng đôi giày cao gót đỏ.  Cô khác hai tay túm áo cưới kéo vạt, ôm cái mớ voan trắng lên cho khỏi lấm đất, bên trong lòi ra tấm quần đen bó và đôi dép cao su.  Một cô khăn choàng trắng phủ lưng trần đã sang hết đường qua lề bên kia không kịp ngó mặt.  Nắng chiếu lên tấm thân già héo, tôi nghĩ mai mốt cứ hỏa thiêu cho khỏi tốn đất, khỏi thắc mắc chuyện về đâu.  Và tôi nhận ra, từ hôm về đến nay tôi chưa hề thèm muốn chụp bức hình nào của phố phường của đất quê như đã nghĩ, dù lòng thấy phố phường êm vui.  Cái máy hình vẫn luôn theo tôi khắp nơi, nhưng dường như tôi đã hòa giải được với lòng mình, không còn thấy mình là một du khách để ham săn hình.  Tôi chỉ còn là một bóng ma đi tìm tôi ngày cũ.

 

Ngày bất tận, tôi nửa mong vậy, nửa buồn, và càng hồi hộp lo âu biết mình đến lúc phải về.  Tôi lên phòng từ giã em, hẹn qua năm có phép sẽ lại về, nhưng cõi lòng đắng ngắt _ biết em có còn để tôi về.  Ngay lúc này đây tôi hãy kíp quay lưng, vì biết đâu phút tới em sẽ thở hơi vĩnh biệt.  Tôi bước vào phi trường, vội vã như lúc về, nhưng chỉ còn là những bước ngẩn ngơ.

 

Ba tuần sau em ra đi.  Hai giờ trước chị chim cút gọi điện thoại em vẫn trả lời.  Khi chị về, tay chân em đã bắt đầu cứng.  Chị hỏi, em không còn nói được _ bàn tay mỏng manh khẽ nắm lại tay chị.  Ánh mắt em chao đảo tìm kiếm, chị gọi anh hộ pháp đến với em.  Mặt em bừng sáng, ánh mắt mừng vui mãn nguyện khi anh nắm tay em an ủi vỗ về.  Em thở hơi cuối cùng, cũng phải anh hộ pháp vuốt mắt em mới khép.  Tôi lái xe trên đường về, cơn mưa hụt nhẹ nhàng lất phất, chân cầu vồng hiện dần rực rỡ và một hạt mưa rụt rè lăn chảy xuống góc kính. 

 

Khi ban kèn tây hòa bài Công Đức Sinh Thành đưa tiễn, bên này anh Tư gọi tôi thắp nhang cho em.  Anh dẫn tôi ra chỉ cái ghế đẩu đặt ngay cửa ra vào tựa như lúc cúng giao thừa hằng năm.  Trên mặt ghế có một ly gạo để cắm nhang, một ly nước, một trái cam, và một dĩa đựng một khúc bánh mì, một củ khoai vàng cắt đôi, một củ khoai tím cắt đôi, và một quả trứng luộc.  Anh chờ tôi thắp nhang xong thì cũng bước tới khấn nguyện.  Nếu biết, chắc em nở một nụ cười.  Nếu biết, hồn em sẽ ấm dù trong cõi mịt mù.   Tôi xa em, giờ đây không chỉ nửa vòng trái đất mà cả một kiếp đời…

 

 

Lưu Na

01092015

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Hai 20263:32 SA(Xem: 9049)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
28 Tháng Hai 20262:58 SA(Xem: 9823)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 15098)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
19 Tháng Hai 202611:49 CH(Xem: 11530)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 13495)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 16152)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 13212)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
10 Tháng Hai 20263:12 SA(Xem: 9924)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
08 Tháng Hai 202610:45 CH(Xem: 13058)
Xuân đến rồi sao chẳng thắm hoa / Đây đổ quyên / Đây rừng Bà Nà / Xuân chưa thắm nhưng lòng đã thắm / Bốn mùa mưa nắng bốn mùa hoa
08 Tháng Hai 20268:09 CH(Xem: 15943)
LTS: Lần đầu cộng tác cùng Tạp Chí Hợp Lưu. Việt Nguyên là bút danh của Bùi Văn Long, quê ở Long Xuyên, An Giang. Thơ Việt Nguyên viết về những góc đời rất nhỏ — một góc phố đêm, bữa cơm một người, một cử chỉ tử tế thoáng qua. Thơ lặng, buồn vừa đủ, không than thở, chỉ nhắc ta rằng giữa đời sống mỏi mệt này, nhân gian vẫn còn ấm. Chúng tôi hân hạnh gởi đến quí độc giả và văn thi hữu những bài thơ của Việt Nguyên sau đây. (Tạp Chí Hợp Lưu)
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3799)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13218)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19614)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18593)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1543)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1715)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2226)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2347)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1409)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2172)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1896)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1946)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1297)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2338)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2540)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2321)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 210)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 763)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 966)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1037)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6376)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15851)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32107)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38823)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1402)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13869)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6866)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10625)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9824)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9945)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10746)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3421)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11091)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10318)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi