- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Bước Vội Bước Buồn…

13 Tháng Giêng 201512:08 SA(Xem: 61396)

 

SaiGon 2BW
Sài gòn giờ tan tầm-ảnh Internet

 

Sài Gòn tháng Mười Hai, tôi về trời nóng dịu và nắng êm.  Nơi phi trường, anh Hải quan trẻ tuổi hỏi nơi sinh của chúng tôi và lập lại _ Sài Gòn, Hà Nội _ với một nụ cười.  Ra khỏi phi trường em gái tôi nói cho tôi hiểu, anh ta nháy mắt với bạn đồng nghiệp đứng kề là không có tiền kẹp vào passport đó. 

 

Xe 7 chỗ đưa chúng tôi ra khỏi phi trường.  Đường phố ngăn nắp và sạch sẽ hơn so với 8 năm trước lúc tôi về.  Người nhà cho biết, cứ mỗi năm thì phố phường đã đổi khác nhiều, những người lâu mới về như tôi thấy lạ chứ dân địa phương thì họ nhìn những thay đổi hằng ngày đã quen.  Nhưng sao quanh tôi quạnh vắng.  Tôi không nghe tiếng tin tin của xe hai bánh xin đường, không nghe tiếng còi xe hơi báo quẹo, không tiếng còi tiếng máy tiếng người trộn lẫn vào nhau?  Người ta âm thầm đâm vào nhau rồi lách qua một bên, âm thầm lừ lừ lăn bánh xe tưởng sắp cán vào một xe gắn máy nào đó rồi va chạm tưởng có chợt hóa ảo.  Sự sống tưng bừng tấp nập chói chang sao im vắng thảm thiết, hay tôi điếc?  Lớp bụi trong phủ trọn thành phố theo chân tôi về căn nhà cũ. 

 

Nhà nay đã khác xưa, nhỏ hơn vì bị xén bớt đất, nhưng lại rộng hơn vì thêm lầu.  Tôi lên phòng vào thăm em. 

 

Em bịnh lay lất đã 10 năm.  Đến năm này, sau một tháng lăn lóc nơi nhà thường và phòng cấp cứu, em nói với chị tôi, người đã hoạn nạn cùng em bấy lâu, rằng thôi, mang em về nhà, để em yên nghỉ.  Tắm cho em, mặc cho em tấm áo, và gọi điện thoại sang Mỹ cho em chào giã từ mẹ, giã từ chị, giã từ em gái.  Số tiền em gái nhỏ cho anh để vào ngân hàng thì lấy ra trả lại cho em gái.  Từ nay xin đừng đem em đi nhà thương bác sĩ thử nghiệm, xin đừng nói em thử điều nọ điều kia.  Tôi nghĩ, dẫu anh em kiến giả nhất phận, dẫu tôi và em không còn cái tình thân quyến luyến của 2 chị em sát tuổi lúc mới vào đời, dẫu em  đã gây biết bao u oán cho mẹ, cho gia đình, dẫu sao chăng nữa, một lời rất mực kiên cường và đàn ông của em xứng cho tôi bỏ tất cả mọi thứ để về bên em giây phút cuối, về bên một người sau nửa đời hệ lụy có can đảm bảo vệ phẩm giá của mình.  Em can đảm hơn tôi nhiều.

 

Em ngồi dậy đón tôi, trên mình chỉ tấm chăn mỏng đắp trên bó xương khô trong tấm tã.  Hình ảnh tôi bắt gặp trong giấc mơ năm xưa nay hiện tiền với tất cả những sắc mùi của cái chết.  Tôi biết em áy náy.  Tôi biết em ngượng ngùng.  Và tôi biết em đắng cay.  Có ai đứng trước cái chết mà không sợ.  Tôi ôm em vào lòng.  Chị biết, sống đã khó, chết càng khó hơn, con sâu cái kiến cũng còn ham sống, chị đã về với em….

 

Má bắt đầu càm ràm tại sao.  Bà không còn minh mẫn tỉnh táo để biết con trai bà nay là đèn đã cạn dầu.  Em gái tôi sau khi đã thăm hỏi anh gọi ngay taxi dẫn tôi đi ăn bún.  Hắn có một danh sách những món ngon, những chỗ ăn ngon để dẫn tôi đi.  Buổi chiều, Sài gòn chào đón người xa với trận mưa cuối mùa.  Tôi lính quýnh hấp tấp tìm máy hình.  Mưa tạt ướt khuôn cửa sổ, tôi chỉ đành đứng nhìn dòng nước mưa chảy như một tấm mành thưa và trong từ mái tôn nhà đối diện… 

 

 

Một ngày mới bắt đầu, với chị lịch kịch dậy đi mua thức ăn sáng về cho em trai.  Sau đó, cả nhà uống cà phê rồi mạnh ai nấy vào sở.  Sau vài tiếng đồng hồ náo loạn, mọi sự chìm trong quạnh hiu.  Tôi vào phòng thăm em.  Em ngồi dậy nói năm ba câu, nhắc tôi bật quạt kẻo nóng.  Sao đến lúc này vẫn chẳng có gì để nói cùng nhau?  Tôi ngồi độ mươi phút rồi rút lui, tôi biết em đã oải, tôi biết em không thoải mái phải phô bó xương gầy phô cái tang thương trước mặt bất cứ ai.  Tôi không biết em có nghe được tiếng lòng tôi, rằng tôi ngưỡng mộ em, ngưỡng mộ cái can đảm trước cái chết của em, và tôi cũng sợ như em, cũng buồn như em.

 

Ngày rất dài, tôi bắt đầu tìm gọi một vài người bạn thân quen và bắt đầu đi một mình.  Tôi về Việt Nam đã nhiều lần, không phải mới, nhưng chưa bao giờ tôi bước chân ra đường mà anh rể không phải tìm cho tôi ông xe ôm quen thuộc, hoặc gọi taxi cho tôi dặn dò taxi chỗ tôi phải đến.  Nhưng bây giờ tôi phải biết nhường mọi chú tâm cho em, và khi bị bắt buộc thì ai cũng làm tròn công việc hết thẩy: tôi báo cơm _ ăn hay không bữa trưa, bữa chiều, tôi viết số phôn lên lịch dán trên tường cho mọi người thấy, tôi báo thời khóa biểu: ngày mai có mối gì với ai!!!!!  Ra đầu ngõ nếu không có anh taxi nào đang đậu bên đường, thì xịch ra đầu hẻm chỗ đại học Vạn Hạnh sẽ có chán vạn. 

 

Những chuyến xe vào Chợ Lớn lấp đầy ngày cho tôi, nói chuyện với tài xế cũng mang lại nhiều thú vị cho cả tôi lẫn bạn bè.

 

Em trẻ nhất tuổi độ hai ba, hai bốn.  Em nhanh và khôn ngoan lắm.  Em dạy tôi chớ cầm phôn đứng vơ vẩn nơi lề đường chờ xe, vì kẻ gian cứ lụi mình trước rồi hãy tính việc của có xứng.  Em nói cái bề mặt của những nhà hàng cơ sở chỉ là bẫy cho Việt kiều về đầu tư để rồi mất trắng.  Nghe em bảo gốc Rạch Giá, tôi cho là ở dưới quê được cái may sống tự nhiên thoải mái.  Dè đâu em nói sự thật phũ phàng: những ai có tiền có ruộng thì thoải mái, chứ dân quê mà lại nghèo thì, như em đây lên Sài Gòn lái taxi đủ nuôi thân cũng đã mừng Má không phải nuôi mình…

 

Có em tuổi vừa vừa, độ ba lăm, thì mơ màng quay kính xe xuống, gác tay lên thành cửa và kể về những cuộc điện đàm với “cô ấy” ở bang Tếch Xa.  Cô làm nghề nêu, là người hiền lành và bây giờ chỉ chú tâm nuôi hai con nhỏ.  Tối tối em gọi điện thoại nói chuyện, kể cho nhau nghe những buồn vui trong ngày, vậy thôi.

 

Có em cũng vừa vừa, độ ba tám thì mau miệng hơn. 

 

_Chị ạ, thế em ngồi xe với chị rất nâu mới biết chị Việt kiều đấy.

_Em làm sao để phân biệt?

_Thế này nhá, Việt kiều họ nói chưa hết câu là đã chèn tiếng Anh vào rồi.  Chị chỉ nói toàn tiếng Việt.

_Rồi cái gì khiến em nghe ra?

_Thì chị bảo anh bạn lúc xưa 49 ký mà giờ gặp lại 90 ký, thì chị hỏi đường đi rất kỹ, đến mỗi chỗ rẽ chị đều hỏi tên đường…

_Không phải chị sợ taxi ẩu, mà là muốn học đường đi cho nhớ, mai mốt bạn khác hỏi thì biết mà trả lời.

_Vâng, chị không phải no, em rất nghiêm chỉnh.

 

Bắt đầu kể lể tâm tình.

 

_Xưa em rất xinh trai chị ạ, mà cuộc đời chìm nổi nắm.  Khi em ra quân _ là sao? _ là ra bộ đội ấy, em đã quyết đời sống núc nào cũng nghiêm chỉnh như còn trong quân chị ạ.  Em tuy làm tài xế nhưng luôn ủi quần áo thẳng ni, em thà mua ít quần áo nhưng tấm nào cho ra tấm ấy, em không mua đồ si đa đâu chị ạ.  Nay mai giầy A Di Đà sêu, em sẽ mua 2 đôi, đôi chậy bộ và đôi đi hằng ngày.

_Chà, chậy bộ hằng ngày?

_Vâng, còn đá banh nữa chị nhá.  Đội banh chúng chỉ toàn hai tư hai lăm mà chậy không bằng em đâu.  Làm taxi không có cách sống nành mạnh thì bao tiền cũng hết, không đủ nuôi thân đâu.

_Nghĩa là không lăng nhăng chi cả?

_Thế này nhá, cái chuyện ăn bánh trả tiền thì không nói làm gì, nhưng em có đạo, đây này, lật tấm visor xuống, một bức hình nhỏ của Đức Thánh Cha dán nơi góc.  Năm em mới ra quân có người đưa lên Bảo Lộc làm ăn.  Anh đấy cũng sắp già, độ hơn năm mươi, chị vợ thì hơn em độ mươi tuổi.  Thế mà những lúc anh đấy không đi cùng chị ta cứ ôm em chắc cứng

_Rồi em bảo sao?

_Em lói đây là chốn đông người, chị nàm thế xem không được.  Để núc khác chị muốn thì em chở chị đến ô ten tha hồ không ai thấy.

_Rồi?

_Em chậy.  Đã nói rồi, em đâu có nạ gì cái chuyện ăn bánh trả tiền, nhưng anh ấy có ơn với em, còn chị ấy thì cũng có chồng con rồi, em đâu dám phá gia đình người ta…  Sau này nghĩ nại, em nói giá núc ấy em sút cho quả rồi ôm tiền chậy có phải ấm thân!

 

Hết cuốc xe 260 ngàn, em viết số phôn dặn gọi cho em trước 30 phút khi cần về, em sẽ đúng giờ.  Tôi ngồi kể chuyện tài xế cho T nghe, T hỏi có cho tiền típ.  Tôi không có nhiều để cho nhiều, nhưng chả tiếc như đã tiếc 10 phút hôm qua gặp anh bạn nay 90 ký.  Anh ngồi đầy cái ghế, mặt hồng hào thắm tươi xinh đẹp.  Anh nói ở đâu chả vậy, mình vào đảng thì phải đi sinh hoạt, nếu không thì họ đuổi mình, đảng Cộng Hòa đảng Dân chủ gì cũng vậy thôi.  Bây giờ không làm ở cơ quan thì về địa phương giúp quản trị dân, bên Mỹ cũng có chính quyền các cấp đó thôi. 

 

_Ừ khi em còn nhỏ, thời Cộng Hòa thấy xóm mình ở cũng có ông Liên Gia Trưởng, trưởng khóm, mà chả biết mấy ông đó có làm ăn gì không.

_Có chứ

_Sao anh biết?

_Biết, biết hết, ta cài người khắp nơi từ thấp đến cao,  nếu không sao chiến thắng?

 

Anh cười rạng rỡ thấy tôi im miệng, tựa như anh chiến thắng lần thứ 2.  Anh ra về rồi tôi và T nhìn nhau cười.  Mấy mươi năm trước khi tình cờ gặp nhau ở lớp học tôi muốn kết thân với T mà lại bị chia khác tổ.  Qua nhiều chặng đời, trực giác không đánh lừa tôi _ T chưa bao giờ bị đồng tiền và cuộc sống xoay chuyển bản chất.  Còn anh ấy, cái thuở trước cũng chỉ hơn tôi vài tuổi, công lao gì với cách mạng đâu, và cái thuở này thì tấm thân 90 ký với lại những nhà những đất thì biết cách mạng cỡ nào rồi…  tôi không còn biết anh, và có lẽ anh cũng không còn biết mình.  Dẫu sao, anh không phải người đầu tiên và duy nhất làm tôi thất vọng

 

Buổi tối, M đến chở tôi ra chợ Sài Gòn.  Hai đứa đi ăn, đi uống cà phê.  Một bên hông chợ Bến Thành nay là phố Mã Lai, người buôn kẻ bán ngả giá với nhau bằng tiếng Mã Lai, hàng hóa là khăn áo vải thêu cho những người đạo Hồi.  M là dân Sài Gòn mấy mươi năm, có lẽ từ lúc sinh ra, chợt bây giờ ngỡ ngàng.  Đường đêm lạnh và mát, đèn giăng sáng khắp nơi. 

 

Tôi về, nằm thao thức trong đèn sáng trong tiếng khua của má.  “Ăn bánh trả tiền,” anh taxi người Bắc dùng chữ ấy, cái chữ đặc miền Nam.  Bốn năm đầu ở với họ, có bao giờ nghe họ dùng chữ đó, giờ nghe từ miệng của một em chưa 40 tuổi đầu thật ngạc nhiên, tựa như lúc xuống phi trường tôi đã ngỡ ngàng khi nhận ra, trong 10 giọng nói trên loa giờ chỉ có 1 giọng Bắc, và trong 40 năm, giờ mới có một giọng Nam nói bằng cái âm điệu véo von của người Bắc 75.  Mọi ranh giới đã nhòa, cái cách biệt của lòng người có còn?

 

Khác giờ giấc, Má bắt đầu lục đục.  Hôm qua thì sột soạt bao ny lông tìm thuốc.  Hôm nay bị em gái tôi la, Má lò mò xuống lầu tìm bóp.  Ba giờ sáng nghe lục đục, tôi mở mắt: Má đeo bóp qua vai lộp cộp ra khỏi phòng _ Má đi đâu giờ này?  Má đi nhà vệ sinh.  Muốn cười mà mất giấc ngủ cười không được.

 

Ngày vẫn rất dài.  Có ngày tôi vào thăm 4 lần chỉ gặp em nằm thiêm thiếp ngủ.  Bây giờ em không còn gọi phôn xuống nhà dặn chị mua món ăn gì nữa.  Đến giờ ăn chị phải gọi phôn thức em dậy hỏi em ăn món gì để mua.  Buổi trưa chị từ sở về mua thức ăn đem lên lầu cho em, rồi mua cơm hộp về cho Má và chị ăn trưa.  Tôi nhìn chị.  Chị tròn quay, thấp bé như con chim cút.  Tôi nhớ, những ngày đầu “giải phóng” chị phải đi dạy học ở Củ Chi, người ốm rạc chỉ còn 30 ký.  Những lúc về thăm nhà, mua được mớ giấy trắng, mớ viết theo tiêu chuẩn giáo viên, chị lẽo đẽo sau tôi, bảo tôi lấy xài đi.  Những khi vui chị hát, và toàn hát lạc tông.  Khi được cái gì đẹp, chị reo vui như đứa trẻ.  Tôi “đi” rồi chị lấy anh, thiếu úy phi công bị bắt tù binh.  Mấy mươi năm, ông anh rể to như hộ pháp của tôi lúc nào cũng loay hoay làm mọi thứ cho chị chim cút, và chị vẫn cứ tưng tửng như trẻ con, đứa trẻ con hiền lành và tận tụy với gia đình.  Mà lạ sao, cái tổ ấm của chị như nhờ cái tưng tửng ấy mà gắn bó với nhau tha thiết.  Mỗi ngày anh rể đem xe xuống sân cho chị đi làm rồi mới đi.  Mỗi lần ngắc ngứ một cái gì đó, chị lại tửng tửng nói trỏng trơ, “ờ cái này mình làm hông được, có ai làm dùm hông ta,” thì rồi ông hộ pháp sẽ làm và sẽ nhiếc, và sẽ làm nữa, làm mãi.  Công việc của anh được rộng rãi thì giờ nên thường về sớm nấu cơm cho gia đình.  Mỗi tối mấy đứa nhỏ đều về ăn cơm nhà rồi mới đi đâu thì đi, và đêm đến, chúng vẫn sán vào ngủ chung phòng với bố mẹ dù thằng con trai đã 32, đứa con gái đã 23.  Họ nói chuyện với nhau, đả kích chê bôi tâm tình với nhau, “mổ” nhau, toàn bằng cái giọng tưng tửng của chị.  Nhìn lại, tôi thật đã không có duyên lành được tưng tửng như vậy.

 

Để lấp cho ngày, tôi giở laptop của cháu những khi nó đi làm để đọc thư, để xem bài.  Rồi tôi lại hẹn bạn cà phê.  Cà phê Bean đối diện Nhà Thờ Đức Bà rất đông và phần nhiều là giới trẻ.  Khách của tiệm đại khái cũng giống như nơi tôi ở, trẻ thì túm tụm vào nhau mà chẳng chung chuyện chung lòng _ mỗi em một điện thoại; không còn trẻ lắm và rảnh việc thì luôn ngồi bàn bên ngoài để tha hồ ngắm nhìn người chung quanh một cách tự do và lộ liễu!!!  Tôi chuồn vào một góc để dễ nói chuyện với bạn mình.  Chuyện mưa nắng giãi dầu, chuyện tào lao, rồi lại chia tay nhau.

 

Tôi ra về băng ngang đại lộ, ngang Vương Cung Thánh Đường, ngang qua 3 đám cưới.  Các cô dâu đều áo trắng môi son.  Một cô đi đất, chú rể tuxedo theo sau, bàn tay xòe bưng đôi giày cao gót đỏ.  Cô khác hai tay túm áo cưới kéo vạt, ôm cái mớ voan trắng lên cho khỏi lấm đất, bên trong lòi ra tấm quần đen bó và đôi dép cao su.  Một cô khăn choàng trắng phủ lưng trần đã sang hết đường qua lề bên kia không kịp ngó mặt.  Nắng chiếu lên tấm thân già héo, tôi nghĩ mai mốt cứ hỏa thiêu cho khỏi tốn đất, khỏi thắc mắc chuyện về đâu.  Và tôi nhận ra, từ hôm về đến nay tôi chưa hề thèm muốn chụp bức hình nào của phố phường của đất quê như đã nghĩ, dù lòng thấy phố phường êm vui.  Cái máy hình vẫn luôn theo tôi khắp nơi, nhưng dường như tôi đã hòa giải được với lòng mình, không còn thấy mình là một du khách để ham săn hình.  Tôi chỉ còn là một bóng ma đi tìm tôi ngày cũ.

 

Ngày bất tận, tôi nửa mong vậy, nửa buồn, và càng hồi hộp lo âu biết mình đến lúc phải về.  Tôi lên phòng từ giã em, hẹn qua năm có phép sẽ lại về, nhưng cõi lòng đắng ngắt _ biết em có còn để tôi về.  Ngay lúc này đây tôi hãy kíp quay lưng, vì biết đâu phút tới em sẽ thở hơi vĩnh biệt.  Tôi bước vào phi trường, vội vã như lúc về, nhưng chỉ còn là những bước ngẩn ngơ.

 

Ba tuần sau em ra đi.  Hai giờ trước chị chim cút gọi điện thoại em vẫn trả lời.  Khi chị về, tay chân em đã bắt đầu cứng.  Chị hỏi, em không còn nói được _ bàn tay mỏng manh khẽ nắm lại tay chị.  Ánh mắt em chao đảo tìm kiếm, chị gọi anh hộ pháp đến với em.  Mặt em bừng sáng, ánh mắt mừng vui mãn nguyện khi anh nắm tay em an ủi vỗ về.  Em thở hơi cuối cùng, cũng phải anh hộ pháp vuốt mắt em mới khép.  Tôi lái xe trên đường về, cơn mưa hụt nhẹ nhàng lất phất, chân cầu vồng hiện dần rực rỡ và một hạt mưa rụt rè lăn chảy xuống góc kính. 

 

Khi ban kèn tây hòa bài Công Đức Sinh Thành đưa tiễn, bên này anh Tư gọi tôi thắp nhang cho em.  Anh dẫn tôi ra chỉ cái ghế đẩu đặt ngay cửa ra vào tựa như lúc cúng giao thừa hằng năm.  Trên mặt ghế có một ly gạo để cắm nhang, một ly nước, một trái cam, và một dĩa đựng một khúc bánh mì, một củ khoai vàng cắt đôi, một củ khoai tím cắt đôi, và một quả trứng luộc.  Anh chờ tôi thắp nhang xong thì cũng bước tới khấn nguyện.  Nếu biết, chắc em nở một nụ cười.  Nếu biết, hồn em sẽ ấm dù trong cõi mịt mù.   Tôi xa em, giờ đây không chỉ nửa vòng trái đất mà cả một kiếp đời…

 

 

Lưu Na

01092015

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Chín 20262:41 SA(Xem: 276)
Trong một lần trao đổi, bạn tôi hỏi đã đọc “Animal Farm” của George Orwell chưa? Tựa đề tập truyện ngay tức khắc làm tôi liên tưởng đến nhà văn Cung Tích Biền với những câu chuyện huyền ảo về Xứ động vật của ông. Với Cung Tích Biền “ Văn chương có thể huyền ảo, nhưng trách nhiệm của Nhà văn không thể là một hư ảo” và ông đã sống như vậy.
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 353)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
11 Tháng Chín 202611:04 CH(Xem: 440)
chợt nghe như lá rơi ngoài cửa / dịu dàng đem tới một làn hương / đã làm chiếc ghế nghiêng qua cửa / khi bóng chiều buông xuống mặt đường
10 Tháng Chín 202612:47 SA(Xem: 768)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
10 Tháng Chín 202612:22 SA(Xem: 632)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2843)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 1906)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 1455)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2560)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 2083)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 1894)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11777)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18376)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17398)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
11 Tháng Chín 202611:04 CH(Xem: 440)
chợt nghe như lá rơi ngoài cửa / dịu dàng đem tới một làn hương / đã làm chiếc ghế nghiêng qua cửa / khi bóng chiều buông xuống mặt đường
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2560)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2672)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 4124)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
(Xem: 767)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
(Xem: 2083)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 3961)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 3372)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2841)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 2637)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 3020)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 3004)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Chín 2026(Xem: 276)
Trong một lần trao đổi, bạn tôi hỏi đã đọc “Animal Farm” của George Orwell chưa? Tựa đề tập truyện ngay tức khắc làm tôi liên tưởng đến nhà văn Cung Tích Biền với những câu chuyện huyền ảo về Xứ động vật của ông. Với Cung Tích Biền “ Văn chương có thể huyền ảo, nhưng trách nhiệm của Nhà văn không thể là một hư ảo” và ông đã sống như vậy.
10 Tháng Chín 2026(Xem: 631)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1906)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1455)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 4814)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14944)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 31074)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 37880)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12785)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 14064)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 5376)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 8003)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 7039)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 7438)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 8409)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 353)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9962)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 9144)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi