- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Ảo Ảnh Lời Nguyền

10 Tháng Mười 20142:38 SA(Xem: 64024)
NAM CAN-BW

          Núi lửa Mayon ở Philipines quẫy mình. Bụi khói từ dòng dung nham bất kham lang thang đến tận miệt Cái tàu hạ Năm Căn. Khoảng trời xanh veo nay trở nên oi nồng nằng nặng đỏ quạch màu máu. Tưởng chừng ai đó lỡ tay hất nguyên dĩa tiết canh thừa thổ tả lên trời. Mặt kĩ sư Bình bừng bừng giận đỏ hơn màu dung nham ấy. Chàng vung tay chém gió thẳng xuống bàn nhậu. Chiếc bàn ván ép vỡ đôi. Mồi nhậu văng tung tóe. Gần năm mươi tay thợ xây dựng, ngu đần có thông minh có, ngừng nhai mồi, im phăng phắc. Mẹ, năm chục thằng mà để trộm khoắng mấy tấn xi măng và sắt phi sáu. Ăn no ấm cật, ngủ say làm được quái gì đâu.

Bình vốn chẳng hầm hồ. Nhưng giữa đám thợ hồ hổ lốn này, không ra oai chẳng thể bình trị chúng được. Đám thợ từng hồn bay phách lạc khi thấy Bình tay trần sục trộn xi măng và sạn. Hai bàn tay chai lì thoăn thoắt như hai chiếc xẻng. Lắm khi Bình đóng cốp pha trộn bê tông chẳng cần búa. Có tiếng xuýt xoa rồi tặc lưỡi. Thiết thủ công Bình Định đó. Món võ bí kíp gia truyền mà Bình thường hù các ma mới trong nghề xây dựng.

Trong cơn giận, cặp mắt xếch của Bình trợn đứng sòng sọc hằn đầy mạch máu đỏ li ti. Tựa hồ máu trên não dồn hết lên đôi mắt. Nhìn chàng chẳng khác gì vua Quang Trung. Năm xưa, lễ giỗ Vua ở bảo tàng Bình Định. Chiêng trống gõ dồn dập. Đúng lúc thời xưa giao thoa thời nay, tiếng đọc sớ sang sảng tắt lịm. Lão đánh trống há mồm buông dùi. Nghe rõ tiếng vút gió dùi trống quay ba vòng rưỡi trước khi chạm nền nhà đá lạnh. Tiếng người hốt hoảng. Tiếng chân bỏ chạy. Tiếng la. Vua Quang Trung tái sanh. Bình ngơ ngác bước ra từ sau tượng vua. Kể từ đó Bình tin chắc chàng là hậu duệ của người. Chàng chính là chắt đời thứ chín của thứ phi Nguyễn Thị Bích. Khi bị vua Gia Long truy bức, duy nhất bà bỏ trốn, được đùm bọc bởi người Chăm ở miền Trung.

Trại xây dựng của Bình e ấp sát rìa đầm Cái tàu hạ. Vài tấm tôn sắt đủ che nắng mưa cho mấy chục thợ. Mặt trước có cổng cài then, mặt sau ôm sát bờ đầm. Đám thợ phân trần với Bình. Cổng còn nguyên khóa. Bình trừng mắt. Vậy sắt thép có cánh mà bay. Có lẽ tụi trộm đột nhập từ trong đầm. Rồi biến đi đường nào. Đầm rộng mênh mông khó lường như lòng người. Những câu hỏi dồn dập, cứ thế, tạo thành một chuỗi xích trải dài từ lán trại đến nhà Út Nhỏ.

Bình ném phăng chiếc áo thun lên đống cũi. Bắp tay cuồn cuộn, bụng săn chắc, xẹp phồng theo nhịp rìu. Út Nhỏ len lén trong nhà nhìn ra. Nàng cười thẹn thùng khi nghe cha khen Bình được việc.

Nhớ ngày đầu tiên về xã Út Nhỏ làm cầu cống. Chiều buồn dài đằng đẵng. Bình lang thang vô xóm uống rượu trắng. Về vùng này mà chưa gặp Tư râu, xem như chưa biết gì. Lão vốn dòng hoàng tộc. Chiến tranh nên ly tán từ Huế đến tận miền Tây. Lão làm rể xã này từ hồi tám hoánh. Dân xây dựng có tiền lại đi nhiều. Thượng vàng hạ cám, nguyệt nhật sơn thủy, lão rành sáu câu. Có vậy lão mới gù được em đẹp nhất xã. Kẻ nào hỏi lão cưới vợ nhờ tiền, thơ, hay tình. Lão chỉ cười hô hố.

Chân ướt chân ráo nhập bàn, Tư râu trịnh trọng rót cho chàng kỹ sư một tô rượu sóng sánh. Nhẹ nhàng lão bứt thêm một lá me thả bập bềnh trong tô rượu. Lão tủm tỉm cười. Con uống xong rượu mà vẫn còn lá me là toi đó. Phải uống tô khác. Mới vài tua, Bình đã ngất ngư. Nâng tô rượu lên, lá me nhẹ cứ trôi lên trên, chẳng hề chịu tọt vào miệng.

Tiếng đàn tranh từ trong phòng lanh lảnh vang lên. Làn hương thơm từ cây đàn bắt đầu lan nhẹ là là sàn nhà. Nàng ca. Ngoài biên ải xa muôn trùng. Sao chàng tráng sĩ vẫn chưa chịu về. Bình ngạc nhiên. Tư râu cười, vân vê cằm khoái chí. Con gái lão đàn đó. Tiếng đàn ngưng. Út Nhỏ đi ngang, áp miệng vào tai Bình thì thầm. Anh phải xoay tô rượu, hướng lá me ngay miệng, hút lá me trước, tớp rượu sau. Tàn cuộc rượu, Bình chia tay cả nhà, còn xin uống thêm một tô để đi đường. Ngày trước lão xin đến những hai tô. Tư râu khoái chí, vỗ vai Bình cười híp mắt, thằng này chơi được.

Nhìn Út Nhỏ, Bình thầm thắc mắc. Sao con gái quê mà “nghiêng nước nghiêng thành” làm Bình mụ mị, thẫn thờ. Bình chép miệng trêu Út Nhỏ. Không biết cái tinh trùng nào gặp trứng nào, mà tạo nên hợp tử tuyệt vời.

Bình đã thấm men…tình.

Út Nhỏ đẹp. Tất nhiên.

Mông nàng tròn thắt eo như trái bầu non xanh mơn mởn. Bình hoang tưởng chàng là nhát dao bén lịm chém ngọt vào trái bầu non tơ kia. Trái bầu đứt đôi lồ lộ những hạt bầu trinh nguyên. Cả người Bình bỗng cứng đơ. Máu như dồn tất cả vào tứ chi. Mặt trắng bệch. Một giọt nhờn nhợt màu trắng như rượu nếp ứa ra trong khóe mắt. Bình vội vốc nước lạnh trong lu vã lên mặt. Tĩnh ngay. Bình tự nhủ nàng là “của để dành”, cấm nghĩ vẩn vơ.

Tia nắng đầu ngày ló dạng. Út Nhỏ khe khẽ vén màn sương. Bàn chân nhỏ, như các thứ phi ngày xưa, dạo bước vườn sau, băng trên hàng rau muống hột xanh rì. Những giấc mơ kỳ quái cứ quấn quít bán cầu não phải. Đôi khi làm nàng hoảng sợ. Cứ gần sáng nàng gặp nguyên phi Tống Thị Lan, vợ đầu Nguyễn Ánh. Chuyện thật chuyện mơ cứ thế đan xen.

 

Nàng cúi nhìn mặt nước ao. Phản chiếu qua mặt nước không phải nàng. Nguyên phi đây. Người đàn bà dưới ao mỉm cười. Nàng cũng cười. Rồi run rẩy khi nghe rằng. Ta không biết đời con sẽ vui hay buồn. Mong con sẽ làm được điều ta hằng mơ ước hơn hai trăm năm nay.

 

Vắt vẻo bờ ao, hai bàn chân trắng muốt quẫy nước, Út Nhỏ thủ thỉ kể chuyện xưa. Những câu chuyện bi hùng lưu truyền từ đời này sang đời khác. Cái nắm tay, cái liếc mắt đong đầy của nàng đã đưa Bình bước ra khỏi rìa trái đất, rìa của thời gian. Thoắt. Nàng và chàng đã ngược về thời núi lửa Mayon hù dọa con người lần thứ sáu, trong tất cả mười ba lần dung nham tuôn trào.

Năm Quí Mão 1783. Thừa lệnh vua anh Thái Đức, Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ sai tướng Trần Quang Diệu cùng vạn quân Nam tiến. Trước ba quân, Huệ tuốt kiếm thề. Nếu đợt này không lấy đầu Nguyễn Ánh quyết không về lại Phú Xuân. Vạn quân reo hò. Thú rừng hoảng sợ phải trốn biệt vào rừng sâu. Thú nhà cụp đuôi nằm bẹp sàn. Quân của Huệ tiến nhanh vào Gia Định như tia chớp. Cờ đỏ tua vàng phất phới đến đâu, quân Nguyễn Ánh chạy dài đến đó. Ánh phải bỏ thành Gia Định, đưa cả gia đình cùng bầu đoàn thê tử trốn về hướng biển Tây. Đến đầm Cái tàu hạ, Ánh chỉ còn dăm trăm quân. Trần Quang Diệu cùng ba ngàn quân Tây Sơn xiết dần vòng vây.

Mặt nước đầm lúc này phản chiếu màu sắc trắng hồng kỳ ảo. Những cây bần sát bờ đang vào mùa nở hoa. Cánh hoa bần tim tím thoang thoảng mùi thơm nồng nàn mật ong. Mặt sông phủ đầy màu trắng bàng bạc của nhụy bần. Bầu trời lại nhuốm màu đỏ quạch của bụi khói dung nham núi lửa Mayon. Nhìn trời, nhìn đất, nhìn mây, chúa Nguyễn Ánh ngửa mặt mà than. Đây có phải điềm trời cho ta thoát nạn nữa không?

Diệu đứng đầu thuyền hô hào binh sĩ chèo gấp. Bụi khói dung nham dày đặc chẳng thấy người. Mặt nước lại đầy nhụy hoa bần trắng nên khó thấy đường rẽ nước của thuyền Nguyễn Ánh về đâu. Tướng Nguyễn Phước Mân hầu gia đình Ánh xuống xuồng nhỏ, men theo những rặng cây bần mà tiến ra sông Đốc. Kẻ hạ thần này xin chặn đường tiến quân của giặc Tây Sơn. Chúa Thượng hòa an.

Diệu nóng lòng lập công. Nhưng thuyền lớn không thể vào con rạch.Hết xuồng này, xuồng khác tiến vào rạch mà chẳng thấy bóng Nguyễn Ánh. Xuồng lính Tây Sơn vào rạch cũng mất hút. Mưa càng nặng hạt. Mưa chỉ rơi trong con rạch nhỏ. Kỳ lạ. Những sợi mưa sắc lẻm như dây cước quấn chặt trời và đất. Tạo nên bức màn ngăn cách quân Tây Sơn. Nhụy hoa bần trên mặt đầm không còn trắng nữa. Một màu máu tanh lợm đỏ ngầu cả con rạch. Con rạch máu.

 Xa xa ẩn hiện cờ hiệu nền vàng sao đỏ của chúa Nguyễn. Quân Tây Sơn tràn lên thuyền. Chỉ có tướng Nguyễn Phước Mân cùng vài chục quân. Diệu biết mình bị lừa. Ánh đã cao chạy xa bay. Diệu rút kiếm. Đầu Mân lăn ngang boong thuyền. Máu từ cổ họng nong nóng chảy xối xả. Động mạch cổ vẫn còn co giựt như thể hồn Mân còn chưa muốn lìa khỏi xác.

Diệu lên bờ, phi ngựa nước đại về doanh trại Nguyễn Huệ. Bao nhiêu năm phục tùng Nguyễn Huệ, Diệu biết rõ tính cầu toàn và tài rút kiếm nhanh hơn ánh sáng của Huệ. Nguyễn Huệ tài giỏi. Hầu như không bao giờ ông chấp nhận thất bại. Diệu cũng chẳng phải vừa. Lúc nào ông cũng biết cách đối phó. Vào lều một mình, Huệ biết ngay Ánh đã thoát.

Bẩm tướng quân. Có tin khẩn cấp từ Qui Nhơn.

Tin chi? Nói mau.

Diệu to nhỏ. Vua anh Nguyễn Nhạc đã hiếp thứ phi của Long Nhương tướng quân.

Khi tiến quân vào Gia Định, các thứ phi của Huệ đành ở lại Qui Nhơn chờ tin thắng trận. Ai ngờ. Huệ lồng lộn. Cặp mắt hằn những mạch máu đỏ. Thằng anh thối nát. Chuyến này tao phải trị xong Nguyễn Nhạc, rồi bắt giết tên Ánh mặt ngựa cũng không muộn. Quân Tây Sơn tiến về Trung. Bao vây thành Qui Nhơn.

Chiều hôm đó, thuyền buôn người Hoa đón Nguyễn Ánh ngoài sông Đốc, xuôi về biển Tây. Đêm xuống. Trăng rằm tròn vành vạnh. Hắt bóng hai người xuống sàn. Ánh chăm chăm nhìn lên trần, gằn giọng cùng Nguyên phi Tống Thị Lan.

Ta tính thế này Phi à. Ánh thường gọi người vợ cả bằng cái tên như vậy. Nhất định khi chiến thắng khải hoàn, ta phải giết hết giòng họ giặc cỏ Tây Sơn. Cả ba thằng Nhạc Huệ Lữ cùng bọn quan.

Chúa thượng lấy oán trả oán không hay chút nào.

Chứ Phi không biết tên Huệ mặt mụn kia giết hết 19 người dòng họ chúa Nguyễn sao?

Thần thiếp biết hết chứ. Bao nhiêu năm bôn ba, lên thác xuống ghềnh, hầu hạ Chúa thượng, thiếp đã đi guốc trong bụng người. Thiếp đồng ý phải giết tên Huệ trả thù xưa. Còn Nhạc và Lữ ư. Nhạc giờ chỉ ham mê tửu sắc. Quăng cho lão vài chục em trong thanh lâu là xong. Còn Lữ chỉ một gã an phận, suốt ngày tụng kinh tu tại gia. Ngán gì. Khi khải hoàn mà tru di tam tộc kẻ thù để trấn áp lòng dân chăng? Không phải cách hay đề bình thiên hạ. Bao lâu nay Chúa thượng trốn chạy Tây sơn, về lại Gia định gầy dựng cơ đồ. Ấy là nhờ bao bọc của lòng dân. Nay trấn áp làm dân khiếp sợ. Ấy là điềm xấu. Vận nước lên hay xuống đều ở lòng dân. Chi bằng sau chiến thắng, ta vẫn cho các quan Tây Sơn nguyên chức. Cứ mỗi trấn, tổng trấn người của ta, phó tổng trấn người Tây Sơn. Lại cho người Đàng trong Đàng ngoài kết tình thâm giao, xui gia, rể, dâu..Thế là hòa hợp hòa giải cả hai bên. Người thắng kẻ thua đều hạnh phúc.

Khiếp. Nàng mau chóng theo kịp “văn minh khai sáng” thật. Ta cứ tưởng đàn bà nước Nam đái không qua ngọn cỏ.

Nhờ ơn đức Chúa thượng. Bá Đa Lộc mới tặng thiếp triết phẩm “La Republique” của Plato.

Khuya rồi. Chuyện binh đao để ta lo. Đời ta cứ để lịch sử phán xét. Mai ta đi Xiêm cầu viện. Phi đưa gia đình ra Phú Quốc ẩn náu. Tất cả cung tần mỹ nữ của ta được phép lập gia đình với người bản xứ khỏi đợi chờ. À món canh chua cá ngát với bần quá ngon. Hôm nay ta thoát nạn nhờ con rạch bần. Từ nay ta gọi cây bần là Thuỷ Liễu. Kẻ xấu qua con rạch này ắt phải đền tội. Ánh nói bâng quơ nhưng thành lời nguyền cho đời sau.

Ánh vỗ yêu lên đôi mông căng tròn của Lan. Nàng cong cớn ôm xiết Ánh. Chúa thượng của thiếp mãnh lực vô song. Tiếng cười của nàng vỡ vụn cùng ánh trăng. Hai chiếc bóng trên sàn vờn nhau. Đến khi nhập thành một...thành một...thành một bóng. Rồi biến mất. Ánh trăng vàng tươi quét trọn căn phòng trống rỗng. 

Út Nhỏ và dân nguyên xã này chính là con cháu của các cung tần mỹ nữ Nguyễn Ánh.

Lão Tư râu cười hô hố. Đặt mạnh ly rượu xuống bàn. Tỉnh đi Bình. Ly rượu mày dừng hơi lâu. Mơ Út Nhỏ hả. Con nhà võ lại có trái tim nhà thơ. Muốn làm rể nhà tao? Con gái tao đẹp thật. Nhưng có nhiều nét khác người. Không biết mày chịu nổi không?

Trước đây, lão cưới vợ hơn mười năm mới sanh được Út Nhỏ. Khó nuôi đành gọi là út. Năm con bé bảy tuổi, lão đưa con ra phố đến tiệm bán đàn. Lão muốn mua đàn piano. Nhưng con bé cứ tần ngần trước cây đàn tranh. Rồi tiếng đàn ma mị cất lên. Thề có trời đất. Lão chưa bao giờ dạy con bé đàn. Mà lão cũng chưa nghe ai đàn hay như thế. Con bé đàn như nhập hồn. Mười ngón tay rướm máu. Mắt long lanh. Giọng liêu trai. Từng tiếng như cắt ngọt tim người.

“Xin chàng chờ em khi hoàng hôn buông. Nơi Thiên thần và Ác quỷ, trong nhập nhoạng sáng tối, quần tụ bên đống lửa không màu…”

Bình giật mình. Nhìn kỹ người đối diện. Lão cũng bô trai. Trừ cái miệng phá tướng khuôn mặt. Hàm râu xồm xoàn ngồi chồm hỗm trên đôi môi dày thâm sì to kệch. Môi lão dày như môi người da đen. Cái miệng này chắc đã nút bao tấn xi măng và sắt thép.

Tư râu quắc mắt. Mày lầm bầm nói xấu tao.

Bố nói oan. Ý con... Tướng bố oai vậy mới làm thủ kho.

Miệng mày ngọt xớt. Muốn tạm ứng vật liệu xây dựng hả. Sao không nộp đơn.

Đơn gì bố. À… Mười xấp đây.

Sau này làm rể bố. Những lần như thế này có tốn bạc không.

Tình và tiền không lẫn lộn được con ạ. Tao đang làm việc thiện ấy chứ. Một ngày không vật liệu để thi công. Mày biết phải nuôi báo cô năm mươi cái tàu há mồm hết nhiêu. Mười xấp này xá gì.

Chiếc xe tải chở sắt thép về đến lán trại mà tiếng cười hô hố của Tư râu vẫn vọng theo. Hôm nay Bình không về thành phố. Tiệc rượu ê hề chiêu đãi anh em. Bình và mười anh em thân tín chỉ uống cầm chừng. Trong đám năm mươi thợ hồ, có kẻ bất nghĩa làm ăng ten cho bọn trộm.

Một giờ sáng. Ba chiếc tắc ráng dừng giữa đầm. Rồi lặng lẽ chèo vào bờ. Hơn chục bóng người lùi lũi vào kho xi măng sắt thép. Chỉ chờ có thế, Bình với tay tắt cầu dao điện. Quân của Bình tay cầm ống sắt múa tới tấp. Bình vũ côn tam khúc. Dáng Bình khuỳnh khuỳnh cao một mét tám như Kinh Kong.

Chỉ nghe tiếng cộc cộc khô khốc vang lên giữa sắt và đầu. Trời tối kịt như lỗ đen nuốt chửng mọi ánh sáng và âm thanh. Bọn trộm há miệng tận quai hàm la hét mà chẳng phát ra âm nào. Khiếp sợ làm chúng tắt tiếng. Mặt nước đầm xanh đen đến rợn người.

Bị bất ngờ, quân trộm lên chiếc tắc ráng dông thẳng. Chúng chạy vô con rạch. Những cây bần run rẩy đong đưa trong đêm tối như hồn ma. Dân gian đồn thổi bần ở đây ngon nhất miền Tây vì hút máu người trong trận thủy chiến năm xưa. Hai giờ sáng Bình mới gom cả bọn về xã. Riêng tên đầu đảng Hai lác thoát được.

Bình minh ló dạng. Con rạch tràn ngập âm thanh hỗn mang. Xác Hai lác xập xềnh trên mặt nước. Vết đâm ngọt xớt xuyên ngay tim. Bác Hai của Út Nhỏ bỏ xác Hai lác lên xe bò kéo thẳng về huyện. Hai lác là con bác con chú với nàng. Máu từ thi thể người chết vẫn nhỏ giọt suốt đoạn đường cây số rưỡi từ xã đến huyện. Quạ đen nườm nượp kéo về. Cứ năm mét một con sà xuống hút máu rơi. Tạo thành vệt đen dài ngoằng. Dễ chừng toàn bộ quạ miền Tây đều về chia phần.

Bác Hai trưởng tộc sụt sùi nhất quyết không chịu Út Nhỏ quen Bình. Chỉ có thánh nhân mời ngồi nâng ly cùng kẻ đã giết con mình.

Toà huyện xử vụ ăn cắp vật liệu xây dựng cho tuyến đường nối liền khu công nghiệp Năm Căn. Toà bác bỏ luật sự biện hộ cho rằng Bình hạ thủ Hai lác rồi quăng xác xuống rạch. Nạn nhân trong cơn hỗn loạn, nhảy ra khỏi xuồng, tự tìm đến cái chết. Hai lác đã lặn một hơi dài. Ngực đâm vào cây cọc gỗ đầu bọc sắt chôn ở đáy rạch. Chính Nguyễn Ánh và tướng Mân đã cho lính chôn những cọc này.  Nhằm chặn đứng xuồng quân Tây Sơn vào rạch. Hai lác không qua được lời nguyền. 

Bình thở phào. Chàng quay lại nhìn Út Nhỏ. Cảm thấy ánh mắt van lơn ai đó vuốt lưng chàng. Ánh mắt của Tư râu. Lão đứng chung vành móng ngựa với bọn Hai lác. Lão bị tạm giam vì tội tiêu thụ hàng ăn cắp xi măng sắt thép. Bình vội vàng ra khỏi toà tránh ánh mắt ấy.

Tư râu thọ án. Nhà trống trải. Tiếng đàn không phá vỡ được sự cô quạnh. Nàng cố co mình trong nỗi dằn vặt. Yêu và đau, lắm khi, cắn xé nhau. Út Nhỏ nhớ Bình lại lánh xa chàng. Nàng trải lòng qua tiếng đàn.

"Sầu đong càng lắc càng đầy,

Ba thu dọn lại một ngày dài ghê."

Tiếng đàn mằn mặn nước mắt thẩm đến lán trại. Bình tự vấn hoang mang. Chàng đang cuốn hút vào một tình yêu lạ thường. Chàng yêu Út Nhỏ hay yêu ảo ảnh cung phi ngày xưa. Từ ngày yêu nhau, có khi nào Út Nhỏ nói yêu chàng. Rồi đây cuộc đời chàng là kẻ cộng sinh hay kí sinh trong cõi yêu.

Sau này tác giả có về lại Năm Căn gặp Bình và Út Nhỏ để viết truyện này. Hơn hai trăm năm, kể từ ngày đó, lần đầu tiên, con cháu Nguyễn Huệ kết duyên cùng con cháu Nguyễn Ánh. Hai người miên man trong vườn hạnh phúc. Nhưng lại không có con. Dân tình đồn rằng. Bình cũng có những giấc mơ quái lạ như Út Nhỏ. Trong mơ không biết Nguyễn Ánh nói gì mà Bình đã đi … thắt ống dẫn tinh.

Trời Năm Căn vẫn xanh veo.

THÁI BẢO

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 145096)
Em Người đàn bà sống dậy lúc nửa đêm icon bật sáng Lang thang trong thế giới ngôn từ Đi về bằng đôi chân giả Dối gạt nhau qua lũ hình nhân sặc sỡ Sắc màu
17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 99647)
Một cái chết tức tưởi, phi lí như thân phận con người trên cõi đời, như Albert Camus đã nhận xét trước kia. Ở tuổi 46, hai năm sau ngày lãnh giải Nobel. Trong túi xách của ông có đựng bản thảo cuốn tự sự hư cấu còn dang dở Le Premier Homme (Người đầu tiên), kí ức tặng mẹ, “người sẽ không đọc được nó’’. Cây ngô đồng (không hiểu sao) nay không còn nữa, chỉ có đài tưởng niệm dựng ở ven làng. (1)
17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 125706)
Sự thật là tôi không khóc khi chị cướp mất người đàn ông của tôi. Chị trơ trẽn mơn trớn anh ngay trước mắt tôi, rồi lại giả đò lúng túng vì những hành động ấy. Giá tôi có thể đẩy chị về nơi thật xa. Đẩy chị vào khoảng không vô chừng của bóng tối, trong sa mạc, cát bụi.
17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 113447)
Thật trơ trẽn, chúng nó hít hà, giá mà bóp vú em - dù chỉ qua lớp áo bà ba và áo nịt - được cái thì dù tử thần bảo phải nhượng cho mươi tuổi thọ, chúng cũng ký cả hai tay. Chàng cười diễu, bọn mày chẳng biết thế nào là tình ái. Chẳng chịu khó tìm phương đến đích. Nếu chinh phục được họ, sá gì hai quả đào mưng sữa kia chứ, bao nhiêu hầm mỏ ruộng nương mà các cô không dâng sạch cho tình lang?
17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 126062)
...Cô y tá nựng tôi! Tôi chồm lên ngang vai rồi liếm vào mồm, cô ngã ngửa ra, tôi tiếp tục vồ lấy. Tôi hôn cô. Tôi hít cô. Tôi xé quần áo cô. Tôi kiên quyết không rời cô. Tôi không có ý thức, mà cũng chẳng biết đạo đức là gì? Tôi đã tấn công cô y tá, đấy là họ bảo tôi thế, có người bàn thiến hai hạt dái của tôi...
17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 120304)
Nơi nào mùa xuân bắt đầu? Mùa Xuân bắt đầu từ những mầm cây non còn ngủ sâu dưới lòng đất giữa mùa Đông giá buốt. Chúng là những đứa con của các cây bố cường tráng, khỏe mạnh; và những cây mẹ dẻo dai, sum suê kết quả suốt mùa Hạ thơm lừng; sau những đêm ấm nồng lửa nhiệt đới và mặt trời không bao giờ tắt giữa đôi tay. Các bố mẹ cây gửi tình yêu của họ trong bọc lụa theo gió, để những đứa con mang mùa Xuân đến cho mặt đất và muôn loài.
15 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 125971)
Chuyên đề Tạp chí Văn : Nhiều Tác Giả (văn hóa) Sau chuyên đề về Tập san văn chương Ý THỨC, Văn Chương Việt hân hạnh được giới thiệu chuyên đề về Tạp chí Văn và chân dung những người đã dựng nên tờ tạp chí một thời vang bóng này.
14 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 149193)
Cũng chẳng cần mầu xanh của lá mầu đỏ của hoa hồng chỉ thấy trong veo như nước lọc nước tan trên môi nước hòa trong mắt làm thế nào mà tách được nước ra
14 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 153900)
Tháng sáu bắt đầu bằng cành hoa mong manh Trưa nắng chói chang lấp lánh mảnh thuỷ tinh vỡ Theo vòng tay buông lơi Mùa hè trở lại ở góc 360 Những cánh phù du trĩu nặng mắt chiều
14 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 146950)
Sông như lọn tóc dài cầu gầy như cánh tay Sa Lung ga chờ anh vời vợi con tàu qua rất vội như là trốn chạy nhau
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3851)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13295)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19664)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18645)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1645)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1806)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2324)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2431)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1466)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2213)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1960)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 2006)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1381)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2425)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2638)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2385)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 249)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 821)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1012)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1127)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6421)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15902)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32165)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38869)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1493)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13904)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6914)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10715)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9911)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 10034)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10839)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3464)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11158)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10369)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi