- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Ảo Ảnh Lời Nguyền

10 Tháng Mười 20142:38 SA(Xem: 60323)
NAM CAN-BW

          Núi lửa Mayon ở Philipines quẫy mình. Bụi khói từ dòng dung nham bất kham lang thang đến tận miệt Cái tàu hạ Năm Căn. Khoảng trời xanh veo nay trở nên oi nồng nằng nặng đỏ quạch màu máu. Tưởng chừng ai đó lỡ tay hất nguyên dĩa tiết canh thừa thổ tả lên trời. Mặt kĩ sư Bình bừng bừng giận đỏ hơn màu dung nham ấy. Chàng vung tay chém gió thẳng xuống bàn nhậu. Chiếc bàn ván ép vỡ đôi. Mồi nhậu văng tung tóe. Gần năm mươi tay thợ xây dựng, ngu đần có thông minh có, ngừng nhai mồi, im phăng phắc. Mẹ, năm chục thằng mà để trộm khoắng mấy tấn xi măng và sắt phi sáu. Ăn no ấm cật, ngủ say làm được quái gì đâu.

Bình vốn chẳng hầm hồ. Nhưng giữa đám thợ hồ hổ lốn này, không ra oai chẳng thể bình trị chúng được. Đám thợ từng hồn bay phách lạc khi thấy Bình tay trần sục trộn xi măng và sạn. Hai bàn tay chai lì thoăn thoắt như hai chiếc xẻng. Lắm khi Bình đóng cốp pha trộn bê tông chẳng cần búa. Có tiếng xuýt xoa rồi tặc lưỡi. Thiết thủ công Bình Định đó. Món võ bí kíp gia truyền mà Bình thường hù các ma mới trong nghề xây dựng.

Trong cơn giận, cặp mắt xếch của Bình trợn đứng sòng sọc hằn đầy mạch máu đỏ li ti. Tựa hồ máu trên não dồn hết lên đôi mắt. Nhìn chàng chẳng khác gì vua Quang Trung. Năm xưa, lễ giỗ Vua ở bảo tàng Bình Định. Chiêng trống gõ dồn dập. Đúng lúc thời xưa giao thoa thời nay, tiếng đọc sớ sang sảng tắt lịm. Lão đánh trống há mồm buông dùi. Nghe rõ tiếng vút gió dùi trống quay ba vòng rưỡi trước khi chạm nền nhà đá lạnh. Tiếng người hốt hoảng. Tiếng chân bỏ chạy. Tiếng la. Vua Quang Trung tái sanh. Bình ngơ ngác bước ra từ sau tượng vua. Kể từ đó Bình tin chắc chàng là hậu duệ của người. Chàng chính là chắt đời thứ chín của thứ phi Nguyễn Thị Bích. Khi bị vua Gia Long truy bức, duy nhất bà bỏ trốn, được đùm bọc bởi người Chăm ở miền Trung.

Trại xây dựng của Bình e ấp sát rìa đầm Cái tàu hạ. Vài tấm tôn sắt đủ che nắng mưa cho mấy chục thợ. Mặt trước có cổng cài then, mặt sau ôm sát bờ đầm. Đám thợ phân trần với Bình. Cổng còn nguyên khóa. Bình trừng mắt. Vậy sắt thép có cánh mà bay. Có lẽ tụi trộm đột nhập từ trong đầm. Rồi biến đi đường nào. Đầm rộng mênh mông khó lường như lòng người. Những câu hỏi dồn dập, cứ thế, tạo thành một chuỗi xích trải dài từ lán trại đến nhà Út Nhỏ.

Bình ném phăng chiếc áo thun lên đống cũi. Bắp tay cuồn cuộn, bụng săn chắc, xẹp phồng theo nhịp rìu. Út Nhỏ len lén trong nhà nhìn ra. Nàng cười thẹn thùng khi nghe cha khen Bình được việc.

Nhớ ngày đầu tiên về xã Út Nhỏ làm cầu cống. Chiều buồn dài đằng đẵng. Bình lang thang vô xóm uống rượu trắng. Về vùng này mà chưa gặp Tư râu, xem như chưa biết gì. Lão vốn dòng hoàng tộc. Chiến tranh nên ly tán từ Huế đến tận miền Tây. Lão làm rể xã này từ hồi tám hoánh. Dân xây dựng có tiền lại đi nhiều. Thượng vàng hạ cám, nguyệt nhật sơn thủy, lão rành sáu câu. Có vậy lão mới gù được em đẹp nhất xã. Kẻ nào hỏi lão cưới vợ nhờ tiền, thơ, hay tình. Lão chỉ cười hô hố.

Chân ướt chân ráo nhập bàn, Tư râu trịnh trọng rót cho chàng kỹ sư một tô rượu sóng sánh. Nhẹ nhàng lão bứt thêm một lá me thả bập bềnh trong tô rượu. Lão tủm tỉm cười. Con uống xong rượu mà vẫn còn lá me là toi đó. Phải uống tô khác. Mới vài tua, Bình đã ngất ngư. Nâng tô rượu lên, lá me nhẹ cứ trôi lên trên, chẳng hề chịu tọt vào miệng.

Tiếng đàn tranh từ trong phòng lanh lảnh vang lên. Làn hương thơm từ cây đàn bắt đầu lan nhẹ là là sàn nhà. Nàng ca. Ngoài biên ải xa muôn trùng. Sao chàng tráng sĩ vẫn chưa chịu về. Bình ngạc nhiên. Tư râu cười, vân vê cằm khoái chí. Con gái lão đàn đó. Tiếng đàn ngưng. Út Nhỏ đi ngang, áp miệng vào tai Bình thì thầm. Anh phải xoay tô rượu, hướng lá me ngay miệng, hút lá me trước, tớp rượu sau. Tàn cuộc rượu, Bình chia tay cả nhà, còn xin uống thêm một tô để đi đường. Ngày trước lão xin đến những hai tô. Tư râu khoái chí, vỗ vai Bình cười híp mắt, thằng này chơi được.

Nhìn Út Nhỏ, Bình thầm thắc mắc. Sao con gái quê mà “nghiêng nước nghiêng thành” làm Bình mụ mị, thẫn thờ. Bình chép miệng trêu Út Nhỏ. Không biết cái tinh trùng nào gặp trứng nào, mà tạo nên hợp tử tuyệt vời.

Bình đã thấm men…tình.

Út Nhỏ đẹp. Tất nhiên.

Mông nàng tròn thắt eo như trái bầu non xanh mơn mởn. Bình hoang tưởng chàng là nhát dao bén lịm chém ngọt vào trái bầu non tơ kia. Trái bầu đứt đôi lồ lộ những hạt bầu trinh nguyên. Cả người Bình bỗng cứng đơ. Máu như dồn tất cả vào tứ chi. Mặt trắng bệch. Một giọt nhờn nhợt màu trắng như rượu nếp ứa ra trong khóe mắt. Bình vội vốc nước lạnh trong lu vã lên mặt. Tĩnh ngay. Bình tự nhủ nàng là “của để dành”, cấm nghĩ vẩn vơ.

Tia nắng đầu ngày ló dạng. Út Nhỏ khe khẽ vén màn sương. Bàn chân nhỏ, như các thứ phi ngày xưa, dạo bước vườn sau, băng trên hàng rau muống hột xanh rì. Những giấc mơ kỳ quái cứ quấn quít bán cầu não phải. Đôi khi làm nàng hoảng sợ. Cứ gần sáng nàng gặp nguyên phi Tống Thị Lan, vợ đầu Nguyễn Ánh. Chuyện thật chuyện mơ cứ thế đan xen.

 

Nàng cúi nhìn mặt nước ao. Phản chiếu qua mặt nước không phải nàng. Nguyên phi đây. Người đàn bà dưới ao mỉm cười. Nàng cũng cười. Rồi run rẩy khi nghe rằng. Ta không biết đời con sẽ vui hay buồn. Mong con sẽ làm được điều ta hằng mơ ước hơn hai trăm năm nay.

 

Vắt vẻo bờ ao, hai bàn chân trắng muốt quẫy nước, Út Nhỏ thủ thỉ kể chuyện xưa. Những câu chuyện bi hùng lưu truyền từ đời này sang đời khác. Cái nắm tay, cái liếc mắt đong đầy của nàng đã đưa Bình bước ra khỏi rìa trái đất, rìa của thời gian. Thoắt. Nàng và chàng đã ngược về thời núi lửa Mayon hù dọa con người lần thứ sáu, trong tất cả mười ba lần dung nham tuôn trào.

Năm Quí Mão 1783. Thừa lệnh vua anh Thái Đức, Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ sai tướng Trần Quang Diệu cùng vạn quân Nam tiến. Trước ba quân, Huệ tuốt kiếm thề. Nếu đợt này không lấy đầu Nguyễn Ánh quyết không về lại Phú Xuân. Vạn quân reo hò. Thú rừng hoảng sợ phải trốn biệt vào rừng sâu. Thú nhà cụp đuôi nằm bẹp sàn. Quân của Huệ tiến nhanh vào Gia Định như tia chớp. Cờ đỏ tua vàng phất phới đến đâu, quân Nguyễn Ánh chạy dài đến đó. Ánh phải bỏ thành Gia Định, đưa cả gia đình cùng bầu đoàn thê tử trốn về hướng biển Tây. Đến đầm Cái tàu hạ, Ánh chỉ còn dăm trăm quân. Trần Quang Diệu cùng ba ngàn quân Tây Sơn xiết dần vòng vây.

Mặt nước đầm lúc này phản chiếu màu sắc trắng hồng kỳ ảo. Những cây bần sát bờ đang vào mùa nở hoa. Cánh hoa bần tim tím thoang thoảng mùi thơm nồng nàn mật ong. Mặt sông phủ đầy màu trắng bàng bạc của nhụy bần. Bầu trời lại nhuốm màu đỏ quạch của bụi khói dung nham núi lửa Mayon. Nhìn trời, nhìn đất, nhìn mây, chúa Nguyễn Ánh ngửa mặt mà than. Đây có phải điềm trời cho ta thoát nạn nữa không?

Diệu đứng đầu thuyền hô hào binh sĩ chèo gấp. Bụi khói dung nham dày đặc chẳng thấy người. Mặt nước lại đầy nhụy hoa bần trắng nên khó thấy đường rẽ nước của thuyền Nguyễn Ánh về đâu. Tướng Nguyễn Phước Mân hầu gia đình Ánh xuống xuồng nhỏ, men theo những rặng cây bần mà tiến ra sông Đốc. Kẻ hạ thần này xin chặn đường tiến quân của giặc Tây Sơn. Chúa Thượng hòa an.

Diệu nóng lòng lập công. Nhưng thuyền lớn không thể vào con rạch.Hết xuồng này, xuồng khác tiến vào rạch mà chẳng thấy bóng Nguyễn Ánh. Xuồng lính Tây Sơn vào rạch cũng mất hút. Mưa càng nặng hạt. Mưa chỉ rơi trong con rạch nhỏ. Kỳ lạ. Những sợi mưa sắc lẻm như dây cước quấn chặt trời và đất. Tạo nên bức màn ngăn cách quân Tây Sơn. Nhụy hoa bần trên mặt đầm không còn trắng nữa. Một màu máu tanh lợm đỏ ngầu cả con rạch. Con rạch máu.

 Xa xa ẩn hiện cờ hiệu nền vàng sao đỏ của chúa Nguyễn. Quân Tây Sơn tràn lên thuyền. Chỉ có tướng Nguyễn Phước Mân cùng vài chục quân. Diệu biết mình bị lừa. Ánh đã cao chạy xa bay. Diệu rút kiếm. Đầu Mân lăn ngang boong thuyền. Máu từ cổ họng nong nóng chảy xối xả. Động mạch cổ vẫn còn co giựt như thể hồn Mân còn chưa muốn lìa khỏi xác.

Diệu lên bờ, phi ngựa nước đại về doanh trại Nguyễn Huệ. Bao nhiêu năm phục tùng Nguyễn Huệ, Diệu biết rõ tính cầu toàn và tài rút kiếm nhanh hơn ánh sáng của Huệ. Nguyễn Huệ tài giỏi. Hầu như không bao giờ ông chấp nhận thất bại. Diệu cũng chẳng phải vừa. Lúc nào ông cũng biết cách đối phó. Vào lều một mình, Huệ biết ngay Ánh đã thoát.

Bẩm tướng quân. Có tin khẩn cấp từ Qui Nhơn.

Tin chi? Nói mau.

Diệu to nhỏ. Vua anh Nguyễn Nhạc đã hiếp thứ phi của Long Nhương tướng quân.

Khi tiến quân vào Gia Định, các thứ phi của Huệ đành ở lại Qui Nhơn chờ tin thắng trận. Ai ngờ. Huệ lồng lộn. Cặp mắt hằn những mạch máu đỏ. Thằng anh thối nát. Chuyến này tao phải trị xong Nguyễn Nhạc, rồi bắt giết tên Ánh mặt ngựa cũng không muộn. Quân Tây Sơn tiến về Trung. Bao vây thành Qui Nhơn.

Chiều hôm đó, thuyền buôn người Hoa đón Nguyễn Ánh ngoài sông Đốc, xuôi về biển Tây. Đêm xuống. Trăng rằm tròn vành vạnh. Hắt bóng hai người xuống sàn. Ánh chăm chăm nhìn lên trần, gằn giọng cùng Nguyên phi Tống Thị Lan.

Ta tính thế này Phi à. Ánh thường gọi người vợ cả bằng cái tên như vậy. Nhất định khi chiến thắng khải hoàn, ta phải giết hết giòng họ giặc cỏ Tây Sơn. Cả ba thằng Nhạc Huệ Lữ cùng bọn quan.

Chúa thượng lấy oán trả oán không hay chút nào.

Chứ Phi không biết tên Huệ mặt mụn kia giết hết 19 người dòng họ chúa Nguyễn sao?

Thần thiếp biết hết chứ. Bao nhiêu năm bôn ba, lên thác xuống ghềnh, hầu hạ Chúa thượng, thiếp đã đi guốc trong bụng người. Thiếp đồng ý phải giết tên Huệ trả thù xưa. Còn Nhạc và Lữ ư. Nhạc giờ chỉ ham mê tửu sắc. Quăng cho lão vài chục em trong thanh lâu là xong. Còn Lữ chỉ một gã an phận, suốt ngày tụng kinh tu tại gia. Ngán gì. Khi khải hoàn mà tru di tam tộc kẻ thù để trấn áp lòng dân chăng? Không phải cách hay đề bình thiên hạ. Bao lâu nay Chúa thượng trốn chạy Tây sơn, về lại Gia định gầy dựng cơ đồ. Ấy là nhờ bao bọc của lòng dân. Nay trấn áp làm dân khiếp sợ. Ấy là điềm xấu. Vận nước lên hay xuống đều ở lòng dân. Chi bằng sau chiến thắng, ta vẫn cho các quan Tây Sơn nguyên chức. Cứ mỗi trấn, tổng trấn người của ta, phó tổng trấn người Tây Sơn. Lại cho người Đàng trong Đàng ngoài kết tình thâm giao, xui gia, rể, dâu..Thế là hòa hợp hòa giải cả hai bên. Người thắng kẻ thua đều hạnh phúc.

Khiếp. Nàng mau chóng theo kịp “văn minh khai sáng” thật. Ta cứ tưởng đàn bà nước Nam đái không qua ngọn cỏ.

Nhờ ơn đức Chúa thượng. Bá Đa Lộc mới tặng thiếp triết phẩm “La Republique” của Plato.

Khuya rồi. Chuyện binh đao để ta lo. Đời ta cứ để lịch sử phán xét. Mai ta đi Xiêm cầu viện. Phi đưa gia đình ra Phú Quốc ẩn náu. Tất cả cung tần mỹ nữ của ta được phép lập gia đình với người bản xứ khỏi đợi chờ. À món canh chua cá ngát với bần quá ngon. Hôm nay ta thoát nạn nhờ con rạch bần. Từ nay ta gọi cây bần là Thuỷ Liễu. Kẻ xấu qua con rạch này ắt phải đền tội. Ánh nói bâng quơ nhưng thành lời nguyền cho đời sau.

Ánh vỗ yêu lên đôi mông căng tròn của Lan. Nàng cong cớn ôm xiết Ánh. Chúa thượng của thiếp mãnh lực vô song. Tiếng cười của nàng vỡ vụn cùng ánh trăng. Hai chiếc bóng trên sàn vờn nhau. Đến khi nhập thành một...thành một...thành một bóng. Rồi biến mất. Ánh trăng vàng tươi quét trọn căn phòng trống rỗng. 

Út Nhỏ và dân nguyên xã này chính là con cháu của các cung tần mỹ nữ Nguyễn Ánh.

Lão Tư râu cười hô hố. Đặt mạnh ly rượu xuống bàn. Tỉnh đi Bình. Ly rượu mày dừng hơi lâu. Mơ Út Nhỏ hả. Con nhà võ lại có trái tim nhà thơ. Muốn làm rể nhà tao? Con gái tao đẹp thật. Nhưng có nhiều nét khác người. Không biết mày chịu nổi không?

Trước đây, lão cưới vợ hơn mười năm mới sanh được Út Nhỏ. Khó nuôi đành gọi là út. Năm con bé bảy tuổi, lão đưa con ra phố đến tiệm bán đàn. Lão muốn mua đàn piano. Nhưng con bé cứ tần ngần trước cây đàn tranh. Rồi tiếng đàn ma mị cất lên. Thề có trời đất. Lão chưa bao giờ dạy con bé đàn. Mà lão cũng chưa nghe ai đàn hay như thế. Con bé đàn như nhập hồn. Mười ngón tay rướm máu. Mắt long lanh. Giọng liêu trai. Từng tiếng như cắt ngọt tim người.

“Xin chàng chờ em khi hoàng hôn buông. Nơi Thiên thần và Ác quỷ, trong nhập nhoạng sáng tối, quần tụ bên đống lửa không màu…”

Bình giật mình. Nhìn kỹ người đối diện. Lão cũng bô trai. Trừ cái miệng phá tướng khuôn mặt. Hàm râu xồm xoàn ngồi chồm hỗm trên đôi môi dày thâm sì to kệch. Môi lão dày như môi người da đen. Cái miệng này chắc đã nút bao tấn xi măng và sắt thép.

Tư râu quắc mắt. Mày lầm bầm nói xấu tao.

Bố nói oan. Ý con... Tướng bố oai vậy mới làm thủ kho.

Miệng mày ngọt xớt. Muốn tạm ứng vật liệu xây dựng hả. Sao không nộp đơn.

Đơn gì bố. À… Mười xấp đây.

Sau này làm rể bố. Những lần như thế này có tốn bạc không.

Tình và tiền không lẫn lộn được con ạ. Tao đang làm việc thiện ấy chứ. Một ngày không vật liệu để thi công. Mày biết phải nuôi báo cô năm mươi cái tàu há mồm hết nhiêu. Mười xấp này xá gì.

Chiếc xe tải chở sắt thép về đến lán trại mà tiếng cười hô hố của Tư râu vẫn vọng theo. Hôm nay Bình không về thành phố. Tiệc rượu ê hề chiêu đãi anh em. Bình và mười anh em thân tín chỉ uống cầm chừng. Trong đám năm mươi thợ hồ, có kẻ bất nghĩa làm ăng ten cho bọn trộm.

Một giờ sáng. Ba chiếc tắc ráng dừng giữa đầm. Rồi lặng lẽ chèo vào bờ. Hơn chục bóng người lùi lũi vào kho xi măng sắt thép. Chỉ chờ có thế, Bình với tay tắt cầu dao điện. Quân của Bình tay cầm ống sắt múa tới tấp. Bình vũ côn tam khúc. Dáng Bình khuỳnh khuỳnh cao một mét tám như Kinh Kong.

Chỉ nghe tiếng cộc cộc khô khốc vang lên giữa sắt và đầu. Trời tối kịt như lỗ đen nuốt chửng mọi ánh sáng và âm thanh. Bọn trộm há miệng tận quai hàm la hét mà chẳng phát ra âm nào. Khiếp sợ làm chúng tắt tiếng. Mặt nước đầm xanh đen đến rợn người.

Bị bất ngờ, quân trộm lên chiếc tắc ráng dông thẳng. Chúng chạy vô con rạch. Những cây bần run rẩy đong đưa trong đêm tối như hồn ma. Dân gian đồn thổi bần ở đây ngon nhất miền Tây vì hút máu người trong trận thủy chiến năm xưa. Hai giờ sáng Bình mới gom cả bọn về xã. Riêng tên đầu đảng Hai lác thoát được.

Bình minh ló dạng. Con rạch tràn ngập âm thanh hỗn mang. Xác Hai lác xập xềnh trên mặt nước. Vết đâm ngọt xớt xuyên ngay tim. Bác Hai của Út Nhỏ bỏ xác Hai lác lên xe bò kéo thẳng về huyện. Hai lác là con bác con chú với nàng. Máu từ thi thể người chết vẫn nhỏ giọt suốt đoạn đường cây số rưỡi từ xã đến huyện. Quạ đen nườm nượp kéo về. Cứ năm mét một con sà xuống hút máu rơi. Tạo thành vệt đen dài ngoằng. Dễ chừng toàn bộ quạ miền Tây đều về chia phần.

Bác Hai trưởng tộc sụt sùi nhất quyết không chịu Út Nhỏ quen Bình. Chỉ có thánh nhân mời ngồi nâng ly cùng kẻ đã giết con mình.

Toà huyện xử vụ ăn cắp vật liệu xây dựng cho tuyến đường nối liền khu công nghiệp Năm Căn. Toà bác bỏ luật sự biện hộ cho rằng Bình hạ thủ Hai lác rồi quăng xác xuống rạch. Nạn nhân trong cơn hỗn loạn, nhảy ra khỏi xuồng, tự tìm đến cái chết. Hai lác đã lặn một hơi dài. Ngực đâm vào cây cọc gỗ đầu bọc sắt chôn ở đáy rạch. Chính Nguyễn Ánh và tướng Mân đã cho lính chôn những cọc này.  Nhằm chặn đứng xuồng quân Tây Sơn vào rạch. Hai lác không qua được lời nguyền. 

Bình thở phào. Chàng quay lại nhìn Út Nhỏ. Cảm thấy ánh mắt van lơn ai đó vuốt lưng chàng. Ánh mắt của Tư râu. Lão đứng chung vành móng ngựa với bọn Hai lác. Lão bị tạm giam vì tội tiêu thụ hàng ăn cắp xi măng sắt thép. Bình vội vàng ra khỏi toà tránh ánh mắt ấy.

Tư râu thọ án. Nhà trống trải. Tiếng đàn không phá vỡ được sự cô quạnh. Nàng cố co mình trong nỗi dằn vặt. Yêu và đau, lắm khi, cắn xé nhau. Út Nhỏ nhớ Bình lại lánh xa chàng. Nàng trải lòng qua tiếng đàn.

"Sầu đong càng lắc càng đầy,

Ba thu dọn lại một ngày dài ghê."

Tiếng đàn mằn mặn nước mắt thẩm đến lán trại. Bình tự vấn hoang mang. Chàng đang cuốn hút vào một tình yêu lạ thường. Chàng yêu Út Nhỏ hay yêu ảo ảnh cung phi ngày xưa. Từ ngày yêu nhau, có khi nào Út Nhỏ nói yêu chàng. Rồi đây cuộc đời chàng là kẻ cộng sinh hay kí sinh trong cõi yêu.

Sau này tác giả có về lại Năm Căn gặp Bình và Út Nhỏ để viết truyện này. Hơn hai trăm năm, kể từ ngày đó, lần đầu tiên, con cháu Nguyễn Huệ kết duyên cùng con cháu Nguyễn Ánh. Hai người miên man trong vườn hạnh phúc. Nhưng lại không có con. Dân tình đồn rằng. Bình cũng có những giấc mơ quái lạ như Út Nhỏ. Trong mơ không biết Nguyễn Ánh nói gì mà Bình đã đi … thắt ống dẫn tinh.

Trời Năm Căn vẫn xanh veo.

THÁI BẢO

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 838)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 646)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1406)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1460)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 1254)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 1143)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3292)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 2100)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3137)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2622)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9916)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16755)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15750)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16182)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1460)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3292)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3135)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 3056)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 1254)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5258)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 7261)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6609)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 837)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 646)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1406)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2621)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2400)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2246)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2448)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2458)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 1142)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13601)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29707)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35731)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10824)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12689)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2100)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 3135)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3302)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3590)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4135)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7824)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7136)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9958)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.