- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,418,673

Thơ Tình Nguyễn Hoàng Anh Thư

08 Tháng Mười 20145:08 CH(Xem: 15010)

PhamHoaiNam 7
Ảnh Phạm Hoài Nam


Khi người đàn bà yêu

 

Người đàn ông cuộn trái tim trong vị giác của mình

nơi đầu lưỡi

có thể như vậy

đôi khi họ nuốt chửng

và quên dư vị ngọt ngào

 

Người đàn bà yêu

như những cánh tay bóc trần từng chuỗi lời nói

từ tiếng đắng cay đến ngọt mềm

 

Người đàn ông đôi khi họ như một nhà tài trợ

nhưng keo kiệt, cả lời nói

với chính ngôi nhà của mình

không một chút mảy may

người đàn bà không có vũ khí để rút ra

sự bình yên và hạnh phúc

đôi lúc đánh đổi

những ngậm ngùi chỉ mình họ biết

 

Người đàn ông không ôm trái tim của mình

họ nhờ người đàn bà giữ

người đàn ông có thể cuộn tình yêu

trong ánh mắt

như một chiếc kén tơ vàng

người đàn bà ngồi gỡ miệt mài

họ giữ lại cho mình mái tóc

bạch kim

 

Em và cánh chim thiên di

 

Đừng hỏi em về sự lựa chọn nỗi ngày

rằng cơn mê đã tan và trời nhuốm tro mây

đừng hỏi em về những hao gầy của mùa thiên di mỏi

em chẳng lựa chọn được gì ngoài nỗi nhớ di dời

 

Em lựa chọn điều gì

phận số đã định điều em không được phép nói

chỉ dõi mong đường chim di cánh mỏi

dang tay

và chờ

nỗi nhớ quay về

 

Em lại đã để quên câu hẹn thề

dưới ánh trăng tròn mười sáu

nỗi buồn di trú dưới phố khuya nương náu

thiền nguyện một màu nâu trầm sâu tựa đất mẹ âu sồng

chúng mình lại chơi trò tập tầm vông

chẳng tay có không cho duyên trần đùa cợt

em lựa chọn vào người và đánh cược

bằng nỗi buồn trống không

 

Em lựa chọn gì về những điều mênh mông

cơn mê đã tan và màu tro mây đã lãng ?

 

Nỗi nhớ dùng dằng

 

Em dùng dằng về đường gân trên cánh trầu không

đường gần nỗi xa gập khúc

tiếng xình xịch trên toa tàu thở gấp

đường gòong chớm quẹo ngang

 

Anh và em

chẳng đồng mức nhau về khớp nối

cứ gập ghềnh tháng năm những toa tàu chở kẻ đi người ở

mà không có anh, không có em, không có nỗi trăn trở mất nhau

 

Ừ, cũng tại vì mình nghĩ trong nhau

nên toa tàu mãi rỗng không như thế

và anh

bộn bề đường cắt

dọc thân tàu

 

Chiều,

đường rây mắc cửi

sân ga có một kẻ mang nỗi nhớ dùng dằng

gửi vào toa tàu rỗng

 

Một cọng gió nhỏ

 

Sóng sườn một cơn dông

bỏ mặc lá

vần vũ khúc dạo đầu buổi sáng

trong chiếc va li đã cũ sờn nỗi nhớ

chúng ta đã để lại trên đường

 

Đi qua cọng cây nhỏ

đó là suy nghĩ của tôi vắt vẻo nằm trên ngọn cùng của gió

như thể một lời bỏ mặc

như lá

im bặt

âm ỉ cầu siêu

 

Tôi hát khúc rã ngày cuối hạ

ngửa mặt đợi bình minh sương

 

Tôi hát về cuối đoạn đường

đợi nhìn cành mây ngoảnh lại

dù bơ phờ chớm vương

 

Tôi đi qua cọng gió nhỏ, thêm một lần nữa

cọng vuốt nỗi buồn từ mùa trước

rằng lá đã đi thật xa

 

Tôi nhìn con đường

về phía chiếc va li cũ sờn

hình dung về đống phế tích

chẳng tự hủy được mình

 

Tôi nhìn về phía em

xếp hàng với nỗi buồn

một cọng gió nhỏ

vuốt ve mùa thu

 

Những ngày Huế và mưa

Người nghĩ về những chuyến đò qua sông

Nghe tiếng thở dài sóng nước

Giấc ngủ đã đến thăm một chiều phố bước

Những trò chơi đứng lớ ngớ mùa mưa

Cuộc đời người lắm nỗi hơn thua

Giãy giụa nổi trôi như kiếp lục bình tím buốt

Những di tích gợn một ngày đen đúa

Trong váng nước màu tro

Những cuộc hẹn theo chân bước mù lòa

Chiêm ngưỡng mùi phố thị

Con đường đi như giữa chừng mộng mị

Nhưng “Huế xin hãy chờ”(*) và ao ước phố mưa

Bong bóng vỡ tung chạm thành nửa mắt bùa

Xỉn mờ gương mặt phố quen hơn nửa

Lạ cả lời nói ngày mưa góa bụa

Nhuộm kí ức kín một màu buồn

Mưa da diết giữa lưng chừng phố Huế

Những chuyến dòng dạt tấp đôi bờ

Những điệu hò nghe vừa xa mấy bước

Neo nhịp phách bỗng chùng lại bước chân

Tiếng mái dầm về đâu mà khuya thế

Huế đó sao? khua mãi cứ rì rào

* Lời trong “Huế mà ta sẽ trở lại” của Nguyễn Xuân Hoàng

Huế, ngày 14.9.2014

 

 

Mùa buồn

 

Mùa cảm khái đan từng vòm chia sẻ

Thương nắng mưa lận đận mấy vòng duyên

Tháng năm cứ loay hoay tìm cổ tích

Cứ đêm đêm mộng mị lãng giọng nguyền

 

Lá cũng thế dường như vàng vọt gió

Thương mùa thu rụng đắng cả góc vườn

Sáng nay mùa đong đưa trên sợi tóc

Níu kéo chi một chút tình vong niên

 

Những cuộc buồn về đâu xa xa lắm

Nghe giấc xưa niêm dấu dưới chân mùa

Những cuộc buồn về đâu chênh chênh lắm

Nghe tiếng thở thật quen đang trở mình

 

Và người ơi buồn bất tận ngõ đồng

Có cô em nhìn mùa đi tất tả

Có cô em chờ khai sinh phận lá

Tháng chín mùa cay cay lắm mắt dông

 

Mùa đong đếm từng ngày qua như thể

Rút đường gân cô quạnh lá đương xanh

Nghe rụng vỡ một điều gì xa ngái

Sương vừa lăn qua một thế kỉ buồn

 

Em tách sóng rời bể xanh vô tận

Đừng rì rào câu chuyện của lãng quên

 

 

Tháng chín và em

 

Mùa thu lẻn vào mái tóc

và em, tháng chín buồn

hoàng hôn đượm màu vàng gió

chải chuốt tháng năm trắng dọc đường ngôi

tháng chín mùa thu chẳng mới

mùi xạ hương cay hốc mũi

chảy trên đỉnh mù sương

 

Mùa thu nào cho em

một ngày sinh cuối tháng

để mưa mãi trầm ngâm phận hạt

chờ mãi nụ mầm xanh ?

 

Tháng chín cầm giấc mơ trưa lóng lánh

nắng chẳng tràn kẽ tay

để em nắm

dù chỉ thoáng như mây đưa tóc nhánh

giữ lại em tuổi bồng bềnh trôi

 

Tháng chín và em

chờ nhau giữa đỉnh sương mềm

và đong đầy phận hạt

 

 

 NGUYỄN HOÀNG ANH THƯ

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 939)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 4019)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
16 Tháng Hai 20204:43 CH(Xem: 131)
Người dân Vũ Hán thảm sầu / Một trời ú ám nhuộm màu thê lương / Xuân về phủ kín màn sương / Khắp nơi phong tỏa, phố phường vắng tanh
16 Tháng Hai 20204:21 CH(Xem: 115)
hãy kéo dài nụ hôn che lấp tiếng cười / để bước chân người trôi nhẹ / khuôn mặt sẽ mờ theo ngày mưa vỡ / nghìn trùng thanh xuân trong đôi mắt nàng Thơ
16 Tháng Hai 20203:57 CH(Xem: 114)
Việt tộc, nếu tính từ khi lập quốc tại Phong Châu, trong vài ngàn năm tiến về phương Nam, hiện tiếp tục ra đi tới khắp các nẻo đường thế giới, đã tiếp cận hầu hết các nền văn minh nhân loại. Từ hậu Lê, suốt 500 năm biến động đầy sóng gió, với tình hình hiện nay, có thể xem như chúng ta đang ngày càng rời xa khỏi đạo thống Tiên Rồng trải từ thời Hùng Vương đến hai triều đại Lý-Trần, giờ lại còn bị đe dọa tiêu diệt bởi chủ thuyết Mác-Lê. Việt Nam tuy được xem như đã hội tụ hầu hết các tôn giáo và các nền văn minh lớn trên thế giới (Phật, Lão, Khổng, Cơ đốc; Hoa, Ấn, Tây), chúng ta vẫn chưa định hình được một nền văn hoá đặc thù làm nền tảng nhằm thoát Trung, bỏ Cộng để xây dựng đất nước.
16 Tháng Hai 20203:47 CH(Xem: 134)
Khởi đầu một năm mới đầy biến động, trước anh linh người vừa khuất tôi xin được dâng lên lời cầu nguyện. Nguyện cho mỗi chúng ta từ nay sẽ không là kẻ vô can và ngưng đóng vai khán giả. Bởi tất cả chúng ta dù đang ở vị trí nào hay sinh sống ở nơi đâu đều gắn kết cùng nhau chung một số mệnh - Số mệnh của dân tộc Việt Nam.
13 Tháng Hai 20207:42 CH(Xem: 338)
khi người thức đợi bóng trăng / có con bướm nhỏ / chợt ngần ngại bay / tơ trời theo gió nhẹ lay / để em kết lại / nối ngày thành đêm...
08 Tháng Hai 202012:06 SA(Xem: 605)
Ở xứ người Phan có lạnh không Phan / Chắc quanh năm hiếm gặp nắng vàng / Ở nơi ấy có con trăng mười sáu / Cả nỗi buồn chưa kịp quá giang /
07 Tháng Hai 202011:53 CH(Xem: 481)
đôi mắt mỏi mệt không thể nhìn xuyên đêm / bóng đêm làm chúng ta mù lòa / hãy im lặng như thiền sư ngồi nghe tiếng côn trùng / nhớ lại đêm trừ tịch / chờ nghe tiếng thú đầu tiên mừng năm mới / ở đây ta chẳng nghe gì cả / trên cao độ của ngọn đồi chỉ có tiếng mưa rỉ rả / ngôn ngữ của im lặng /
26 Tháng Giêng 20203:45 CH(Xem: 1061)
Đường phố Sapa chìm trong thứ ánh sáng mờ ảo của đèn cao áp lẫn sương mù. Thỉnh thoảng có một hai khách du lịch trở về khách sạn, hoặc một đôi nam nữ Dao đỏ đứng tự tình bên gốc cây. Khí lạnh từ trên đỉnh Fanxipan tràn về thung lũng từng đợt. Hắn hơi co ro, khép chặt lại cổ áo. Hắn đi, lúc thì như người mộng du, lúc thì ra người như cố ý tìm kiếm một ai đó.