- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,484,307

Thơ Tình Nguyễn Hoàng Anh Thư

08 Tháng Mười 20145:08 CH(Xem: 16326)

PhamHoaiNam 7
Ảnh Phạm Hoài Nam


Khi người đàn bà yêu

 

Người đàn ông cuộn trái tim trong vị giác của mình

nơi đầu lưỡi

có thể như vậy

đôi khi họ nuốt chửng

và quên dư vị ngọt ngào

 

Người đàn bà yêu

như những cánh tay bóc trần từng chuỗi lời nói

từ tiếng đắng cay đến ngọt mềm

 

Người đàn ông đôi khi họ như một nhà tài trợ

nhưng keo kiệt, cả lời nói

với chính ngôi nhà của mình

không một chút mảy may

người đàn bà không có vũ khí để rút ra

sự bình yên và hạnh phúc

đôi lúc đánh đổi

những ngậm ngùi chỉ mình họ biết

 

Người đàn ông không ôm trái tim của mình

họ nhờ người đàn bà giữ

người đàn ông có thể cuộn tình yêu

trong ánh mắt

như một chiếc kén tơ vàng

người đàn bà ngồi gỡ miệt mài

họ giữ lại cho mình mái tóc

bạch kim

 

Em và cánh chim thiên di

 

Đừng hỏi em về sự lựa chọn nỗi ngày

rằng cơn mê đã tan và trời nhuốm tro mây

đừng hỏi em về những hao gầy của mùa thiên di mỏi

em chẳng lựa chọn được gì ngoài nỗi nhớ di dời

 

Em lựa chọn điều gì

phận số đã định điều em không được phép nói

chỉ dõi mong đường chim di cánh mỏi

dang tay

và chờ

nỗi nhớ quay về

 

Em lại đã để quên câu hẹn thề

dưới ánh trăng tròn mười sáu

nỗi buồn di trú dưới phố khuya nương náu

thiền nguyện một màu nâu trầm sâu tựa đất mẹ âu sồng

chúng mình lại chơi trò tập tầm vông

chẳng tay có không cho duyên trần đùa cợt

em lựa chọn vào người và đánh cược

bằng nỗi buồn trống không

 

Em lựa chọn gì về những điều mênh mông

cơn mê đã tan và màu tro mây đã lãng ?

 

Nỗi nhớ dùng dằng

 

Em dùng dằng về đường gân trên cánh trầu không

đường gần nỗi xa gập khúc

tiếng xình xịch trên toa tàu thở gấp

đường gòong chớm quẹo ngang

 

Anh và em

chẳng đồng mức nhau về khớp nối

cứ gập ghềnh tháng năm những toa tàu chở kẻ đi người ở

mà không có anh, không có em, không có nỗi trăn trở mất nhau

 

Ừ, cũng tại vì mình nghĩ trong nhau

nên toa tàu mãi rỗng không như thế

và anh

bộn bề đường cắt

dọc thân tàu

 

Chiều,

đường rây mắc cửi

sân ga có một kẻ mang nỗi nhớ dùng dằng

gửi vào toa tàu rỗng

 

Một cọng gió nhỏ

 

Sóng sườn một cơn dông

bỏ mặc lá

vần vũ khúc dạo đầu buổi sáng

trong chiếc va li đã cũ sờn nỗi nhớ

chúng ta đã để lại trên đường

 

Đi qua cọng cây nhỏ

đó là suy nghĩ của tôi vắt vẻo nằm trên ngọn cùng của gió

như thể một lời bỏ mặc

như lá

im bặt

âm ỉ cầu siêu

 

Tôi hát khúc rã ngày cuối hạ

ngửa mặt đợi bình minh sương

 

Tôi hát về cuối đoạn đường

đợi nhìn cành mây ngoảnh lại

dù bơ phờ chớm vương

 

Tôi đi qua cọng gió nhỏ, thêm một lần nữa

cọng vuốt nỗi buồn từ mùa trước

rằng lá đã đi thật xa

 

Tôi nhìn con đường

về phía chiếc va li cũ sờn

hình dung về đống phế tích

chẳng tự hủy được mình

 

Tôi nhìn về phía em

xếp hàng với nỗi buồn

một cọng gió nhỏ

vuốt ve mùa thu

 

Những ngày Huế và mưa

Người nghĩ về những chuyến đò qua sông

Nghe tiếng thở dài sóng nước

Giấc ngủ đã đến thăm một chiều phố bước

Những trò chơi đứng lớ ngớ mùa mưa

Cuộc đời người lắm nỗi hơn thua

Giãy giụa nổi trôi như kiếp lục bình tím buốt

Những di tích gợn một ngày đen đúa

Trong váng nước màu tro

Những cuộc hẹn theo chân bước mù lòa

Chiêm ngưỡng mùi phố thị

Con đường đi như giữa chừng mộng mị

Nhưng “Huế xin hãy chờ”(*) và ao ước phố mưa

Bong bóng vỡ tung chạm thành nửa mắt bùa

Xỉn mờ gương mặt phố quen hơn nửa

Lạ cả lời nói ngày mưa góa bụa

Nhuộm kí ức kín một màu buồn

Mưa da diết giữa lưng chừng phố Huế

Những chuyến dòng dạt tấp đôi bờ

Những điệu hò nghe vừa xa mấy bước

Neo nhịp phách bỗng chùng lại bước chân

Tiếng mái dầm về đâu mà khuya thế

Huế đó sao? khua mãi cứ rì rào

* Lời trong “Huế mà ta sẽ trở lại” của Nguyễn Xuân Hoàng

Huế, ngày 14.9.2014

 

 

Mùa buồn

 

Mùa cảm khái đan từng vòm chia sẻ

Thương nắng mưa lận đận mấy vòng duyên

Tháng năm cứ loay hoay tìm cổ tích

Cứ đêm đêm mộng mị lãng giọng nguyền

 

Lá cũng thế dường như vàng vọt gió

Thương mùa thu rụng đắng cả góc vườn

Sáng nay mùa đong đưa trên sợi tóc

Níu kéo chi một chút tình vong niên

 

Những cuộc buồn về đâu xa xa lắm

Nghe giấc xưa niêm dấu dưới chân mùa

Những cuộc buồn về đâu chênh chênh lắm

Nghe tiếng thở thật quen đang trở mình

 

Và người ơi buồn bất tận ngõ đồng

Có cô em nhìn mùa đi tất tả

Có cô em chờ khai sinh phận lá

Tháng chín mùa cay cay lắm mắt dông

 

Mùa đong đếm từng ngày qua như thể

Rút đường gân cô quạnh lá đương xanh

Nghe rụng vỡ một điều gì xa ngái

Sương vừa lăn qua một thế kỉ buồn

 

Em tách sóng rời bể xanh vô tận

Đừng rì rào câu chuyện của lãng quên

 

 

Tháng chín và em

 

Mùa thu lẻn vào mái tóc

và em, tháng chín buồn

hoàng hôn đượm màu vàng gió

chải chuốt tháng năm trắng dọc đường ngôi

tháng chín mùa thu chẳng mới

mùi xạ hương cay hốc mũi

chảy trên đỉnh mù sương

 

Mùa thu nào cho em

một ngày sinh cuối tháng

để mưa mãi trầm ngâm phận hạt

chờ mãi nụ mầm xanh ?

 

Tháng chín cầm giấc mơ trưa lóng lánh

nắng chẳng tràn kẽ tay

để em nắm

dù chỉ thoáng như mây đưa tóc nhánh

giữ lại em tuổi bồng bềnh trôi

 

Tháng chín và em

chờ nhau giữa đỉnh sương mềm

và đong đầy phận hạt

 

 

 NGUYỄN HOÀNG ANH THƯ

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 705)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 7309)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
02 Tháng Tám 20184:54 CH(Xem: 9037)
Phan Nhật Nam cũng là bút hiệu, Rốc là tên gọi ở nhà; sinh ngày 9/9/1943, tại Phú Cát, Hương Trà, Thừa Thiên, Huế; nhưng ngày ghi trên khai sinh 28/12/1942, chánh quán Nại Cửu, Triệu Phong, Quảng Trị. / 1954-1960 tiểu học Mai Khôi Huế; Saint Joseph Đà Nẵng; trung học Phan Chu Trinh Đà Nẵng / 1963-1975 tốt nghiệp Khoá 18 Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, gia nhập binh chủng Nhảy Dù, qua các đơn vị Tiểu Đoàn 7, 9, 2, và Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù; Tiểu Khu Bà Rịa Long An; Biệt Động Quân; Ban Liên Hợp Quân Sự Trung Ương 4 và 2 Bên.
06 Tháng Bảy 20153:00 SA(Xem: 4013)
Ngày 4/7/1407, tại Kim Lăng, kinh đô đầu tiên của Đại Minh từ 1368 tới khoảng năm 1421, Chu Lệ hay Đệ [Zhou Li] miếu hiệu Thành Tổ (Ming Zhengzu, 17/7/1402-22/8/1424) họp triều thần, chấp thuận lời xin của “1120” kỳ lão xứ Giao Châu [An Nam] hơn hai tháng trước là “con cháu nhà Trần đă chết hết không người thừa kế…. Giao Châu là đất cũ của Trung Hoa xin đặt quan cai trị, để sớm được thánh giáo gột rửa thói tật man di.” (1) Hôm sau, 5/7/1407, Chu Lệ ban chiếu thành lập “Giao Chỉ Đô Thống sứ ti” [Jiaozhi dutong tusi], một đơn vị quân chính cấp phủ hay tỉnh [Provincial Commandery]. (2) Và, như thế, sau gần 500 năm tái lập quốc thống dưới tên Đại Việt—hay An Nam, từ 1164/1175—nước Việt trung cổ tạm thời bị xóa tên.
23 Tháng Chín 20202:10 SA(Xem: 256)
Bà Phước đang nằm dài trên nền xi măng, la lối om sòm “Trả tiền cho tao, tao có mấy trăm tiền già mà tụi nó cũng lấy hết của tao!” Hai anh chàng nhân viên cứu thương ngỡ ngàng không hiểu bà Phước bị làm sao. Hương mở lời: -Tôi là y tá của bà, để tôi coi có chuyện gì.
23 Tháng Chín 20201:27 SA(Xem: 120)
Sau em / sẽ có những người con gái khác / làm thơ cho anh / và nói yêu anh / Anh sẽ yêu họ / trái tim nguyên lành / lãng mạn / Nhưng sẽ không có ai / chép cho anh / những bài thơ của anh / trên giấy / trong ngực
23 Tháng Chín 20201:16 SA(Xem: 149)
trăng đã lặng thủy đã chờ nguyệt tận / mây bay rồi tôi cũng ngẫn ngơ trăng / thủy là nước trăng đã soi đáy nước / tôi gọi thầm thủy thủy giữa tơ măng
15 Tháng Chín 202011:54 CH(Xem: 417)
Vô cùng thương tiếc khi nhận được tin Chủ Nhiệm sáng lập của Tạp chí Hợp Lưu (1990) Nhà Văn Nhật Tiến / Vừa tạ thế ngày 14 tháng 9, 2020 / (tức 27 tháng 7 năm Canh Tý),tại thành phố Irvine, Nam California, Hưởng thọ 84 tuổi./ Xin chân thành chia buồn cùng tang quyến / Nguyện cầu Hương Linh / Nhà văn Nhật Tiến / sớm được tiêu diêu nơi miền Cựu Lạc.
15 Tháng Chín 20201:02 SA(Xem: 626)
Truyện của Phan Nhật Bắc là bức tranh về “giao thời” ở miền Nam sau 1975, “Tôi Đi Tìm Trầm” gần như một “tự truyện” lời lẽ bộc trực không triết lý lừa mị. Với lối viết mộc mạc nhưng gần gũi và sâu sắc của tác giả đã đưa chúng ta qua từng câu chuyện, từ mạo hiểm tìm Trầm, đổi tiền, buôn thuốc Tây, đến vượt biên tìm tự do… đọc truyện của anh, như xem lại cuốn phim mà trong đó thấp thoáng bóng dáng một phần đời của chính mình trong quá khứ.
12 Tháng Chín 20204:38 CH(Xem: 532)
Những người lính đáng thương này / Phải đối diện với mặt trận thành phố / Từ rừng rú họ được đưa về thủ đô / Để bảo vệ trấn an những con người kêu gào chiến tranh / nhưng chính họ lại đứng bên ngoài cuộc chiến / Và người lính bỗng dưng biến thành con thú cô đơn / ngơ ngác giữa Mặt Trận Ở Sài Gòn