- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

HẬN LÒ ĐƯỜNG

30 Tháng Sáu 201412:00 SA(Xem: 65235)

 


nguyenhoangnam-lamdong-content

 Ảnh Nguyễn Hoàng Nam



LTS: Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu, nhà văn Lê Minh Nhựt đang sống và làm việc tại Cà Mau Việt Nam. Chúng tôi hân hạnh giới thiệu truyện ngắn "Hận Lò Đường" của tác giả Lê Minh Nhựt đến cùng quí văn hữu cùng bạn đọc Hợp Lưu.

TCHL



Ông nội của Tư Giáo có một thời làm Chủ ấp của ấp Cây Giá nên thường được gọi là ông Chủ Giá. Ông Chủ Giá sở hữu một lò đường ngay doi Ma, không có bảng hiệu nên người ta đặt tên luôn là lò đường Chủ Giá.

Đất đai ở ấp Cây Giá không trồng trọt được thứ gì. Trồng cây ăn trái thì lèo đèo lẹt đẹt mấy trái cam nhỏ hơn trái chanh mà chua lét; cây dừa là loại dễ tính cũng chẳng lớn lao gì nổi, còi cọc dần mòn rồi rũ đọt khi chưa kịp ra buồng. Chỉ có trồng mía là tốt. Ấp Cây Giá nhìn đâu cũng thấy bóng dáng cây mía: trong vườn, ngoài ruộng, cặp mé sông…cả trước nhà cũng trồng mía thay cho hàng rào quanh sân.

Nhờ vậy, lò đường Chủ Giá có mía để ép quanh năm suốt tháng. Những lúc đông ken ép không kịp, mía chất đống ngoài bãi; lớp đâm tược mọc thành cây, lớp trở mình lên men nồng nặc cả xóm.

 

Tư Giáo vẫn nhớ như in một buổi chiều năm 1959.

Đâu chừng chạng vạng, cánh khuân vác ráng lên hết ghe mía cuối cùng thì nghe có tiếng tàu sắt ầm ầm chạy ngang. Được chừng năm phút sau thì đám mía hai chục công bên sông của chú Sáu Dân phát hỏa; kế đến, tất cả các ruộng mía phía bên sông đối diện lò đường cũng đồng loạt cháy rừng rực. Gần nửa tiếng sau thì tàu sắt chạy về, tàu chạy đến đâu ruộng mía bắt lửa cháy theo tới đó. Lính tráng trên tàu dùng súng phun lửa phun liên tục lên bờ. Sự việc xảy ra trong chớp nhoáng, tới chừng hay được thì cả ấp cây Giá đã trở thành một biển lửa. Ruộng mía chưa kịp đánh lá; còn thứ gì bắt lửa ngon bằng lá mía khô. Tàu cập vô doi Ma, lính tráng ùa lên bao vây cả khu vực lò đường. Thiếu tá Quảng “chó điên” từ mũi tàu vừa bước xuống đã giáng thẳng ma trắc vô đầu một người khuân vác gần đó để thị uy. Tư Giáo năm đó được mười lăm tuổi, thấy máu tuôn xối xả, sợ quá bèn chui vô đống xác mía bên hè để trốn.

Sau khi chùi máu dính trên cây ma trắc, thiếu tá Quảng gầm lên:

- Thằng Chủ Giá đâu! Bò ra đây cho tao coi!

Ông nội của Tư Giáo mặt chuyển sang đỏ bầm, từ từ quỳ hai chân chống hai tay xuống đất bò từ cửa lò đường bò ra chỗ thiếu tá Quảng. Tới chỗ thiếu tá Quảng thì mặt ông Chủ Giá đã chuyển sang màu tái, từng thớ cơ trên mặt ông cứ giật giật liên hồi. Lúc ông nội bò ngang, Tư Giáo ở trong chỗ nấp còn nghe tiếng ông nghiến răng trèo trẹo.

Thiếu tá Quảng ngồi trên bó mía cao ngất chắn ngang trước sân, sau tràng cười sằng sặc như đang lên cơn điên, hắn nhịp nhịp cây ma trắc và rít qua kẽ răng:

- Nghe kỹ nè ông già, ấp Cây Giá kể từ nay không được trồng mía nữa. Trồng mía là làm ổ cho Việt Cộng ém, là chống lại Quốc gia. Phải đốt hết. Còn cái lò đường của ông, dẹp đi. Ai mà biết trong mấy thằng làm công cho ông không có Việt Cộng nằm vùng? Nể tình ông từng làm chủ ấp nên tui mới xử lý như vậy chớ nếu không thì đã xài cái đó rồi…

Thiếu tá Quảng trỏ cây ma trắc xuống dưới sông về phía chiếc tàu sắt đậu, qua ánh lửa của ruộng mía đang cháy rần rật người ta nhìn thấy một vật hình thù kỳ dị đang chập chờn uốn éo, được đặt chính giữa boong tàu: Nó trông giống một chiếc bàn nhổ mạ nhưng dài và chân thì thấp hơn, một đầu dính với hai cây cột song song vươn lên trời. Lửa lan tới con kinh bên hông lò đường, hắt lên vật đó và nhảy múa trên một lưỡi búa khổng lồ sáng loáng được treo cao chính giữa hai cây cột. Máy chém!

Thiếu tá Quảng có máu điên nên được người ta đặt cho biệt danh là Quảng “chó điên”. Chó điên bạ đâu cũng cắn còn thiếu tá Quảng đi tới đâu là bắn giết, đốt phá tới đó, tới khi nào thấy máu mới hả dạ. Đến ngay ông Sáu Dân là ông già ruột, Quảng “chó điên” còn cho lính còng tay đem về quận giam cả tuần lễ ngoài đó, nữa là…

Cả lò đường trừ cánh lính của thiếu tá Quảng, còn lại hơn chục con người làm thuê cho lò đường chẳng ai dám hé răng nửa lời. Lúc này lửa đã cháy đến sát lò đường, nhờ xung quanh có mấy mương nước ngăn lại nếu không chắc lò đường đã cháy ra tro. Lửa vây ba phía chỉ chừa có mặt trước, tức mặt sông. Trời lặng gió nên lửa bốc cao ngọn, liếm thẳng lên trời soi tỏ từng gương mặt đầm đìa mồ hôi. Tất cả trông giống như đang bị nhốt trong hỏa ngục.

Dường như hỏa ngục đã lại làm thiếu tá Quảng sôi máu chó điên lên thêm chút nữa. Hắn không nhìn ông Chủ Giá nữa mà nhìn vào lửa. Không biết bao lâu, hắn mới nhảy từ đống mía xuống chỗ ông Chủ Giá vẫn còn đang quỳ dưới đất. Mắt thiếu tá Quảng đỏ quạch một màu lửa. Một tay túm tóc, tay kia dùng ma trắc nâng cằm ông Chủ Giá lên. Giọng hắn âm u như vọng về từ cõi a tỳ:

- Tui đổi ý rồi, ông già. Tất cả phải tham gia vào trò chơi mới. Không những ấp Cây Giá không được trồng mía, lò đường phải dẹp mà cả ông và tụi làm thuê cho ông nữa…tất cả…

Quảng “chó điên” bỏ lửng câu nói, nhìn về phía tụi lính hất hàm ra hiệu rồi trỏ vào phía trong lò đường. Trong tốp lính có hai thằng bước vào, lát sau ì ạch khiêng ra một chảo đường sền sệt đang sôi ùng ục đặt xuống trước mặt ông Chủ Giá.

Người đầu tiên tham gia “trò chơi” của thiếu tá Quảng chính là người khuân vác ban nãy bị đánh một cây ma trắc vào đầu. Hai thằng lính khiêng chảo đường giờ đè chặt người này xuống đất. Thiếu tá Quảng lấy cái muỗng sắt, múc đường từ trong chảo ra cứ thế mà rót thẳng lên mình người ta. Rót hết muỗng đường thiếu tá Quảng đếm: Một! Hai thằng lính buông tay ra. Người bị đè dưới đất vùng bật lên vừa chạy vừa la làng và chạy thẳng ra mé sông, phóng xuống nước.

Hai. Ba. Bốn….Bảy. Tám. Chín… Mười một. Mười hai. Thiếu tá Quảng đếm tới Mười Hai thì có mười hai người bị rót đường lên người và phóng xuống sông.

Tiếng “mười hai” vừa rời khỏi miệng thiếu tá Quảng thì ông Chủ Giá đột nhiên bật dậy, gầm lên: Quảng chó điên! Mày không phải là con người. Tao liều mạng với mày! Ông già sáu mươi lăm tuổi lao về phía thiếu tá Quảng với cây đòn xóc nhọn hoắc không biết chụp được ở đâu trong lúc đang quỳ dưới đất. Quảng “chó điên” kịp né người qua một bên, cây đòn xóc đâm vào cánh tay đang cầm muỗng sắt để rót đường. Tụi lính bu lại đè chặt ông Chủ Giá xuống đất đấm đá liên tục. Quảng “chó điên” rút súng ra bắn chỉ thiên, nạt lớn:

- Tụi bây tránh chỗ khác, không biết nhẹ tay với người già cả sao?

Mặc chỗ cánh tay bị cây đòn xóc ban nãy đâm vào máu còn đang chảy ròng ròng ướt cả một bên tay áo, thiếu tá Quảng đến bên cạnh ông Chủ Giá đang thở thoi thóp dưới đất. Chân đạp lên mình ông, tay trái thì giật ngược đầu ông già hướng về phía lò đường:

- Nghe nói lò đường của ông nấu đường ngon nhứt vùng này, bữa nay thử coi ông có bí quyết gì không. Chắc là trong thịt da, xương cốt của ông cũng có đường ở trỏng. Tụi bây khiêng ông già này vô trong cho tao!

Sau tiếng thét của thiếu tá Quảng “chó điên”, tụi lính hè nhau khiêng ông Chủ Giá vô phía trong. Tư Giáo chỉ nghe đánh “sầm” một tiếng, giống như có tiếng vật gì rơi xuống mặt ao vừa tát cạn nước, đầy sình non.

Tư Giáo biết, phía trong lò đường có gần một trăm chiếc chảo sắt khổng lồ chiếc nào chiếc nấy đầy nhóc đường chảy, đang sôi sùng sục.

***

Thiếu tá Quảng “chó điên” chết vào cuối năm 1961. Không phải bởi đội “Diệt ác” của ấp Cây Giá.

Tuy rằng Quảng bị bắt sống tại nhà vợ bé của hắn ở cuối ấp lúc nửa đêm bởi đội “Diệt ác” nhưng sau đó đã bị giải vô Cứ chuẩn bị đưa ra xét xử trước nhân dân.

Khoảng bốn giờ sáng, người canh gác phát hiện Quảng đã biến mất khỏi nơi giam giữ. Hắn bị trói gô quăng dưới một căn hầm bí mật – nơi mà chỉ có Lãnh đạo Cứ với các đội viên đội “Diệt ác” biết. Khả năng Quảng tự cởi trói và trốn khỏi hầm là hoàn toàn không thể, bởi một bên đùi hắn đã bị thương khá nặng do chống trả trước khi bị bắt. Xung quanh còn vương vãi dây trói bị cắt dứt bằng dao. Vậy là có người giúp đỡ hắn trốn thoát. Trong Cứ có nội gián?

Với một bên đùi bị thương thì chắc chắn Quảng “chó điên” chưa thể đi xa, trừ phi có người giúp đỡ. Muốn ra khỏi Cứ thì chỉ có một con đường đó là đường sông. Đường sông thì làm sao thoát khỏi các chốt chặn. Lãnh đạo Cứ khẳng định: Quảng vẫn còn ở đâu đó trong Cứ.

Do khẳng định Quảng vẫn còn ở Cứ nên người ta cứ quần đi quần lại từng gốc cây, kênh rạch, căn hầm trong Cứ mà quên mất có một cái lò đường bỏ hoang tuy không nằm trong Cứ nhưng cách đó không xa là mấy. Tới sáng bét, khi ai nấy đều đã mệt phờ râu thì được tin báo là phía lò đường có ai đó đốt khói lên nghi ngút. Lát sau, nghe có tiếng tàu sắt mở hết tốc lực chạy vô rồi dừng ở chỗ lò đường bỏ hoang. Trưa một chút, có tin ngoài quận: quân cảnh đang đồn rần thiếu tá Quảng bị Việt Cộng đưa vô chảo nấu đường để trả thù. Lúc đem thiếu tá Quảng xuống tàu thì thấy giống như một con rùa bị lật ngửa, chỉ ló cái đầu với hai tay hai chân ra bên ngoài, còn khúc mình ngập trong chảo đường đã đặc cứng, không sao cạy đem ra được.

Tin còn nói thêm là, trên tường lò đường có dòng chữ ghi bằng máu: “Lễ tế ông Chủ Giá”.

Cả Cứ cùng dân ấp Cây Giá tới đó mới bật ngửa, chạy đi kiếm Tư Giáo. Từ lúc phát hiện Quảng mất tích cho đến trưa không ai thấy bóng dáng Tư Giáo – đội viên đội “Diệt ác” ở đâu.

Cuối ấp Cây Giá, vợ bé của thiếu tá Quảng đau bụng đẻ vào xế chiều.

Sau vụ thiếu tá Quảng, ngoài quận tung lính vô bình định ấp Cây Giá. Ấp Cây Giá trở thành vùng trắng, tự do trút xả bom đạn. Chịu không nổi, cả ấp rút hết vô sâu trong Cứ. Đến sau tiếp thu, dân ấp Cây Giá mới lục tục kéo nhau về chốn cũ. Hầu như nhà nào còn người thì cũng về lại đất của mình, không còn đủ cây cối để cất một căn nhà tươm tất thì cũng phải ráng dựng một căn chòi, trên nền nhà cũ.

Chỉ có chỗ lò đường bỏ hoang giờ vẫn còn là một đống gạch vụn, nằm vun lên như một nấm mồ, lạnh ngắt.

***

Nghe nói ở phía dưới hạ lưu sông Cái xưa kia có một cái doi gọi là doi Ma vì thời chiến tranh giặc giã, có nhiều thây ma thường trôi tấp vào. Sau này sông Cái đổi dòng xoáy thẳng vô doi, doi Ma biến thành vịnh.

Vừa qua khúc cua của con sông, vịnh đã bất thần hiện ra. Không quen đường, đôi khi tài công giật bắn cả mình vì hình thù của nó trông giống như vết ngoạm cật lực của một con cá mú khổng lồ trong lúc giận dữ. Mỗi khi nước ròng, vịnh phơi ra lô nhô những gạch vụn, đá tảng bám đầy rêu xanh rờn. Bãi đá này mỗi khi nước lớn lại trở thành một cái bẫy ngầm cực kỳ nguy hiểm cho tàu bè, xuồng ghe qua lại. Đã có không biết bao vụ tai nạn xảy ra chỗ cái vịnh này. Dân đi đường sông gọi nơi đây là vịnh Đá Ngầm.

 Phía trên vịnh Đá Ngầm, sát chỗ bực sông lở, xuất hiện một căn chòi. Dân ấp Cây Giá không biết nó được dựng lên từ khi nào, nhưng khi phát hiện ra, người này hỏi người kia thì ai nấy cũng đều ngơ ngác. Thây kệ, chỗ đó vô chủ từ lâu, trước sau gì cũng bị văng xuống dưới sông. Quan tâm làm gì! Phía trước chòi, có cột một chiếc tam bản nhỏ. Cứ tầm bốn năm giờ sáng, một người đàn ông trên dưới năm mươi tuổi từ trong chòi bước ra, mở dây cột chiếc tam bản. Trước khi bơi ra sông, người đàn ông này còn nói vọng trở vô căn chòi tối om: Tui đi thăm lú nghen ông Tư! Chiếc tam bản bơi lòng vòng trên sông một hồi trở lại chỗ căn chòi đúng lúc mặt trời vừa lên trên biền dừa nước chừng nửa con sào. Người đàn ông ban sớm giờ bước lên căn chòi với một chiếc can nhựa nằng nặng cộng với tiếng búng lách chách của mớ tôm hay mớ cá trong đó. Từ khoảng chín giờ trở đi đến xế trưa là thời gian người đàn ông ngâm mình dưới bến. Y chỉ làm có mỗi việc: Mò mẫm từng viên gạch dưới nước và cọ rửa từng viên một cho đến khi sạch hết mớ rong rêu bám xung quanh và thảy lên bờ. Thỉnh thoảng trong chòi cũng vọng ra tiếng ho húng hắng của một ai đó mà người đàn ông gọi bằng “ông Tư”, nhưng chưa có ai từng thấy “ông Tư” bước ra cửa chòi.

Đến ngày người ta thấy đống gạch đã đầy vun xếp ngay ngắn bên cạnh căn chòi thì vịnh Đá Ngầm đã sạch bách, không còn một cục gạch hay một tảng đá nào nữa. Những viên gạch cứng như đá cầm hai cục lên giáng vào nhau đến tóe lửa mà vẫn không bể. Có người vì tò mò nên ban đêm len lén ăn cắp vài cục về nhà coi thử. Trên mỗi cục gạch đều có đóng dấu: Lò đường Chủ Giá. Lạ một điều là khi sờ vào, cục gạch lại có mùi rin rít ngòn ngọt như mùi đường chảy và như thoảng mùi thịt khét. Hoảng quá, người này vội vàng đem trả mấy cục gạch ăn cắp về chỗ cũ.

***

“Thiếu tá Quảng khảm cho hồi năm năm chín đó! Mười hai người có cái sẹo y chang như vầy. Chỉ mình tao là còn sống tới bây giờ!”. Mỗi khi có chừng năm trăm đồng rượu là ông già Chín Thơm lại cởi áo, giơ lưng khoe vết sẹo như một con rết chạy dài từ cổ xuống khỏi lưng quần. “Thằng Quảng rót đường dở thấy mẹ, phải chi nó đều tay một chút thì tao bít luôn chỗ đi ỉa rồi!”. Đám cưới, đám gả, giỗ quảy, thôi nôi đầy tháng…bất kể ở đâu, bất kể mưa hay nắng, cho dù có mời hay không, hễ quan khách vừa đặt đít xuống ghế là đã thấy ông già lót tót từ đâu chen vô ngồi giữa bàn. Ăn uống chấm mút lấy lệ, sau đó chiếu lại “phim tài liệu năm một ngàn chín trăm năm chín” – cái tên do dân ấp Cây Giá đặt cho. Đám tiệc nào xuất hiện ông già Chín Thơm thì coi như chủ nhà muốn cắn lưỡi tự vận vì ông cứ kể đi kể lại một cách xà quần, không cho ai ăn uống gì hết. Vậy mà câu chuyện vẫn huyên náo như thường, đó là vì người ta chờ cho ổng sần sần rồi rủ nhau cười rần rần, khích tướng:

- Thôi đừng có nói dóc cha nội ơi!

- Đù mẹ thằng nào nói tao nói dóc!

- Vậy có ngon diễn lại cái cảnh cuối cùng: ông nhảy xuống sông năm đó thì tụi tui mới tin là thiệt!

Ngay lập tức, ông già vừa múa túy quyền từ trong đám ra tới bờ sông miệng vừa la làng: Trời ơi nóng quá, cứu tui với bà con ơi! Rồi nhảy ùm xuống nước, lặn một hơi, sau đó thả tàu qua phía bên kia sông, nơi có cái chòi rách teng beng. Chưa hết, sau khi leo lên bờ ông già còn làm một động tác hết sức kỳ quặc: Tiến đến sát vách chòi, cởi chiếc quần ướt mem ra, một dòng nước bắn lên theo hình cầu vồng rót thẳng vào vách…sau đó rùng mình mấy cái. Khỏi cần giải thích, ai cũng biết ông già vừa làm xong chuyện gì!. Mười lần như một.

Trên quãng đường đi từ chòi về nhà ông già Chín Thơm vẫn chưa hết cơn say, động thứ gì cũng chửi: từ đứa con nít vô phước bị ông chộp dính đến mấy gốc me, gốc chuối bên đường cũng bị ông già bứt trụi hết lá. Thứ gì ông cũng kêu bằng “Quảng chó điên” rồi huơ chân huơ tay tán loạn như thể đang cố gạt thứ chất lỏng nóng chảy vô hình nào đó đang được rót lên lưng mình.

Dân ấp Cây Giá từ lâu đã thuộc lòng vụ thiếu tá Quảng hồi năm 1959. Nhưng có vài điều mà không một ai biết, ngoại trừ ông già Chín Thơm, nhờ ông già mà cả ấp Cây Giá mới ráp được “bộ phim tài liệu” một cách trọn vẹn:

- Biết cái thằng đang ở trong chòi bên sông là ai không? Con của thằng thiếu tá Quảng đó! Nó đang nuôi ai? Trả lời được, chặt đầu tao xuống làm ghế ngồi! Nó nuôi Tư Giáo – kẻ thù truyền đời của mình. Để làm gì hả? Để nấu đường! Để trả thù! Trả thù đó, biết chưa?

Chuyện này thì dân ấp Cây Giá không tin mấy vì vài người trong họ tận mắt thấy: Chính tay người đàn ông – con của thiếu tá Quảng ẳm ông già nhẹ như bông gòn vô chòi khi y phát hiện ông già nằm cong queo trước cửa chòi của mình vào một buổi sáng. Rồi nấu cháo đút từng muỗng, múc nước kỳ cọ, tắm rửa. Cả tháng trời vẫn không thấy ai đến nhận, cho tới bây giờ khi y biết được ông già đó là Tư Giáo thì Tư Giáo vẫn sống nhăn răng chớ có thấy bị nấu đường hay trả thù gì đâu.

Bí thế, ông già Chín Thơm trỏ vô đống gạch:

- Tụi bây không thấy gì hết à? Nó mót gạch để xây lò đường, chừng nào lò đường xây xong thì số của Tư Giáo cũng tận!

- Nhưng sao tụi tui nghe nó nói: Đống gạch đó mò lên định để dành làm cái nhà coi cho được một chút? Nó còn nói thêm: nhưng điệu này chắc là ông Tư Giáo ổng xài trước quá. Coi bộ ổng cũng không cầm cự được bao lâu nữa, yếu lắm rồi!

Ông già Chín Thơm hậm hực:

 - Tụi bây là một lũ đui, không nấu đường thì nó cũng thả Tư Giáo trôi sông. Để rồi coi!

 - Để rồi coi! Tụi thanh niên nhại lại.

 Nhưng cho dù ông già Chín Thơm có lội thêm vài chục lượt qua sông, đứng đái đến mục cả vách chòi thì vẫn chưa thấy được cái cảnh Tư Giáo bị con của thiếu tá Quảng đem quăng vô lò nấu đường hay thả trôi sông để trả thù. Mà người trôi sông lại là ông già Chín Thơm. Dân ấp Cây Giá kể lại rằng: lần đó ổng ực tới hơn một lít, không ai thách đố gì cả, lẳng lặng men ra mé sông nhảy xuống rồi lặn luôn. Đến khi phát hiện ra thì ổng đã tấp vô vịnh Đá Ngầm.

Người vớt ổng lên lại là con của thiếu tá Quảng.

 Sau vụ ông già Chín Thơm chết trôi, ở ấp Cây Giá, dường như mọi chuyện cũng phai đi ít nhiều.

 Nhưng nhìn từng nhịp dầm có vẻ thanh thản của người đàn ông trên chiếc tam bản mỗi sáng đi đổ lú trên sông kia, dân ấp Cây Giá không ai dám chắc: Đã đến lúc coi chuyện cũ như là những câu chuyện phiếm có thể kể trong lúc trà dư tửu hậu. Vì, không phải ai cũng thích nghe người khác nhắc lại chuyện cũ, bởi ngoài chuyện vui thì vẫn còn có những chuyện khi được nhắc nhớ, nó gợi về những kỷ niệm không vui. Có khi còn hơn thế, đó là cả một mối hận. Dù từ lâu, nó đã thành sẹo, ở trong lòng…

LÊ MINH NHỰT

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
26 Tháng Bảy 20251:43 SA(Xem: 13479)
Tôi đến Brno vào một ngày hè rất xấu, trên chuyến tàu chạy qua những đồi Moravia. Bên ngoài cửa kính, mưa rơi lộp độp như ai đó đang gõ nhịp buồn vào trái tim tôi. Tôi ngồi gần như bất động, nhìn những giọt nước kéo dài thành vệt, phản bội đôi mắt đỏ hoe mà tôi cố giấu suốt chuyến đi. Tôi không định đến Brno. Cái tên nghe đã thấy buồn và cụt ngủn, như bị nguyền rủa từ hàng trăm năm trước. Thành phố này quá nhỏ để có tên trong danh sách những nơi phải ghé qua. Nhưng Julia nhắn tin: “Nếu cậu muốn trốn Berlin vài ngày, cứ đến đây. Chìa khóa dưới tấm thảm trước cửa.” Đi trốn và được bỏ rơi - giống như được thất tình thêm một lần nữa. Không vui - nhưng không cần tấm gương nào soi vào để diễn. / Căn hộ nhỏ trên phố Pekařská chỉ còn lại tôi và tiếng mưa đập vào cửa sổ. Tôi ngồi xuống chiếc sofa cũ, chiếc vali còn nguyên cạnh cửa. Bất giác, tôi nghĩ về người đàn ông đã bỏ tôi lại ở Berlin, nghĩ về tin nhắn cuối cùng: “Anh mệt rồi. Chúng ta đừng làm khổ nhau nữa.”
26 Tháng Bảy 20251:03 SA(Xem: 16796)
Chiến tranh không thương xót những cuộc tình / Ngăn ký ức xếp đầy kỷ niệm / Những bài thơ tình vẫn giấu kín / Hạnh phúc nồng nàn khi ta biết xa nhau
26 Tháng Bảy 202512:13 SA(Xem: 14887)
Hồi mình sinh con gái bé Kim, rút kinh nghiệm từ đứa con đầu lòng là cu Vũ mình bị tắt sữa đến áp xe vú. Đến đứa này sữa cũng căng đầy mà không bị gì cả, con bé bú trực tiếp vú mẹ no nê.
25 Tháng Bảy 202511:46 CH(Xem: 14663)
Diệu Cơ năm nay vừa tròn 16 tuổi. Em xinh xắn, dáng người thanh thanh, nữ tính. Em học rất giỏi, tới trường cũng như bao bạn bè trang lứa: học hành, vui chơi với bạn bè thân thương. Người ta nói quãng đời học sinh thơ mộng là quãng thời gian đẹp nhất. Nhưng đối với Diệu Cơ hơn cả tuần nay là một nỗi lo âu bao trùm đến với em. Dạo này em thấy trong người rất khác. Nghe mùi cơm sôi cũng buồn nôn. Em nghi là có điều gì không may xảy đến cho em trong một lần gần gũi với bạn trai, liền ra hiệu thuốc mua que thử thai thì hỡi ôi đã hiện ra hai vạch. Diệu Cơ bàng hoàng, lo lắng, bất an mà không biết phải làm sao? Em suy nghĩ lung lắm, làm sao bây giờ? Nói với mẹ thì chưa dám. Cuối cùng nàng quyết định chạy qua nhà anh trai ở khu phố khác, cách vài km để tâm sự với chị dâu.
23 Tháng Bảy 202512:49 SA(Xem: 19584)
LTS: Giới thiệu thi sĩ Đào Duy Anh- Lần đầu cộng tác cùng Tạp Chí Hợp Lưu – Nhà thơ Đào Duy Anh sinh năm 1952 tại vùng đất Phù Cát, Bình Định – nơi gió Lào thổi qua những triền cát và ký ức – Đào Duy Anh không chỉ là một nhà thơ mà còn là một kẻ lữ hành cô độc trong những cõi mộng mơ... Ông thuộc thế hệ thi sĩ đã đi qua nhiều biến thiên của đất nước, tiếng gọi từ những vết thương chưa kịp lành trong những trái tim lặng lẽ. / Trong thơ ông, cái đẹp không phải là đích đến, mà là chỗ rẽ của cảm xúc – nơi thi ca không cần tuyên ngôn, chỉ cần một hơi thở cũng đủ thắp sáng cả một khoảng tối chưa kịp gọi tên. Trân trọng mời quí Văn Thi Hữu và Bạn đọc của Hợp Lưu cùng bước vào thế giới thi ca của Đào Duy Anh. Tạp Chí Hợp Lưu
22 Tháng Bảy 202511:16 CH(Xem: 18391)
những dòng sông đã bỏ tôi đi thật xa / cuộc đời thì vẫn vậy / vẫn mỗi ngày nỗi nhớ lại ùn lên / làm sao quên / con đường về / trần gian không tiếng gọi / em vội vàng chi / qua sông hồ biển thẳm / mà lãng quên từ mấy kiếp luân hồi /
22 Tháng Bảy 202510:41 CH(Xem: 13969)
Xem tập truyện Hạt U Minh, người đọc hình dung nhân gian đâu đó mang tràng hạt u minh – u u, minh minh; mù mù mịt mịt, sáng lòa sáng tỏa – như một chuỗi duyên duyên nghiệp nghiệp tương tác trùng trùng trong dòng đời nghiệt ngã và cô đơn nhưng cũng lắm nẻo đi về thanh thỏa và giải thoát tùy bước đi và hướng tới mà người thiện tâm, quý chữ thường gọi là… tu.
10 Tháng Bảy 20254:37 CH(Xem: 16605)
Ánh mắt ấy đã làm ta lạc lối / Những ngày xanh bên ghế đá sân trường / Em hiền hòa như mặt nước sông Hương / Mà bão nổi trong lòng ta cuộn sóng
10 Tháng Bảy 20254:16 CH(Xem: 13777)
Ngay cả đối với bạn nào cả đời không thích đọc sách thì cũng nên đọc qua một lần bộ truyện Tam Quốc Chí hay Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung (chấp bút vào thế kỷ 14). Nếu muốn nghiêng về lịch sử thì đọc Tam Quốc Chí, muốn nghiêng về văn học thì đọc Tam Quốc Diễn Nghĩa. Nội dung đều nói về thời kỳ loạn lạc cuối nhà Đông Hán, khi ba thế lực lớn là Ngụy, Thục, Ngô tranh giành quyền lực.
10 Tháng Bảy 20252:40 SA(Xem: 20112)
Có đến rừng chiều nghe xấp xỉ / tuổi cây và lá già ngang nhau/ làm sao hồn mộc trong phế tích/ gạ gẫm miên son một chút màu
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3851)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13295)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19664)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18645)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1645)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1806)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2324)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2431)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1466)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2213)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1960)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 2006)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1381)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2425)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2638)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2385)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 249)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 821)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1012)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1127)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6421)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15902)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32165)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38869)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1493)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13904)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6914)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10715)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9911)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 10034)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10839)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3464)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11158)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10369)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi