- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

CÔ GÁI ĐI TÌM NÚI

28 Tháng Năm 201412:00 SA(Xem: 62316)

nguyenhoangnam-ninhthuan-content
 Ninh Thuận- Ảnh Nguyễn Hoàng Nam



Ngày xưa có một cô gái đẹp đi tìm núi.

Cô gái sinh ra giữa 1 miền đồng bằng mênh mông trải dài ngút ngát . Lúc cô còn bé, cánh đồng trải dài hết tầm tay. Lớn lên một chút, đi hết tầm chân vẫn là cánh đồng. Vào tuổi trăng tròn, mắt đã trong, tim cũng trong, mút mát hết tầm mắt vẫn là cánh đồng.

Cô gái chưa bao giờ thấy núi.

Rất dễ nhận biết người sinh ra từ cánh đồng. Mắt sáng trong, tia nhìn thẳng băng phẳng lặng, làn da trắng thấm đẫm phù sa, lấp lánh như có nắng, nụ cười hào sảng như gió phóng khoáng băng qua cánh đồng. 

Cô gái ấy bắt đầu nghe nói đến núi từ những câu chuyện xa vời đứt đoạn lửng lơ của những người già tuổi đã qua, mắt tràn ngập khói đồng, diết da kể về núi. Rồi ngong ngóng núi vào đến cả trong giấc mơ. Những giấc mơ có núi và cả những giấc mơ khắc khoải không có núi.

(Cả trong những cuốn tiểu thuyết, người ta cũng chỉ viết về núi- những là Chiêm bao thấy Núi- yêu người ngóng núi, Lên núi thả mây... Đến chuyện thần thoại cũng giành phần thắng cuộc trong tình yêu cho ông Vua của núi là chàng Sơn tinh thay vì chàng Thủy tinh, vua của biển cả. Người đồng bằng nghiêng hẳn về phía núi đến như thế mà!)

Sau khi mẹ cô bỏ mấy chị em cô và cha cô đi theo tiếng gọi thăm thẳm của núi xa. Cô lại càng khát khao thấy núi. Cô giận mẹ. Nhưng Cô không thể hiểu cha. Người đàn ông của đồng bằng đơn giản , phẳng lặng đó không hề oán trách, hận thù người đàn bà đã nhẫn tâm từ bỏ gia đình. Cha gói ghém hành trang, dắt 2 chị em cô đi tìm mẹ.

Vậy là năm cô tròn mười bảy tuổi, cô lẳng lặng bỏ lại sau lưng cánh đồng, con sông lười như ngủ, căn nhà tranh nằm mơ màng trong khói rơm, gió lang thang trên những tàng cây cau, không gian ngập tràn hương lúa mới. Bỏ tất cả lại sau lưng, cô theo cha lên đường , cha khắc khoải đi tìm mẹ, cô khát khao đi tìm Núi!

Cô gặp chàng thanh niên đầu tiên, người hứa hẹn dắt cô đến núi. Anh ta trải hoa trên những con đường họ đi qua, trên những triền đồi ngày càng thoai thoải tắm trong sương mờ mịt như ảo giác. Gió thì thầm trong tai cô những lời ngọt ngào trĩu nặng đam mê, những vuốt ve không ngừng, gợi lên xao xuyến thầm kín của tuồi thanh xuân. Càng đi càng xa. Càng đi càng khao khát. Một đêm chàng trai thì thầm vào tai cô:

- Chỉ sáng mai nữa thôi, mình sẽ lên tới đỉnh núi.

Vòng tay chàng trai xiết lấy cô, càng lúc càng chặt, hơi thở nóng bừng rạo rực. Cô vùng vẫy thoát ra bằng cả sức lực. Trong cơn giận dữ điên cuồng hai người lăn long lóc qua triền dốc. Cô sững sờ thấy mình đang ở dưới chân một ngọn đồi. Trước mặt vẫn là thăm thẳm cánh đồng. Bao lâu nay cô chỉ đi vòng vòng quanh đồi đất này. Mà ngỡ đã đi tới núi.

Cô cắn môi, bỏ lại chàng trai ở lại với ngọn đồi và tiếp tục lên đường đi tìm núi.

Chàng trai thứ hai không hứa đưa cô đi tìm núi. Anh ta đến từ 1 ngọn núi. Anh ta say sưa kể với cô về những ngọn núi, về màu xanh thẫm như gắn vào bầu trời, về gió rú rít trên những đỉnh cao, về sự âm trầm của rừng sâu, về những đôi mắt thú thắp lửa trong đêm và cảm giác bay bổng khi đứng trên đỉnh núi. Về những con người sinh ra từ núi, đôi mắt mang theo cả bóng của rừng.

Anh ta càng làm cô thêm chếnh choáng vì cồn cào. Cô đã uống từng lời của anh say sưa như nhắp mật ong rừng. Nhưng anh từ chối không đưa cô đến núi.

Anh hốt hoảng:

- Anh đã từ núi đi ra. Anh không thể quay về với núi. Đường rất xa mà anh thì mỏi lắm rồi.

Cô lặng lẽ , quyết liệt quay đi. Cô không thể tha thứ cho những người bỏ chạy và bỏ cuộc.

Người thứ ba không tìm đến cô. Cô tìm đến anh ấy. Từ những lời đồn đại về một người đàn ông sinh ra từ núi.

Cô đã đi theo lời thì thầm tọc mạch tinh nghịch của những ngọn gió để lần ra anh.

Anh đúng là núi!

Vừa gặp anh, cô đã sững sờ, mê muội , vô thức bị hút vào anh như vụn sắt bị hút vào khối nam châm sù sì khổng lồ. Anh đứng sừng sững trước mặt cô, mắt nhìn xa xăm, cô không thấy bóng mình trong mắt anh, chỉ có bóng núi, mịt mùng và thăm thẳm. Anh lãnh đạm mặc áo thun mỏng, phô thân hình 6 múi cuồn cuộn, quần kaki xanh màu rừng. Anh dửng dưng phô bày làn da đen rắn như thép và hàm râu xanh rì lởm chởm vẻ 1 đường viền khinh bạc quanh quai hàm vuông chữ điền. Anh vô cảm trước nét đẹp con gái (đã kịp chín muồi thành đàn bà qua 2 cuộc tình với những-người-đàn-ông-không-phải-núi) của cô .

Anh không bị giựt mình trước đôi mắt dài, hàng mi đen nhánh đổ bóng rợp tình tứ của cô, Anh cũng không bị thu hút trước giọng nói đặc biệt trong veo, đôi môi khiêu khích cong cớn màu hồng bạch thanh tú của cô.

Anh chỉ nhìn lướt qua cô diễu cợt:

- Người em có quá nhiều dấu tay, cô gái ạ!

Và anh quay đi trước đôi mắt long lanh giận dữ của cô. Lần đầu tiên cô mất ngủ và không còn mơ về núi. Đêm đó cô chỉ chập chờn mơ về Anh.

Chưa có người đàn ông nào đủ can đảm bước đi khỏi cô. Cô phải có được anh. Cô phải có được núi. 

Những ngày sau đó, cô lùng sục tìm hiểu tất cả về anh, như thợ săn lành nghề tìm hiểu về con mồi của mình. Cô lần dò tìm về quá khứ sinh ra ở miền ngược vùng thượng du của anh. Về tiểu sử lờ mờ của người bố. Về người mẹ nhọc nhằn mang tiếng chửa hoang và một mình nuôi con trong 1 căn chòi nhỏ trên nương. Về tuổi thơ khổ nhục đi chăn bò trên đỉnh núi, về hành trình lội ngược từ núi về đồng bằng vào giảng đường đại học. Đó là bức tranh gàm màu lạnh của vách đá núi.

Cô thôi không tấn công anh nữa.

Cô chỉ đến bên anh những khi anh cần cô nhất.

Khi con thú trong anh cô đơn một mình ngồi liếm láp vết thương quá khứ, cô tưới mát lên anh những thủ thỉ vuốt ve của giòng suối lành. Khi anh sôi sục lăn lộn kiếm tiền mưu sinh, cô chìa bàn tay nhỏ nhắn ra cho anh nắm lấy. Khi anh gầm gừ cay đắng vì những thất bại, những lừa lọc va chạm với cuộc đời, cô dụi đầu vào anh, mái tóc êm đềm như một tàn lá rũ.

Cứ như thế mà cô từ từ bước vào đời anh, theo kiểu người đồng bằng, dịu dàng mà nồng nàn, âm thầm mà quyết liệt.

Một ngày anh nói với cô, mặt nhợt nhạt nhưng mắt đầy lửa:

- Em có muốn đi lên Núi cùng với anh không?

Cô muốn ngất lịm đi vì sung sướng. Cô muốn hét vang lên "I do I do", như cô gái ngoan cuối cùng cũng được trao nhẫn cưới giữa nhà thờ. Nhưng cô chỉ nắm chặt tay anh cười rạng rỡ.

Và họ bắt đầu hành trình đi về núi.

Nhưng con đường đi đến núi không như cô tưởng tượng. Không có hoa cỏ thơ mộng, không có gió vuốt ve ngọt ngào, không có cả bóng mát, hoa rừng, cây xanh. Chỉ có những cánh rừng trơ trụi vì bị khai thác gỗ cạn kiệt. Những thung lũng sâu chập chùng đầy mây quẩn quanh chân đèo quanh co khúc khủy. Những con người lầm lũi, vàng mắt vì đói muối.

Cô và anh phải đạp lên đá tai mèo nhọn lểu, xanh rêu bằng đôi chân trần. Đôi chân của anh đầy vết chai, đôi chân nhỏ bé của cô trầy xướt và rướm máu. Có những chiều mưa rừng sầm sập đổ xuống trên đầu, anh và cô chúi vào một hốc cây ẩm mốc giữa rừng để trú qua cơn giông. Có những đêm cả hai nằm ngủ giữa thung lũng, gối lên cỏ ẩm và bao bọc trong ngân hà mênh mông sao trời. Có những đỉnh cao dốc ngược, đến nỗi hơi thở đóng cục không thoát ra khỏi lồng ngực được. Có những vùng khô hạn đến cổ họng khô rát bỏng lên vì thiếu nước.

Nhưng điều làm cô khốn khổ nhất chính là anh. Anh luôn miệng hối thúc cô tiến về phía trước, anh luôn đòi hỏi cô phải cố gắng hơn nữa, và đôi khi độc đoán, nghiêm khắc khi cô không gắng sức. Anh chau mày khi cô mệt mỏi, yếu đuối. Anh chỉ biết có đỉnh núi trước mặt, anh không quan tâm đến cô, người đồng hành bên cạnh suốt trên đường đi.

Một ngày cô không còn chịu nổi, cô đã gục mặt vào bàn tay rướm máu, trầy sướt vì gai góc và òa khóc:

- Em không thể đi hơn được nữa. Em mệt mỏi lắm rồi!

- Em phải cố gắng, mình đã đến rất gần đỉnh núi rồi. Em chưa cố hết sức- anh chau mày như mọi khi.

Bây giờ không chỉ toàn thân cô rướm máu, mà trái tim của cô bắt đầu rỉ máu:

- Em không còn muốn đi tới đỉnh núi nữa. Đây không là điều mà em muốn!

- Đây không phải là Núi mà cô tưởng tượng thì đúng hơn- anh quắc mắt, giận dữ- Chinh phục đỉnh núi không để dành cho những người yếu đuối, thiếu bản lĩnh. Cô đừng bao giờ mơ tới núi nữa! 

Cô gào lên bỏ chạy ra khỏi anh:

- Anh không có trái tim! Anh không hiểu em không muốn Núi nữa, em chỉ muốn anh thôi!

Trong nước mắt giàn giụa, cô chạy một mạch qua những con đường mòn khúc khủy, đạp lên những rễ cây sù xì, cành lá quấn vào mặt cô ràn rạt, chim chóc bay xao xác trên đầu cô. Cho tới khi cô vấp vào một thân cây và cô té ngã lăn tròn trên sườn núi đầy cỏ gai lởm chởm.

Cô tỉnh dậy. Bóng tối mờ mịt vây quanh cô, mùi hương hoa thoang thoảng lúc xa lúc gần, thật dịu dàng, quen thuộc, như mùi hương của mẹ. Một vòng tay ấm áp cuộn tròn quanh thân thể đau nhừ của cô, khuôn mặt khuất trong bóng tối cúi xuống cô đầy ân cần. Cô ráng mở to mắt nhìn xuyên qua bóng tối để nhìn tận khuôn mặt đó, nhưng không thể. 

Có lúc cô tưởng đang nằm trong vòng tay của anh, có lúc cô lại tưởng tượng ra khuôn mặt của mẹ. Một hơi thở dài xuyên qua không gian và giọt nước mắt nóng rơi trên da thịt cô. Cô khẽ rên lên:

- Mẹ!

Một bàn tay ram ráp vuốt nhẹ lên má cô.

- Mẹ ơi, con nhớ mẹ.

Mẹ cô không trả lời, chỉ có đôi mắt ấm như lửa soi vào cô đăm đắm. Cô nức nở:

- Mẹ ơi! Sao mẹ lại bỏ con và cha? Sao mẹ phải đi tìm ra núi? 

Một hơi thở dài lạnh ngắt phả ra bên tai cô.

- Con cũng đi tìm núi, mà mẹ ơi, sao không bao giờ tới? Núi ở đâu? Mẹ có tìm ra núi không?

- Mẹ không tìm thấy núi con ạ- giọng mẹ trầm như từ sâu trong đất vọng lên- Mẹ đã đi tìm miệt mài và cuối cùng mẹ không đến được núi.

- Mẹ có biết cha con của con đi kiếm mẹ bao lâu nay không? - cô hờn dỗi.

- Mẹ biết hết. Mẹ có điều này muốn nói với con, mẹ đã quay về nhà, và ở đó mẹ thấy núi. Bấy lâu nay, mẹ chỉ đi tìm núi đâu xa, quay đầu lại mới thấy núi ngay nơi mẹ đã sống con ạ.

- Mẹ đã về nhà à? Ba có biết không? mẹ có gặp ba không? ba vẫn chờ mẹ quay về.

Một giọt nước mắt nữa lại rơi trên má cô nóng rẫy:

- Mẹ biết ba vẫn chờ mẹ, mẹ đã về nhà, và đã gặp ba. Con đừng như mẹ nhé, đừng đi đâu xa...Núi ở ngay trong lòng mình.

Rồi bóng mẹ nhạt dần. Cô cuống quít:

- Mẹ ơi, mẹ đừng đi. Con nhớ mẹ...

Vòng tay ôm vẫn xiết chặt hơn, giọng nói của anh hối hả bên tai cô:

- Em tỉnh rồi à? Em làm anh sợ quá. May mà em lăn vào ngay cổng chùa trên lưng chừng sườn núi, nếu không thì...Anh sợ lắm rồi, lần sau em đừng có hư thế nữa...

Cô úp mặt vào vồng ngực vững chãi của anh. Nước mắt ràn rụa.

Ánh sáng một vì sao rạch ngang bầu trời soi rõ Đỉnh núi vẽ một đường sừng sững phăng phắc trên màn trời đêm.



Em chỉ biết Anh là Anh, cũng có khi anh là núi.


UYÊN LÊ

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
02 Tháng Mười Một 20143:01 SA(Xem: 56206)
Tôi đã tự hứa với mình bao nhiêu lần. Là sẽ viết về cái duyên xưa của người xưa trước khi ký ức dòn tan, đậm đà ấy nhạt phai dần, tan dần từng mảnh ray rứt bé tí một, như mùi hương hoa trong khu vườn cũ hư hao dần và rưng rức theo gió bay đi tan vào trời xa...
02 Tháng Mười Một 20142:32 SA(Xem: 52127)
Chúng đang bị tiêu đi. Nhà của tôi. Cái cơ ngoai sáu tầng, với vườn tược, bể bơi, những gian kiến trúc Tây Âu, phòng để sách, rượu, đồ cổ…biến mất dần như bị nung chảy. Cái bể cá ở phòng khách đã không thấy nữa
02 Tháng Mười Một 20141:53 SA(Xem: 67496)
Hồ Quý Ly tên tự là Lý Nguyên, tự suy tổ tiên là Hồ Hưng Dật vốn người Chiết Giang vào đời Hậu Hán thời Ngũ Đại (947 – 950) sang làm Thái thú lộ Diễn Châu (Nghệ An). Sau đó, làm nhà ở hương Bào Đột thuộc lộ này, làm trại chủ đến đời thứ 12 là Hồ Liêm dời đến ở hương Đại Lại tỉnh Thanh Hóa, làm con nuôi Tuyên úy Lê Huấn, từ đấy lấy Lê làm họ mình.
02 Tháng Mười Một 20141:24 SA(Xem: 66361)
Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu, Sinh năm 1982, Nguyễn Văn Đôn là tên thật, hiện sống ở Tây Ninh là công nhân cạo mủ cao su. Thơ của Đôn thật đến lạ lùng như những dòng viết về mình và những ghi nhận về thi ca của chính tác giả. Chúng tôi trân trọng giới thiệu đến quí văn hữu và bạn đọc những thi phẩm của người bạn trẻ này.
02 Tháng Mười Một 20141:04 SA(Xem: 63291)
Đấu tranh để giành lại đất nước bị tàn phá, Việt Nam lại phải đối mặt với một Trung Quốc thù địch và sự đe dọa từ kẻ thù ở bên trong.
02 Tháng Mười Một 201412:46 SA(Xem: 61971)
trăng đêm soi ướt gối nồng nàn thu nồng nàn em
02 Tháng Mười Một 201412:01 SA(Xem: 57886)
Nguyễn Hoàng Anh Thư ngoài làm thơ, còn viết một số truyện ngắn. Thư giới thiệu hai truyện gởi đến Hợp Lưu như sau: " Buôn Làng buồn" đó là men say, thứ men say buồn của núi rừng và đầy sự cảm nghiệm thú vị. "Nướng vị giác" sẽ khiến bạn có cảm giác như cô ấy đang nhai, đang nghiền từng con chữ. Có một điều gì đó như đang nếm, đang trải qua những cảm giác từ thế giới của truyện”. Tuy nhiên, khi đọc chúng tôi có cảm tưởng như đang xem những bức tranh xã hội thật u tối và phiền muộn …Chúng tôi mời quí văn hữu và bạn đọc cùng đi vào không gian truyện của Nguyễn Hoàng Anh Thư. Tạp Chí Hợp Lưu
01 Tháng Mười Một 201411:50 CH(Xem: 64564)
khi cơn mưa nặng hạt phố vàng nhòa hiu hắt đôi mắt nhớ buồn thiu em đã đoán trật lất
01 Tháng Mười Một 20149:15 CH(Xem: 49783)
Hội Luận Truyền Thông với Blogger Điếu Cày 31/10/2014 (PHẦN 2)
01 Tháng Mười Một 20149:13 CH(Xem: 48412)
Hội Luận Truyền Thông với Blogger Điếu Cày 31/10/2014 (PHẦN 1)
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9846)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16691)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15691)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16123)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1257)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3190)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3025)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2961)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 1104)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5168)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 7153)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6465)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 586)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 451)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1222)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2530)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2355)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2190)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2363)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2391)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 975)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13476)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29572)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35671)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10655)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12614)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2036)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 3025)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3193)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3350)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4040)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7718)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7064)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9780)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.