- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

ĐẤT, LỬA, NƯỚC VÀ GIÓ...

05 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 71396)


uyen_le_3-content
 Uyên Lê - Sài gòn 2014


LTS: Lần đầu cộng tác cùng Tạp Chí Hợp Luu, Uyên Lê là bút hiệu của Lê Huyền Mai Uyên, một người viết trẻ đang sống và việc tại Sài gòn. Với bút pháp tự nhiên và mềm mại như thơ, tác giả sẽ đưa chúng ta vào một không gian truyện huyền diệu như cổ tích. Mời quí văn hữu cùng bạn đọc cùng bước vào truyện “Đất, Lửa, Nước và Gió…”của Uyên Lê.

Tạp Chí Hợp Lưu

 

 

Khi tôi đến Ô Quy Hồ, tôi vẫn còn cô độc.

Tôi chưa có người yêu! Mà cũng chưa biết yêu.

Khi tôi trở về từ Ô Quy Hồ, tôi còn cô độc hơn nữa. Tôi biết yêu và biết mình đánh mất tình yêu vĩnh viễn.

Không bao giờ tìm lại được nữa.

Vì sẽ không có ai như em.

Cô gái biết nói thứ tiếng Việt lơ lớ trong trẻo như trẻ con, tiếng Tây ríu ra ríu rít như chim hót, tiếng Anh lưu loát và tiếng Nôm-Dao cổ kính ba ngàn năm tuổi.

Cô gái chỉ đọc 2 quyển sách duy nhất trong cuộc đời dài 24 năm: truyện Kiều của Nguyễn Du và Thằng gù nhà thờ Đức bà của Victor Hugo.

Cô gái làm người ta đau nhói tim khi nhớ về, chông chênh say khi ở bên cạnh.

Mà có lẽ vì đêm trăng ở Ô quy Hồ.

 

Tôi chọn đêm trăng để khám phá Ô quy Hồ.

Ít du khách nào dám liều mạng vượt Ô quy hồ trong đêm trăng. Nhưng tôi yêu thích rủi ro. Một phần do tính chất nghề nghiệp, với một nhà môi giới chứng khoán lì lợm chai sần như tôi, rủi ro là một phần của lợi nhuận. Khi người ta sợ hãi, là nơi tôi đặt tham vọng, khi người ta tham vọng, tôi bắt đầu rút lui.

Tôi rút lui trước khi đi Ô quy Hồ. Tôi đặt bán chốt lời toàn bộ lô cổ phiếu STB, sát thương bank, như dân dealer cười cợt gọi, ngay sát thềm của 1 cuộc khủng hoảng mang tên "tái cấu trúc" đang manh nha bắt đầu. Tôi bỏ lại canh bạc sau lưng. Tiên đoán trước một cuộc rơi không trọng lượng.

Chọn một nơi đủ lạnh, đủ xa xôi hẻo lánh để đóng băng và làm sạch ký ức.

Không gì tốt bằng Sapa và Ô quy hồ, một trong tứ đại danh đèo hùng vĩ của dân phượt.

Tour mua vượt Ô Quy Hồ trong đêm trăng 16 làm văn phòng du lịch e dè ban đầu nhưng giá đủ cao để thuyết phục họ đồng ý vào phút chót. Không ngờ ý tưởng điên rồ của tôi được một cặp Tây ba lô khác chia sẻ. Thế là vừa đủ cho một xe jeep Grand Cherokee và một hướng dẫn viên du lịch gan góc cùng đi.

Tôi tưởng đó là một anh chàng dân tộc da ngăm ngăm răng sáng lóa. Đến lúc xe bắt đầu khởi hành, một cô gái trẻ vứt xe đạp chạy theo, làn da trắng, đôi lông mày đen thẫm hình lưỡi mác dưới chiếc mũ đỏ của người Dao và bộ quần áo đủ sắc màu rực rỡ. Tôi chỉ kịp nhớ có thế.

Vì khi cô gái ào lên xe ngồi sát cạnh tôi, một mùi hương nồng nàn như cỏ nát trên thảo nguyên làm tôi ngay lập tức choáng váng.

Cô gái quay sang tôi cười, và nói một tràng tiếng Tây ngân nga du dương như chim hót với cặp Tây đồng hành ngồi băng ghế sau. Thứ tiếng Tây từ đôi môi hồng xinh của cô gái nghe như tiếng nhạc phát ra từ cuống họng thanh mảnh của con chim họa mi bằng bạc, chi tiết này tôi nhớ trong truyện cổ tích Andecxen.

Mà sự thật là trời Ô quy hồ vào đêm trăng lóng lánh huyền hoặc như trong chuyện cổ tích.

Từ Thác Bạc chạy quá 15 km, vượt qua cổng Vườn quốc gia Hoàng Liên Sơn, là đến Cổng Trời, đỉnh đèo Ô quy Hồ ở độ cao 2000m, chìm trong một màn sương bạc mờ ảo mơ màng. Vầng trăng lấp lánh bạc như đang chơi trò cút bắt, lúc thì nấp sau những rặng núi mờ đen trùng trùng điệp điệp như hàm răng nhọn hoắt lởm chởm của con quái vật khổng lồ ngoặm vào bầu trời tối đặc quánh, lúc thì rải thứ ánh sáng mượt mà nhung lụa trùm xuống thung lũng cheo leo nằm hun hút dưới chân đèo, lúc thì lẩn quất trong sương mù và mây lờn vờn gieo ánh sáng liêu trai nửa mơ nửa thực.

Giữa không gian u lạnh trầm mặc, chỉ có gió ràn rạt thổi hun hút trên các vách đá, sương mù lạnh càng ngày càng đông đặc dần lên từ hẻm núi, ánh đèn xe chập chờn hắt ánh sáng trên những khúc ngoặt cong quay ngoắt khắp cùng đường.

Tiếng cô gái vẫn rủ rỉ, thứ tiếng Tây ngon ngọt như mật ong ấy bay lượn trong đầu tôi, cô gái nghiễm nhiên xem tôi là khách Tây và vẫn véo von tiếng Tây từ đầu:

- Tên đèo Ô quy hồ bắt nguồn từ một loài chim có tiếng kêu da diết ở vùng này. tương truyền xưa kia có một đôi trai gái yêu nhau mà không thành nên hóa thành đôi chim quấn quít, vắng một con , con kia sẽ bay đi tìm mải miết kêu Ô Quy Hồ.

Cách cô gái hồn nhiên bắt chước tiếng chim lảnh lót làm chúng tôi òa lên cười bất ngờ, một con chim ăn đêm giật mình đập cánh bay đi.

Ở một khúc cua, cô gái đột ngột kêu xe dừng lại và nghiêm nghị nói:

- Đi Ô quy Hồ vào ban đêm mà không được nghe tiếng của núi rừng là mất hết cả ý nghĩa của chuyến đi.

Chúng tôi bị thuyết phục và cùng dừng lại sát bên miệng vực. Khí lạnh từ đáy vực cùng sương mù ngay lập tức ùa đến bao vậy đặc quánh, cái lạnh buốt trong vắt xốc thẳng vào tim thật mạnh làm người ta cứng đờ trong cảm giác không trọng lượng và tê cứng. Ùa đến cùng lúc với cảm giác tê cứng là âm thanh trầm hùng bí hiểm của đại ngàn, tiếng sột soạt của thú rừng mơ hồ lẩn quất đâu đó, tiếng chim vỗ cánh sột soạt, tiếng gió thầm thĩ thê lương ma sát với vách đá...

Chúng tôi cứ đứng ngẩn người như vậy, như đông cứng trong cơn sợ hãi trước bóng đêm bí hiểm hoang dại của núi rừng. Nỗi sợ hãi vươn những sợi dây lạnh tê dại quấn chặt tay chân. Tôi co rút người trong cơn khoái cảm của sợ hãi, trên mọi nỗi sợ hãi đã trải qua. Mà có lẽ tôi chưa từng biết sợ hãi trong đời. Đột nhiên một tiếng chim lảnh lót bất ngờ rúc lên ngay sát bên cạnh, làm mọi người giật mình, cơn đông cứng đã qua đi.

Chưa hoàn hồn khỏi giấc mơ lạnh giá, chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình. Đêm huyễn hoặc, lạnh buốt, bàng bạc vẫn trùm lên tôi vừa ngột ngạt, vừa hoang dại, cảm xúc không thể tả thành lời, lèn chặt trong đầu, kín không còn chỗ cho bất kỳ ký ức nào khác.

Vậy là mục đích của tôi đã đạt được ở Ô quy Hồ: đông cứng và làm sạch ký ức!

Để cho một ký ức khác, thanh mảnh, lạnh ngắt, trong trẻo như sợi trăng, len lén chui vào tim.

Ký ức về đêm Ô Quy Hồ và em...

Trên đường trekking đến Bản Hồ, quê nhà của em, tôi luôn đi sau lưng giữ khoảng cách vừa đủ để được ngắm em. Dáng em như con nai nhỏ đi giữa rừng, vừa hớn hở vừa mong manh. Cũng vừa đủ gần để nghe tiếng em thuyết minh, vừa đủ xa để tôi cưỡng lại được chất giọng trong trẻo mật ngọt của em, thu hút tôi như nam châm cực mạnh.

Khi tia nắng đầu ngày vừa lên khỏi rừng tre, em nhìn tôi và bật cười:

- Phoebus!

Tôi ngơ ngác hút vào đôi mắt nâu trong veo của em.

Anh chàng Tây đi cùng hân hoan cười, giải thích:

- Cô ấy so sánh anh với thần mặt trời trong thần thoại Hy lạp.

- Không!- cô gái xua tay nhíu cặp mắt đen nhánh- là đại úy Phoebus của Thằng gù nhà thờ đức bà. Ông ấy có nắng trong mắt và nắng trong món tóc xoăn.

 Chưa có lời khen nào làm tôi bối rối như thế. Chưa có cô gái nào làm tôi bối rối. Chưa có ai thấy nắng trong mắt tôi.

- Nhưng mắt của Phoebus ấm , mắt ông lạnh, như một con chim ưng- cô gái cúi đầu mỉm cười.

Tôi nghe tim mình nhói lại. Tôi vẫn quen kiểm soát được trái tim, không loạn nhịp ngay cả khi thị trường điên loạn màn hình nhấp nháy xanh- đỏ trái chiều . Chỉ trong một ngày trái tim tôi đã biết co dãn, đàn hồi.

Có lẽ lại là đêm trăng Ô quy Hồ.

Có lẽ là em.

Em tiếp tục cắm hai dấu hỏi trong đôi mắt nâu-rất-không-giống-người-dân-tộc vào tôi:

- Ông làm nghề gì?

- Làm nhà thơ- tôi ậm ừ một lúc để tìm ra một nghề đẹp nhất có thể, tránh né cái nghề "môi giới chứng khoán" thực sự phức tạp ngoài ngôn ngữ của tôi.

- Nhà thơ như Nguyễn Du và Victor Hugo?- em nhíu đôi mày đen sẫm, một điểm khác biệt nữa với nhan sắc chung của con gái dân tộc Dao đỏ.

Tôi như tụt xuống đáy của bối rối. Lúc đó tôi chưa hề biết với em trên đời chỉ tồn tại 2 nhà thơ này. Mà thật sự, sau này nhờ có em, tôi tin rằng, thế giới văn chương cũng chỉ cần 2 nhà thơ này mà thôi!

- Tôi là nhà thơ bình thường, như nhà thơ rau thơm và trà đá- tôi cố gắng hóm hỉnh.

- Như nhà thơ Gringoire?- rồi em lắc đầu quả quyết - nhà thơ thường có đôi mắt cừu, ông có đôi mắt hổ. Ông không phải là nhà thơ!

Tôi than thầm trong lòng, tôi đã thấy rất nhiều nhà thơ có đôi mắt hổ, dù viết ra những vần thơ hết sức cừu. Nhưng tôi phải giả vờ chịu thua em dù em không phải là nhà nghiên cứu động vật học!

 

May mà Bản Hồ đã đến đúng lúc cứu cơn bối rối khác thường của tôi. Vừa qua hết con đường ngoằn ngoèo, một bên là vách núi cao dựng đứng, một bên là vực sâu hun hút, thung lũng vàng rực những thửa ruộng bậc thang vỡ òa ra trước mắt. Một bức tranh sinh động màu sắc trải ra; xanh mạ non, xanh ruộng bắp, nâu đỏ lá rừng, và nâu già những căn nhà sàn bằng gỗ Pơ mu nằm lẩn quất trong rừng cây quốc gia Hoàng Liên sơn. Băng ngang dòng suối trong vắt nước róc rách chảy len lỏi qua đá cuội, cây cầu treo sơn đỏ, chúng tôi tiến sâu vào con đường đất hai bên ruộng vàng óng trong nắng ấm tháng tám và những cánh đồng ổi chín thơm lừng ngây ngất . Một ông Tây cao sừng sững ,da nâu đỏ như vỏ cây Pơ mu già ra đón chúng tôi. Em ôm chầm lấy người đàn ông âu yếm:

- Ông ngoại của em- em giới thiệu với chúng tôi- Ông dạy em tiếng Việt bằng truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du và tiếng Tây bằng Thằng gù nhà thờ Đức bà Paris của Victor Hugo. Em đọc hai chục năm mới hết hai quyển sách này- em cười rạng rỡ khoe.

Tôi để mình rơi tự nhiên vào cơn kinh ngạc, thì ra gien trội của 2 giòng máu người Dao và Tây đã đem lại nhan sắc liêu trai này và bản chất hoang dã hồn nhiên như gió trời kia.

Người đàn ông tiếp tục dắt đoàn khách vượt đường núi ngược lên rừng để ngâm mình trong những thùng gỗ Pơ mu màu đỏ nâu tắm lá thuốc. Tôi thoái thác ở lại để được quanh quẩn bên em. 18 vị lá thuốc quý trên rừng, tẩm chung với nguồn nước suối La ve trong vắt cũng không làm tôi say mê chếnh choáng bằng bước chân uyển chuyển của cô gái lai trước mặt.

Em dắt tôi ra góc vườn, thì thầm bằng một cung cách vừa thành kính vừa ngây thơ:

- Em có một bí mật dành cho ông!

Tôi ngẩn ngơ nhìn đống đất màu cao lanh và mảnh vỡ gốm lạnh lăn lóc trước mặt. Em bước đi chậm rãi, đong đưa quanh đống đất cát ngổn ngang, đôi mắt mơ hồ:

- Đây chính là sự sống. Đất, nước và lửa.

Trên một mặt gỗ phẳng, em nhẹ nhàng đặt một nắm đất sét mịn đã được nhào kỹ và bắt đầu hồn nhiên trình diễn vũ điệu bí mật của em. Tôi như bị mê hoặc, không có tiếng nhạc, không có lời ca, không có ánh đèn, chỉ có nắng chiều đang rớt và cô gái nhỏ đong đưa hông dịu dàng, đi chầm chậm khoan thai quanh chiếc bàn, nắm đất ướt đang dần tròn xoe thành hình miệng bình trong bàn tay vuốt ve của em. Tôi như mê đi trong vũ điệu thô mộc, dịu dàng, ngây ngất của đất; vài sợi tóc xõa vương trên khuôn mặt trắng hồng đang cúi chăm chú nghiêm trang như trong một nghi lễ của thần thánh, khuôn ngực trẻ căng tròn thấp thoáng qua những vòng xoay, eo hông uyển chuyển dịu ngọt trên mỗi bước đi… Ngôn ngữ của hình thể, ngôn ngữ của trời đất, như giao hòa, cộng hưởng trong hình dáng eo tròn thon thả của chiếc bình gốm dần dần hình thành. Cảm nhận tinh tế và cảm xúc mạnh mẽ truyền từ bàn tay thon thả phả hồn vào chiếc eo thon, độ căng tròn mượt mà của chiếc bình .

Khi em ngước cặp mắt nhiệt thành lung linh mà kiêu hãnh khỏi chiếc bình gốm mỹ lệ hoàn hảo trên mặt bàn lên nhìn tôi, tôi gần như chống đỡ cực nhọc khỏi cảm giác choáng váng, nghẹt thở và chỉ muốn ôm xiết lấy em, và hôn lên bàn tay nhuộm màu nâu non của đất.

- Ông thấy không? Đất, nước và lửa, đó là điều kỳ diệu ông em đã học được từ cuộc sống và truyền lại cho em. Bây giờ ông đã biết bí mật đó!

- Tôi còn khám phá ra một bí mật nữa- tôi bạo dạn tiến lại gần em, hơi thở nóng rực của em phả vào cổ tôi. Là em có dáng đi tuyệt đẹp của đất, nước và lửa.

- Ông là người đầu tiên nói với em điều này. Đây sẽ là bí mật của em và ông !- em nhìn thẳng vào mắt tôi, không hề giả vờ mắc cở hay rụt rè.

Tôi chỉ có một ý nghĩ ngay lúc đó, trong đầu: Đất , nước lửa, tạo nên sự sống của loài người. Em mộc mạc thâm trầm như đất, em mềm mại như nước , em nồng nàn như lửa. Em mang trong em đất, nước lửa của tôi. Em tạo nên sự sống trong tôi!

Tôi biết cảm giác này chỉ có thể là đang rơi hoặc đang chìm đắm. Vào hun hút sâu của vực thẳm. Nhưng rất ngọt ngào.

Và tôi lặng lẽ rơi.

 

 

Khi ông ngoại của em đồng ý với đề nghị của tôi đem em về thành phố học chuyên ngành du lịch. Tôi đã mừng như điên dại, như khi lô cổ phiếu pennies "rau thơm trà đá" mà tôi vừa mua lên giá vùn vụt ngang tầm cổ phiếu bluechips. Tôi không bao giờ đánh đổi em lấy bất cứ con bluechip nào.

Nhưng so sánh niềm hạnh phúc có em với việc đầu tư cổ phiếu thật là so sánh tầm thường, vì hạnh phúc đó chỉ có ở thiên đường.

Những ngày đầu tiên em sống cùng tôi trong căn hộ cao cấp của tôi thật sự là thiên đường!

Người ta có thể nói gì hơn về việc sống cùng một cô gái lạ lùng người Dao đỏ?

Người ta còn có thể nói gì hơn khi được sống cùng với cô gái mà người ta đang cháy đỏ vì yêu?

Rằng người ta phải làm quen với hệ quy chiếu đơn giản mới, tất cả mọi thứ đều được so sánh với ... Thằng gù nhà Thờ Đức bà Paris của Victo Hugo hay Truyện Kiều của Nguyễn Du. Đẹp như nàng Esmeralda, ngây thơ như nhà thơ Gringoire, chân thật như thằng gù Quasimodo, xấu xa như linh mục Frollo và...sáng chói như Phoebus...

Rằng tôi mê thích ngắm nhìn em chuyển động trong căn hộ trang trí theo chủ nghĩa minimalism - cực kỳ tối giản của tôi. Cách em rón rén uyển chuyển, rụt rè bước quanh 4 màn hình smart ti vi cực lớn liên tục nhấp nháy cập nhật giá chứng khoán, cách em di chuyển quanh các đồ đạc trong phòng, chiếu sáng mỗi bức tường em đi qua bằng đôi mắt nâu và mái tóc màu hạt dẻ. Tôi say mê chuyển động của em đến độ tôi cố ý giấu diếm và rải đồ đạc khắp mọi ngõ ngách trong nhà để đắm đuối ngắm em đi loanh quanh tìm từng món đồ một.

Rằng tôi có thể ngồi bất động hàng giờ ngắm nhìn em ngủ, ngắm hai hàng mi dày rung rung trong giấc mơ , đôi môi hồng hé mở và mùi hương đồng cỏ phảng phất trong không gian. Tịnh không có một ý niệm ham muốn tăm tối nào trong đầu ngoài những giòng của Victor Hugo tả vẻ đẹp Esmeralda đầy ám ảnh:

"Đôi cánh tay mềm dẻo, nâu giòn, khoanh lại, rồi duỗi ra quanh thân mình như hai dải lụa. Vóc dáng cô ta đẹp lạ thường. Ôi khuôn mặt rực rỡ nổi lên như gì đó chói ngời ngay giữa ánh sáng mặt trời! …– Hỡi ơi cô gái! Đó chính là em.–Tôi sững sờ, say đắm, mê mẩn để mặc mình cứ việc ngắm em. Tôi mải ngắm em đến mức đột nhiên rùng mình run sợ, cảm thấy số phận đã bị định đoạt. Đây không phải là cô gái bình thường làm bằng chút bụi trần gian và soi sáng yếu ớt bên trong bởi tia sáng leo lét của linh hồn đàn bà. Đó là một thiên thần! nhưng của bóng tối, của ngọn lửa, chứ không phải của ánh sáng."

Nhưng chính tay tôi đã dập tắt ngọn lửa thiên đường đó bằng một quyết định sai lầm.

Tôi dắt em đến đêm tiệc của dân đầu tư. Tôi muốn khoe viên ngọc của tôi cho cả thế giới.

Em trong bộ áo quần thổ cẩm rực rỡ, nón trùm đầu màu đỏ đính tua rua , váy áo thổ cẩm thêu tay tinh xảo cùng với những đường viền bạc cầu kỳ tinh tế, là cái đinh của đêm tiệc. Giữa ánh sáng rực rỡ của đèn chùm pha lê, complet trịnh trọng và áo đầm dạ hội lướt thướt , em nhẹ nhàng hoang dã như một bông lan rừng. Một anh bạn người Tây ngây ngất trước giọng Pháp như pha lê của em đã hân hoan mời em lên trên sân khấu cho bằng được để trình bày bài hát giao duyên của người Dao.

Không chút rụt rè mắc cở, em uyển chuyển tiến lên sân khấu, thu hút mọi người bằng cung cách duyên dáng tự nhiên của mình, bằng chính cái cách em đã chinh phục tôi. Em khép hờ đôi mắt lại, rèm mi khẽ rung rung như nhớ về núi rừng, rồi làn điệu Páo dung tình tứ của trai gái người Dao cứ thế vang lên, mỏng mảnh, mà trong trẻo du dương:

"Khi em gặp anh, em nghĩ rằng mình đã có duyên gặp nhau. Điều may mắn nhất của em là được cùng anh hát điệu giao duyên. Và em biết mình yêu anh. Và em thấy lòng mình bình yên..."

Tiếng hát như có cả hơi men chếnh choáng, hơi thở dài núi rừng trầm buồn và lẩn khuất tiếng khèn da diết. Mọi người như mê thiếp đi một lúc lâu sau khi em dừng lại. Rồi tiếng vỗ tay và huýt sáo vang lên rộn rã khắp nơi. Chân tôi như rời khỏi mặt đất, trước mặt tôi chỉ có cô gái ửng hồng dưới chiếc nón đỏ rực và cặp mắt cháy lên ngọn lửa lạ lùng. Tôi lướt qua đám đông tiến đến bên em, ôm xiết em vào người không kìm chế, tôi thầm thì vào tai em:

- Queen of the Night. Em là Queen of the Night!

Bất ngờ, một giọng nói lạnh lẽo vang lên sau lưng tôi:

- Bạn gái mới của anh à. Hàng độc đấy!

Là Meggi Quyên. Cô người mẫu của bar Địa ngục. Một đêm giao thừa say khướt tôi đã gặp và dắt về nhà, từ đó chúng tôi thỉnh thoảng gặp nhau khi chúng tôi "cần" và đã lâu rồi, tôi quên dần Meggie, khi tôi không thấy "cần" nữa. Tôi nhớ có nhà triết học nào đó đã nói rằng "đừng vì một lúm đồng tiền mà lấy nguyên một người đàn bà" để cay đắng nhận ra rằng lúm đồng tiền đó là phần ít xấu nhất của người đàn bà đó. Riêng đối với tôi, khám phá phần tệ nhất chính là tâm hồn của Meggie, nếu tôi xa xỉ gọi đó là tâm hồn.

Em ngước mặt nhìn cả hai chúng tôi, tia nhìn quen thuộc có mang hai dấu hỏi. Tôi hờ hững trả lời Meggie:

- Chào em, lâu rồi không gặp lại em.

- Chỉ mới hai tháng không ngủ với nhau mà cưng. Nhưng em vẫn chưa quên anh đấy!- Meggie khiêu khích trả lời.

Máu nóng bừng bừng dồn lên mặt tôi. Meggie táo tợn tiếp tục:

- Không ngờ anh thay đổi khẩu vị nhanh thế! Lại thích hàng rau su sạch, lợn cặp nách, gà đồi!

Tôi nghiến răng, kéo tay em đi:

- Cô vẫn không làm tôi ngạc nhiên được Meggie. Tôi không ưa kiểu nói chuyện như vậy.

- Anh thì lại làm tôi ngạc nhiên, anh thích mùi của mọi hơn mùi nước hoa à? Tôi còn giữ chìa khóa nhà anh và tôi chưa quên anh nói tôi muốn đến bất cứ lúc nào cũng được. Chỉ có tôi bước đi, không có ai được quyền bước đi khỏi tôi đâu!

Tay của em đã rời khỏi tay tôi, em bước nhanh và dứt khoát về phía cửa. Tôi vội vã đuổi theo em, tiếng cười đắc thắng của Meggie văng vẳng phía sau:

- Không nói thật cho cô ta biết anh đã có người yêu à? Đàn ông các anh thật tệ bạc.

Tôi đã thức trắng đêm đó. Tôi ngồi bên thành giường đau đớn ngắm em nhắm nghiền mắt. Tôi biết em cũng không ngủ được, hàng mi em rung rung, những giọt nước mắt lớn lăn chầm chậm đầm đìa trên má rơi xuống gối. Tôi úp mặt vào tay em thì thầm, từng lời như xé ra từ tim:

- Anh xin lỗi, chuyện đó đã qua rồi và xưa rồi. Đáng lẽ anh không nên đưa em đến buổi tiệc đó. Đáng lẽ anh không nên để em nghe những lời đó.

Em mãi giữ im lặng, bàn tay nhỏ và lạnh đi trong tay tôi, rồi cuối cùng em thu tay lại, lùi sát vào tường như một con chim nhỏ bị thương.

Tôi ngồi như vậy, từng thớ thịt đau đớn cho đến khi tôi gật gà thiếp đi. Trong giấc ngủ sâu chớp nhoáng tiềm thức đẩy tôi trở về với đêm trăng Ô Quy Hồ, lạnh và sâu, cảm giác trong trẻo và bình yên đến độ tôi bật cười trong giấc mơ, đến nỗi khi giật mình thức dậy, tôi vẫn còn trong cảm giác thiên đường của Ô Quy Hồ và giọng em mơ hồ, yếu ớt gọi:

- Phoebus. Anh là Phoebus.

Ngay lập tức ánh sáng ban ngày ùa đến và cơn đau buốt của thực tại trở lại.

Chiếc giường trống trơn, căn phòng trống trơn, căn hộ trống trơn. Em đã bỏ đi từ bao giờ.

Những ngày sau đó, tôi bỏ việc, lang thang khắp nơi tìm em. Tôi trở về Bản Hồ tìm em. Em không có ở bất cứ nơi đâu, như đã biến mất vào trong không khí.

Tôi trở về căn hộ, hy vọng mơ hồ em đã quay trở lại và tiếp tục chuyển động mềm mại của vũ điệu đất đón tôi.

Không có ai ở đó.

Tôi ngồi đờ đẫn trong cảm giác choáng váng cho đến khi cánh cửa bật mở tung và... Meggie Quyên xộc vào, chạy đến xoa đầu tôi:

- Cưng đây rồi, em biết hết mọi chuyện rồi. Em trở về với cưng đây.

Meggie nhìn quanh quất rồi tiếp tục âu yếm tóc tôi:

- Con mọi nhỏ đó bỏ đi rồi à? Mọi người nói là anh đang bị con Mường đó bỏ bùa mê thuốc lú. Em nhất định không để anh lún trong bùn như vậy mà không cứu anh!

Bỏ mặc tôi trên ghế, Meggie chạy xục xạo khắp nhà, rồi đắc thắng huơ huơ trước mặt tôi một xấp giấy nhỏ gấp tư:

- Đây rồi, em biết ngay mà. Con nhỏ này chơi bùa ngải mà. Nó viết bùa lăng nhăng lít nhít giấu đầy dưới gối của anh. Hèn chi mà anh không mê mệt. Anh xem đi!

Tôi thẫn thờ cầm xấp giấy. Tôi không tin vào chuyện bùa phép.

Mà em chẳng cần đến bùa chú để làm tôi say mê.

Và tôi đâu cần đến bùa chú để yêu em.

Nhưng nếu thật sự có bùa chú, thì tôi muốn ngay lập tức chạy về, dang tay đứng trên đỉnh Ô Quy Hồ mà hét to rằng:

- Em ơi hãy trở lại mà bỏ bùa tôi đi! Sao em không tiếp tục bỏ bùa tôi đi?

Trên mặt giấy trắng, những Hán tự cổ viết tay vừa thanh vừa đậm, mảnh mai mà mạnh mẽ. Bằng vốn ít ỏi chữ Hán cổ của người Dao đã học được từ em, tôi nhận ra ngay: Đất, nước và lửa.

Trang cuối cùng chỉ có một ký tự duy nhất, run rẩy, mực tươi như vừa được viết ra:

- Gió!

Và gió tràn từ hành lang rứt tờ giấy trong tay tôi bay chầm chậm trong một nhịp điệu quay cuồng.

Tôi gục đầu vào tay, thèm kêu một tiếng bi thương, nhưng trong cổ họng chỉ phát ra được 3 tiếng Ô Quy Hồ.

Đến bây giờ tôi mới hiểu nỗi đau của con chim Ô Quy Hồ.

Khi bay trên vách đá khắc khoải gọi một cái tên.

Em đã mang đất nước lửa đi khỏi tôi rồi.

Trong tôi chỉ còn hun hút gió thổi.

 

 UYÊN LÊ

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
15 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 97698)
Hợp Lưu 112 Xuân Tân Mão 2011 , đến với bạn đọc và văn hữu khắp nơi trong tiết trời lạnh hơn mọi năm. Một năm đã trôi qua với bao biến động trên thế giới ngày nay, và cũng là một năm có nhiều đổi thay nơi quê nhà. Dù đang ở nơi nào, tâm hồn người Việt vẫn luôn hướng về; mong mỏi đổi mới, cải thiện cho một xã hội tốt đẹp hơn. Mùa Xuân là biểu hiệu của khởi đầu và hy vọng, cũng là dịp cho chúng ta suy gẫm và nhìn lại một năm đã qua.
15 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 131853)
...Tôi đến Trường Chu Văn An trên đường Thụy Khuê, vào phía sau sân trường tìm bãi cỏ nhìn qua Hồ Tây để nhớ đến nụ hôn đầu tiên Kiên bỡ ngỡ đặt lên môi Phương trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Bãi cỏ xanh mướt ngập đầu lưu giữ tình yêu đầu tiên của Kiên không còn nữa. Nếu giờ đây, Phương cũng đã đi nước ngoài và lấy chồng ngoại quốc, nụ hôn của Kiên trao cho Phương, chính tôi nhận và giữ hộ...
15 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 113699)
Larsson lìa đời trước khi đứa con tinh thần, bộ tiểu thuyết thuộc loại trinh thám, Millennium Trilogy, gồm ba cuốn, mà ông đã viết vào mỗi tối như một trò giải trí cho thần kinh bớt căng thẳng, ra đời sáu tháng sau khi ông ký giao kèo với một nhà xuất bản Thụy Điển, Norstedts Förlag, nhà xuất bản thứ hai Larsson liên lạc và ký giao kèo, sau khi gửi cho một nhà xuất bản thứ nhất tới hai lần mà gói sách không hề được mở ra.
15 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 117421)
Gần hai chục năm sau biến cố 30 tháng Tư 1975, chúng tôi có cái hân hạnh được Công đoàn bảo hiểm Pháp ( Fédération Française des Sociétés d’Assurance ), qua thỏa ước với Bộ Tài chánh CHXHCNVN, gởi về nước cùng với một số nhà giáo Pháp giảng dạy bộ môn Bảo hiểm còn mới này trong trường Đại học Tài chính và Kế toán Hà nội - nay trường đã lột xác trở thành Học viện Tài chính.
14 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 138037)
Về đi thôi nhật ký ngày chân đất Gốc đa già bà kể lá bùa yêu Em ôm giấc thị thành nửa mùa cổ tích Hỏi gió trời sao giấu lá bùa yêu 
04 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 107561)
Phụ Chú: 1. Thuật ngữ Việt Nam hoá [Vietnamization] được dùng để mô tả những diễn biến thu nhập và thực thi những biến đổi xã hội, kinh tế, văn hoá và chính trị do chế độ bảo hộ Pháp cưỡng bách áp đặt từ 1861 tới 1945, sau khi chế độ thực dân Pháp bị soi mòn dần từ năm 1940-1941 rồi cuối cùng bị xóa bỏ từ tháng 3/1945. Dù trong Anh ngữ, từ này còn một hàm ý khác — như chính sách Việt nam hóa cuộc chiến tranh Việt Nam của Liên bang Mỹ (1964-1973) — chúng tôi nghĩ thuật ngữ Việt Nam hoá chính xác hơn Việt hóa [Vietism hay Vietnamism].
04 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 107974)
III. ĐOẠN KẾT KHỦNG HOẢNG Trong tháng 8, Việt Nam trải qua một giai đoạn đầy biến động, trên bối cảnh chính trị quốc tế. Một mặt, phe Đồng Minh bắt đầu thực thi các kế hoạch hậu chiến đối với Việt Nam, từ giải giới quân Nhật tới chia chác vùng ảnh hưởng; mặt khác, ngay tại Đông Dương, người Nhật bị tê liệt không những chỉ vì lệnh đầu hàng đột ngột vô điều kiện mà còn vì viễn ảnh bị Đồng Minh trừng phạt. Với người Việt, các quan tướng Nhật bị phân chia theo yếu tố tâm lý và ý thức hệ.
04 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 98932)
II. CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM (17/4 - 25/8/1945) Mặc dù chính phủ Trần Trọng Kim chỉ là một thứ “tai nạn lịch sử,” được khai sinh do nhu cầu quân sự của Nhật, chính phủ được Nhật bảo trợ này soi sáng mặt trái của đồng tiền cách mạng 1945 tại Việt Nam, mà cho tới năm 2010 còn bị che phủ bởi đủ loại tài liệu tuyên truyền.
04 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 104515)
(*).LTG: Bài này rút ra từ Phần II, “The End of An Era” [Đoạn Kết của Một Thời Đại], của Luận án Tiến sĩ [Ph.D.] sử học “Political and Social Change in Viet Nam between 1940 and 1946” đệ trình tại Đại học Wisconsin-Madison vào tháng 12/1984, dưới sự hướng dẫn của cố Giảng sư John R. W. Smail; và đã in trên Journal of Asian Studies [Tạp chí Nghiên Cứu Á Châu] vào tháng 2/1986, XLV: 2, pp. 293-328, với cùng tựa “The Other Side of the 1945 Vietnamese Revolution: The Empire of Viet-Nam (March-August 1945).” Phần tư thế kỷ sau, nhân dịp sinh nhật thứ 68, và kỷ niệm 65 năm cách mạng 1945, hiệu đính lại lần chót hầu phổ biến rộng rãi hơn trong giới người trẻ Việt muốn đi tìm sự thực lịch sử.
28 Tháng Mười Hai 201012:00 SA(Xem: 112130)
Con tàu đã trở nên ọp ẹp, mấy mươi năm còn gì. Người ta nói đây là chuyến tàu tốt nhất hiện nay. Hành khách bực dọc phàn nàn tốt gì mà tốt, như đống sắt vụn, làm như họ là kẻ trên trời rơi xuống không bằng.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3809)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13277)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19629)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18609)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1600)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1753)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2271)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2393)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1429)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2199)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1931)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1984)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1344)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2384)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2579)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2353)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 230)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 783)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 982)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1091)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6393)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15875)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32125)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38850)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1453)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13875)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6891)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10654)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9863)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9985)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10774)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3433)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11111)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10340)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi