- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,578,877

MÙA VỌNG TƯỞNG TRONG THƠ PHƯƠNG UY

29 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 19412)


 phuong_uy_-photo
 Phương Uy



NỐT HƯƠNG CUỐI MÙA

 

Tôi muốn ru em giữa một chiều tháng Ba ngập nắng

cơn gió không biết mỏi mệt giật tung những cuống lá trên cây

cà phê chiều lẳng lặng

choáng nốt hương em

 

tôi muốn ru em giữa đêm sâu nội thị

hành lang hút sâu lồng lộng tiếng gót giày

căn phòng âm u không mở cửa

vẫn lọt lại trên tường tiếng động cơ ầm ì

bên cửa sổ

xác hoa còn đọng lại sau đợt gió thiên di

 

tôi từng ước thấy mình cùng em thức dậy bên ô cửa tràn ngập gió

nơi đường chân trời không biến mất vào đêm

nơi khứu giác kiệt quệ được phục sinh giữa đồi hương thảo

ánh trăng mang theo mùi hoa sứ chông chênh

 

tôi muốn kể em nghe về khu vườn dát vàng xác điệp

nơi cánh me sao hồng ửng trong đêm

nơi đóa ngọc lan ngập ngừng sương ướt

nơi khuôn mặt người không có vết chân chim

 

tôi đã không thể thì thầm bên em lời tình yêu màu trắng

đốm nến nhỏ trên bàn còn cháy đến kiệt cùng

tôi đã không thể ngăn những cơn mơ gieo mình xuống vực

mưa mang vũ điệu

rất buồn

 

tự ải lúc em đi

tôi đã chạy hụt hơi trong giấc mơ màu huyết dụ

mặt trời tháng Ba âm ỉ lăn về phía u trầm

những cánh gió nhìn tôi cười tê dại

bình an là không thật

sao lòng người còn cứ trầm ngâm?


rời khỏi cơn ám ảnh tháng Ba

tôi vớt nắng về hong khô nước mắt

để đừng chảy ngập ngụa vào câu chữ

trong căn phòng nhỏ không người

tiếng bàn phím đổ rạt rào như hàng cây rũ nhựa màu rêu

 

Phương Uy

 

 

 

RÊU XƯA

 

Sót lại mùa rơi vàng mắt lá

rêu xanh chập chững ngó hiên đời

chiều nay giữa tiếng chim tình tự

thảng thốt lan nhanh khúc đau rời

 

Sót lại ngày xuân buồn như tết

bên hiên còn thắm đóa khôi nguyên

sao để chiều xưa xa biền biệt

phong linh chừng trắng gió qua thềm

 

Sót lại phiến âm trầm ngày cũ

tháng chạp buộc ràng ngẫu nhiên em

nhợt nhạt khô trăng chiều ảo giác

khắc khoải loang mình bữa nhậu đêm

 

Sót lại giữa mùa hình nhân mới

khéo khôn mặt nạ trả cho đời

chiều nay đứng giữa đồng thoại gió

lần tay tìm chút sót xuân ngời...

 

Phương Uy

 


TỤNG CA CHO HOÀNG HÔN

 

Anh tháo hoàng hôn khỏi đường chân trời

bằng bình minh sợi tóc

cũng không tháo được đêm đen

trong dòng kí ức chảy tràn rực rỡ

 

Cơn gió ốm đau

trầy xước trên ngón tay long lanh

những ngón tay nuốt lạnh đang bò trốn vào bóng tối

từng đêm giật mình

 

Lúc sáng, một lũ chim không chịu hót

khi các giác quan mưa khuất mặt

chúng đã di trú về phương Nam

em di trú vào cơn mê mặn mùi cổ tích

chuyền dẫn chất im lặng vào cơ thể tôi

ú ớ buồn rợp người

 

Trên những chiếc lá non sáng nay

mảnh trăng đã không còn lưu trữ

lọt thỏm vào vùng tối

im lặng cháy

 

Cứ để ngày trôi qua chậm xám như thế

kìa cơn gió lạnh ám muội một nỗi đau

và câu kinh vốn dành cho tình yêu

lại tụng ca cho một buổi ngày vừa sập tối.

 

Phương Uy

 


VỌNG TƯỞNG

 

Vọng tưởng từ ngàn khe suối sâu mùa cũ

rong xanh có còn xanh?

rêu lập lờ lục bình ngày nứt nụ

người trôi mặt nạ đứng nhìn

 

âm thanh khứ hồi không vọng tiếng

thiên hà ngập rác hoa tung hô

em đừng để thơ đỏ mặt

khi ngập trong than khóc xô bồ

 

a dua nu nần thịt bắp

tro bụi hẩm lạnh sau cuộc tàn

để lại những nấm mồ khô

đừng mị ngôn lời văn khốc

 

tay già từng ngón cào cấu giữa hư vô

em đừng để tôi đỏ mặt

sao sáng không thể cháy bằng năng lượng thiên hà khác

mượn những nỗi đau tắt lụi

 

ngày siêu âm chập choạng

ngấm vào niềm vui hôm qua chút vọng tưởng tan chảy

khi trong cơn co quắp của giấc mơ

trái tim còn hát được một nhịp thật thà

 

để giấc mơ hờn dỗi một mình

 

Phương Uy

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1073)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1151)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1838)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5869)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5839)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13183)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30068)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81212)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20237)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
18 Tháng Chín 20215:41 CH(Xem: 388)
hai người trò chuyện / hơi ấm mặt trời mơn trớn / cửa bên trong người đàn bà hé mở / miền đất từ lâu không dung nạp sự sống / dòng nước chảy ngang nảy hạt / cong về ánh sáng quên lòng đất tối