- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,578,521

THƠ K- LAN

06 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 24084)


k-lan-_chandung_2-content

  K. Lan (SG 2013)

K. Lan là bút danh: K.Lan -sinh ngày: 10.04.1984 -hiện đang sinh sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh Có thơ đang ở các tạp chí Da Màu, Tiền vệ, Văn Chương Việt, Sáng Tạo… Lần đầu cộng tác cùng Tạp chí Hợp Lưu. Chúng tôi trân trọng gới thiệu những dòng thơ của K – Lan đến với quí độc giả và văn hữu của Hợp Lưu.

TẠP CHÍ HỢP LƯU



Ở SÀI GÒN MỘT MÌNH


có nụ hôn nằm ườn trên bậu cửa
của nắng hôm nay, hay của nhớ hôm qua
lũ chim chích mổ vào từng nhát nhỏ
dậy đi thôi để mở chút bộn bề

có bàn tay vỗ về trên lớp bụi
của gió hôm nay, hay của rũ hôm qua
đám lá xanh thì thầm câu chuyện kể
cứ reo vang cho rộn rã ngày thường

có mùi hương về nép vào dưới tóc
của thả hôm nay, hay của buộc hôm qua
chiếc nơ nhỏ bám đời mình trên ấy
trượt xuống thôi cho bối rối chảy tràn

có một làn sương mỏng, một vành khăn
của ấm hôm nay, hay của buốt hôm qua
mép áo thơm ôm loài hoa nở trễ
dáng huệ tây, dáng cúc, dáng tần bì

có vụn ngày, chẳng biết vì đâu mà rớt lại
của cũ hôm nay, hay của mới hôm qua
nắng đã lên, chân đã cuồng như lời gọi
và trên tay mọc lên chút gian tà

có một ngày, người nào đó lẫn vào ta


K. Lan

(Sg tháng 10-22-2013)



NGÀY TÌNH NHÂN


ngày mọc một nhánh sông
chảy qua cánh đồng em mùa ải
qua vết nẻ niềm nhau
không có đọt vui cầm trên tay như cầm câu khấn nhỏ

em ngồi giữa sớm mai
nghe dương cầm tháng Giêng thủ thỉ lời khói thuốc
khoảnh khắc cũ vãi theo những mầm non rất vội
có đôi người chờ gặt một tái sinh

ngày tình nhân
tặng cho em nhánh tường vi không chờ ngày trắng
anh ngồi đó
trong ngăn nhỏ em rất đỗi, gục đầu

một ngày chẳng phải riêng hôm nay
tóc em rụng giữa miền anh lấm tấm bạc
con sẻ nhỏ vừa bay đi vừa hát
bài tương tư
trong câu xé cổ gọi bầy

em viết câu nhân tình thả vô duyên bay qua đồi cắc cớ
trên vai áo anh giữa đời hư mà rất thực
rụng ngả nghiêng một nỗi buồn đầy
em lả tả


K- LAN

(SG tháng 2- 2014)



CHIẾC Ô


em muốn có một chiếc ô
không phải chiếc ô che nắng mùa đông ghẹo gái
không phải chiếc ô tránh mật khải mùa hè
không phải chiếc ô đậy mưa phùn dầm dề bắt ốm
không phải chiếc ô hiu hắt nghiêng, đổ mùa thu cho hương cốm
em muốn có một chiếc ô thật rộng
để đủ che kín một nửa hồn mình khuyết tật
đủ để chôn anh giữa những lọng đau dài


K- LAN

(Sg tháng 3-2014)



BUỔI CHIỀU MẤT DẠNG


em mở xắc tay

lấy những buổi chiều ra nghịch dại

mấy ngón tay trắng nỗi buồn thay áo

chiều nay trong mắt có những đường đi


anh đặt chiếc lá phong vào góc ngày góa bụa

trong mỗi phút một mình chim Từ Quy khóc nấc

bên ranh giới mùa thu ai biết hè đổ lạnh

trong niềm vui có đôi vết đau lằn


anh giữ một nửa mùa thu trong chiều nghiêng lá đỏ

nấm mồ gió sâu trầm có nở đóa trăm năm?

còn một nửa nằm ngoan sau then cửa

em vài lần nén mở khóa tâm tư


nếp áo cũ, thân quen và hồ như rất mỏng

khói thuốc bay đâu nhớ nỗi tận cùng

dòng sông vỡ là dòng sông không còn âm vỗ mạn

cánh phù du như buồm thắm căng tràn


về xếp lại mùa màng trên vai người hát gở

em chỉ có một bài thơ xưng tụng

em chỉ nhớ hình buổi chiều chép lại

bằng những ngón tay đóng thập tự xuống ván ngày


K- LAN



BÀI KHÔNG TÊN TRỞ TRẮNG


nắng rất vàng

em trốn vào môi hôn trắng màu phụ rẫy

cầu vồng nối bờ ẩn oan đã gãy

ngủ giữa khoảng rơi mùa Hè

một thiên tư thuộc về nới cất giấu

anh

và những ký tự không còn lên xanh nữa


buổi trưa nhú mầm yêu cũ

chiếc eo gió trở bầu trời về phía biển

hát ru em câu chuyện bạc đầu

năm tháng đi qua ngón tay ngoan

niềm tin lộc non chết rũ trên thân cành thi tứ

bài thơ cho nhau khóa cửa

dấu son nhảy nhót vô hồn trên muôn vàn ký tự lạ

căn phòng chiều

âm thanh sáng quắc cắt nhau


nắng vẫn rất vàng

rắc vào chiều dăm giấc vụn xéo xiên

mắc lên giác quan từ bi đôi lần cấu xé

con thuyền ưu tư mắc cạn nơi cuống họng ngày

ai đó ngồi nếm vị hoàng hôn


K- LAN



BLUES ĐÊM

ngón tay đã ngưng đuổi bắt âm giai trên phím khôn cùng bóng tối oai mục rời cánh tay nhau phụ họa cho nỗi nhớ mặt mộc từng chiếc bóng lang thang cũng mang mặt nạ nối với nhau bằng nếp môi đói một lần thốt gọi hỡi ơi khúc blues em rền đêm kể lể những điều không, có

về loài hoa giấu mặt vào xác bướm thoát kiếp bay đi cánh đồng chấp chới màu phấn rũ hư vô anh về trú dưới chùm rễ mọc sâu vào tiền kiếp ký ức tru đêm cấu bầu trời trầy xước con dế hoang giật mình chạy xô lớp cỏ bích la dường như không thể trốn

về nếp áo bay nghiêng tháng năm dạt hương người về nơi mặt trời cư ngụ từng dòng sông hấp hối dập dềnh môi sóng bên mỏm đá tưởng tượng con thuyền bỏ rơi sự mắc cạn bàn chân lạc sự tìm như ươm sẵn cơn đồng lõa phía hành lang ngày leo xuồng câm lặng sợ cái chớp mắt ồn ào

về lời hát u mê ẩn dụ cánh vai trần run rẩy cứa nát tim vui miệt mài như xưng tụng trong buổi sám hối cuối cùng những ảo ảnh nhảy nhót trong khúc blues rỗng mặt trời kéo tấm chăn nhung đánh rơi giọt sáng đầu tiên và đêm đã mất


K- LAN



Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1038)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1124)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1812)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5840)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5821)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13169)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30052)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81160)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20227)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
18 Tháng Chín 20215:41 CH(Xem: 203)
hai người trò chuyện / hơi ấm mặt trời mơn trớn / cửa bên trong người đàn bà hé mở / miền đất từ lâu không dung nạp sự sống / dòng nước chảy ngang nảy hạt / cong về ánh sáng quên lòng đất tối