- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Máu chảy về tim

22 Tháng Giêng 201412:00 SA(Xem: 67475)


illustration-oil-dtc-content

 (Illustration- tranh sơn dầu- Đinh Trường Chinh)


Tôi bặt tin em đã gần chục năm. Lần cuối gặp nhau, tôi quay lưng dấu cái thổn thức, ê chề của một thằng đàn ông mới lớn bị tước lột tình yêu, lẽ sống. Từ đó đến nay, vết thương ngày càng sâu, khiến tôi thụt đầu vào mai sống khép kín, lặng lờ. Cố gắng dỗ dành cho máu bớt dồn về tim. Không tin. Không yêu. Sống dật dờ cho qua ngày qua tháng.

Chiều nay, nói chuyện với bé Nhạn xong, tim tôi trật nhịp. Buông điện thoại xuống, tôi vớ vội cái túi bỏ vào hai bộ quần áo, vài thứ vật dụng cá nhân, rồi lật đật đón xe ra phi trường, lấy chuyến bay sớm nhất về San Diego. Thành phố vào thu, chiều buông ánh vàng trên những tàn lá đổi màu. Xe băng qua những con đường hun hút, trơ trụi. Mặt trời đỏ mới đó vắt vẻo sau lùm cây đã sà xuống xuyên vào da, vào thịt, chui vào đun nóng phần hồn tưởng đã phần nào được dỗ yên. 

* * *

Trong cùng một không gian tương tự, hơn một chục năm trước, cũng trong tia nắng chiều vàng khi xe lăn bánh băng đèo ngang Lâm Đồng, chính ánh mắt em đã dọi vào da, tràn vào máu, buột chặt linh hồn tôi. Thời đó, chúng tôi một nhóm học sinh, sinh viên cùng với thầy Quang, cô Thanh theo xe bus lên Đà Lạt sinh hoạt. Chiếc xe bus bé xíu nhét không biết bao nhiêu mạng, ngột ngạt đầy mùi xăng dầu, mùi mồ hôi người, mùi phân bón… Xe chạy bon bon vượt những con đường ngoằn nghèo đầy ổ gà. Vài người bạn lớp 12, cô Thanh và tôi ngồi ở cuối xe lo cho đám học trò lớp sáu, lớp bảy, rồi đến các em lớp 8, lớp 9. Ngồi khoảng giữa xe là nhóm học sinh lớp 10, lớp 11, trong đó có em ngồi kế cạnh thầy Quang. Đôi chân tê liệt của thầy bất động. Người thầy nặng chịch. Thân hình Thầy chiếm gần hết mặt ghế. Tôi xót bụng thấy em ngồi nhín người. Mỗi khi xe dằn mạnh, tôi nín thở chỉ sợ em rớt ra khỏi ghế.

Mặt thầy Quang trắng nhợt. Mặt em xanh như tàu lá. Thỉnh thoảng em vươn chiếc cổ gầy hướng ra phía cửa sổ xe như cố tìm hít chút không khí tưởng tượng. Đường đèo ghập ghềnh đến quặn thắt. Đã có lúc tôi tưởng em không thể kham nổi. Tôi thấy em cúi xuống mở túi xách lấy khăn. Em cẩn thận mở chai dầu xả rắc vào khăn ướt, rồi một tay nâng đầu Thầy, một tay nhẹ nhàng lau khuôn mặt tái nhợt đổ mồ hôi hột của thầy. Thấy Thầy tỉnh táo hơn, em như hoàn toàn phục sức. Mắt em chan chứa cái nhìn của đứa con trìu mến nhìn ông Bố, và cũng mạnh mẽ, dào dạt như người mẹ âu yếm đứa con thơ. Tất cả chúng tôi đều yêu Thầy. Nhưng nhìn trong mắt em, tôi thấy tình yêu tôi bé nhỏ. Trong khi lòng tôi chỉ muốn gào lớn tôi yêu em nhiều hơn con đường đèo, nhiều hơn hàng thông xanh, nhiều hơn cả bầu trời đầy những cụm mây ửng tím đang phủ kín ngọn đồi.

Vào những năm đầu thập niên 80, chúng tôi lũ học sinh thành phần con Mỹ Nguỵ cũng phần nào ổn định đời sống trường lớp trở lại. Lớp nào bị tống ra khỏi Sài Gòn đã hoàn toàn mất tích. Lớp còn lại rồi cũng quen dần với cuộc đổi đời, trở lại với sinh hoạt học hành, trường lớp. Một số Thầy Cô Giáo thời xưa dạy các môn toán lý hoá còn được giữ lại, vì các chị em dân quân được cách mạng hoá phép trở thành hiệu trưởng, hiệu phó, thầy cô giáo chỉ kiêm nỗi việc giảng dạy các bộ môn đạo đức, chính trị, địa lý, lịch sử v.v… Cách mạng “khoan dung” nhường lại các bộ môn cần kiến thức, kỹ năng thật sự cho một số giáo viên “mỹ nguỵ”. Cô Thanh, Thầy Ẩn, Thầy Quang thuộc về thành phần này. Cô Thanh dạy vật lý lớp 6,7,8 trường Võ Trường Toản. Thầy Ẩn chồng Cô Thanh dạy Chuyên Toán Lê Hồng Phong. Thầy Quang em trai cô thời xưa dạy triết, sau này dạy môn hình học. Những năm gần đây Thầy bệnh liệt hoàn toàn hai chân, nên học sinh thường tụ tập lại ở căn nhà trệt nhỏ xíu của Thầy Cô cùng học, cùng sinh hoạt.

Thầy Quang nằm trên giường bệnh đã hơn 2 năm nay, dạy cho đám học sinh do cô Thanh đem về. Toàn là các con em Mỹ Nguỵ. Gia đình ai cũng có cha học tập cải tạo, mẹ bị chính quyền gây khó quấy nhiễu. Ai cũng khó khăn không có tiền đóng học phí. Các em đều nghèo như nhau, chỉ giàu ở mỗi cái gốc gia thế mà cô Thanh thường nói đó chính là gia sản quý báu để xây dựng lại tương lai đất nước sau này.

Thầy Quang còn rất trẻ, năm 78, Thầy bị Việt Cộng bắt nhốt liệt vào lớp kẻ thù chính trị và kẻ thù tư tưởng. Khi thầy được thả về nhà, phổi thầy đầy chất nước vàng, miệng khạc ra từng ngụm máu đỏ. Cô Thanh chăm sóc chữa trị cho Thầy, nhưng hai chân bị cùm lâu năm của Thầy trở nên tê liệt. Nhà tôi trong căn hẻm nhỏ, đối diện nhà Thầy. Tuy tôi không có duyên làm học trò trong lớp của Thầy Ẩn hay Cô Thanh, nhưng tôi ghiền ngồi ở góc nhà một tuần hai buổi chiều nghe thầy Quang ngồi dựa lưng trên tấm phảng gỗ giảng giải và đọc cho chúng tôi nghe những cuốn sách văn chương thầy thuộc lòng trong đầu. Trong căn phòng bé xíu nóng như thiu đốt ở sát chợ Tân Định, chúng tôi ngồi yên, nín thở lắng nghe, nuốt vội từng lời của thầy. Bọn chúng tôi một sàn từ lớp 11 trở lên. Lớp tuổi của mộng mơ, say mê, tìm tòi. Lớp tuổi giàu chí hướng, khát khao, đầy tin yêu vào cuộc đời.

Tôi cũng không có tiền góp học phí, nên tôi trả lễ bằng cách giúp thầy Quang dạy toán, dạy lý cho các em nhỏ lớp bảy, lớp tám. Nhờ đó tôi được gặp em. Ngày cô Thanh đưa em vào nhóm dạy kèm của tôi, em nói, em cần học vật lý và hình học. Em đi vượt biên về, nhảy từ lớp sáu lên lớp tám, mất căn bản, cần học gấp rút chương trình một năm lớp bảy trong vài tuần. Tôi phì cười trả lời, được rồi, tôi sẽ dạy cho em, nhưng không phải là vài tuần, mà sẽ là vài tháng… Em chớp mắt quả quyết nhìn tôi nói em không có thì giờ, buổi sáng đi học, buổi chiều em phải lo phụ mẹ buôn bán, rồi phải chăn 4 đứa em nghịch phá, làm sao có vài tháng đi học. Tôi nói đùa, thì tuỳ vào trí thông minh của em hết.

Đúng bốn tuần, em cảm ơn tôi và từ giã các bạn học trong nhóm. Cô Thanh cho tôi biết em đứng đầu lớp trong đợt thi vật lý vừa rồi. Tôi nửa vui, nửa buồn, nhìn em chào tạm biệt mà lòng thấy lòng hụt hẫng. Em dắt xe đạp quay ra, tôi tiễn em đến đầu ngõ, hỏi bâng quơ, em thích đọc sách không, tôi cho em mượn. Em quay ngược đầu xe vào nhà tôi ngồi lì mấy tiếng đồng hồ quên cả giờ về. Em tham lam lựa một chồng cao không bưng nỗi. Tôi mượn cớ đạp xe theo giúp em chở sách về nhà. Trên đường về, em giải thích, nhà em thuộc thành phần văn hoá đồi truỵ phản động, công an ghé thăm đều đều nên có cuốn sách nào là bị tịch thu cuốn đó. Có lần Mẹ em nổi giận gom sách vở đốt hết để khỏi bị tịch thu nữa.

Ngày hôm sau, em gõ cửa nhà tôi trả lại cuốn sách đầu tiên. Tôi rủ em sang nghe Thầy Quang đọc sách, từ đó, em không bao giờ vắng mặt tuần hai lần ngồi cùng tôi ở góc nhà Thầy. Cả bọn toàn là các anh chị lớp 11, 12, em vừa vào lớp tám, bé xíu, nhưng Thầy giảng đến đâu em thông đến đó. Em có trí nhớ đặc biệt như Thầy, em nhớ thuộc lòng từng đoạn văn, bài thơ, từng cuốn sách. Thỉnh thoảng thấy Thầy mệt, em tình nguyện đọc thơ thế Thầy. Tôi sống hạnh phúc nhất một tuần hai lần khi ngồi nghe Thầy giảng có bóng em bên cạnh. Khi em không hiểu, em liếc sang tôi giả bộ mặt ngơ ngác. Tôi cũng tức thì đóng vai chú cuội ngu ngơ. Khi em đắc ý lời thầy, em nhìn sang tôi nheo mắt cười. Tôi nghe lòng reo ngàn nốt nhạc. Có lần em thì thầm nói với tôi, em yêu Thầy hơn yêu những cuốn sách, những bài thơ, lý thuyết Thầy giảng, tôi chạnh lòng tự hỏi em có biết tôi yêu em hơn tôi yêu thầy.

Em bước vào năm cuối trung học, tôi vào năm thứ ba đại học bách khoa. Ngoài giờ ở trường, chúng tôi sống, học hành, sinh hoạt bên nhau, gắn bó riêng và gắn bó chung dưới mái nhà của cô Thanh. Thầy Quang ngày càng yếu dần, cô Thanh và chúng tôi muốn có một thời gian riêng biệt với thầy, nên tổ chức cho cả nhóm đi Đà Lạt. Tôi mừng thầm trong bụng, tôi nhất định sẽ dựa vào phong cảnh trữ tình của phố núi này để ngỏ lời tỏ tình với em.

Xe băng băng trên đường quốc lộ 20, vượt đèo Prenn rồi rẽ trái đường Trần Hưng Đạo, tiến sâu vào lòng thung lũng. Đêm trong vắt chằng chịt sao trời. Sau khi thả hết hành khách ở khu chợ Đà Lạt, xe đưa chúng tôi lên một khu đồi tối vắng, ngả rẻ ngoằn nghèo. Xe đỗ lại nơi có căn biệt thự cũ kỷ, nằm chèo queo trơ trụi trên đỉnh ngọn đồi đìu hiu hút gió. Chúng tôi xúm lại giúp đỡ thầy Quang xuống. Và lăn xe đưa Thầy vào nhà.

Cả bọn mệt nhoài. Ai cũng tự tìm chỗ thay đồ, cất hành lý, tìm chỗ nghỉ ngơi. Một ngày đi đường là quá sức chịu đựng của Thầy. Mặt thầy tái mét, da lạnh ngắt, người run lên từng hồi. Em rủ tôi xuống hầm tìm củi đốt lò sưởi cho Thầy. Trong khi tôi nhen lửa, em vào bếp đun nước, pha trà, nấu cháo. Các bạn cùng lớp với em thay đồ vào phòng nghỉ ngơi, em nhất định trải chiếu ngồi bên cạnh cái tràng kỹ phòng ngoài nơi sẽ là giường ngủ của Thầy. Nhìn ra cửa sổ, những bóng đen chằn chịt lượn qua lượn lại theo tàn lá gió đưa, em chỉ tay bảo chỗ của tôi là ở kế bên em cạnh cửa sổ. Rồi yên tâm có tôi bên cạnh, em lăng xăng đút cháo, dâng trà, mắt em không rời Thầy một phút.

Đêm xuống, khi chắc là Thầy đã ngủ yên, em rụng xuống ngủ say như chết. Tôi nằm cạnh bên em, nghe hàng thông già lao xao tán tỉnh. Lần đầu tiên máu huyết trong người tôi rần rật chảy. Tai tôi nghe tiếng gió hú từng hồi. Mắt tôi sợ hãi nhìn ánh trăng sà xuống vuốt ve khuôn mặt sáng ngời trong giấc ngủ bình yên của em. Tôi thức trắng đêm cố gắng tự kiềm chế cái cảm giác lạ kỳ đang hung hăng xâm chiếm, tràn ngập.

Những ngày sau đó, Thầy Quang có vẻ khoẻ hơn, vui vẻ hơn. Chúng tôi chia ra từng nhóm sinh hoạt, em lúc nào cũng một tay nắm chặt tay tôi, một bên đeo sát Thầy. Buổi chiều cuối cùng, sau 2 tuần đọc cho chúng tôi nghe những đoạn chính trong Những Người Khốn Khổ, Thầy dựa lưng vào ghế, nói Thầy muốn được xem đám học trò diễn lại một đoạn trong câu chuyện. Ai cũng lắc đầu, le lưỡi. Em nhanh nhẹn đứng dậy đạo diễn mọi người, rồi em đóng vai nàng Fantine vào những giờ phút cuối đời. Bắt tôi một bên làm Jean Valijean nhìn em từ giã cõi đời.

Thầy Quang qua đời ba ngày sau khi từ Đà Lạt trở về. Em như người mất trí. Khi quan tài hạ huyệt, em lao người xuống theo Thầy. Tôi ghì giữ chặt em trong tay. Người em không còn chút sinh lực, lao lên rồi ngả xuống như sợi dây đàn bị căng đứt. Sau đó, em bỏ ăn bỏ học, bỏ cả những sinh hoạt thường ngày. Em không nói, không cười, cũng không muốn gặp ai. Có khi em trông lạ lẫm, xa vắng. Có khi em quấn quít, lẽo đẽo đeo tôi từng bước không rời. Tôi và Cô Thanh tìm cách đưa em trở lại cuộc sống bình thường. Chúng tôi nhờ em thay thế Thầy dạy nhóm Việt Văn. Em gật đầu.

Ngày đầu tiên em ngồi tay không dựa tường, trông em hệt như hiện sinh của Thầy. Em chậm rãi đọc thuộc lòng đoạn truyện “Người Cầm Quyền Khôi Phục Uy Quyền” của Victor Hugo Thầy vừa đọc cho chúng tôi nghe đôi tuần trước ở Đà Lạt. Giọng em nhẹ bổng, đứt quãng. Đọc đến đoạn “Chúng ta ai cũng cùng một bà mẹ: đất. Người ta trả Fantine lại cho bà mẹ ấy…”, em nghẹn lời, giải tán cả nhóm, rồi em phóng xe ra ngoài. Tôi chạy theo em dỗ dành, em theo tôi về nhà. Em khóc cả buổi chiều, tối đến em mệt lả ngủ trên giường của tôi.

Khi ánh trăng leo song dọi vào phòng, tôi thấy em tỉnh táo. Mắt em sáng nhìn tôi quả quyết nói em yêu tôi. Rồi em ôm chặt như sợ tôi biến mất. Tôi say sưa với tình yêu, không phân biệt được mình đang mê hay tỉnh. Em cuốn quít, tan vào trong tôi. Trong đêm thơm nồng, chúng tôi tan trong nhau như trăng tan trong nước.

Tôi mất em từ đêm trăng đó. Hôm giỗ 49 ngày của Thầy, tôi trông mãi, chỉ thấy bé Nhạn, đứa em kế của em đến đặt hoa trên bàn thờ của Thầy. Không bao lâu sau, cô Thanh báo tin em lấy chồng. Ngày cuối cùng tôi gặp em là ngày em lên xe hoa. Sài Gòn mùa nắng khô đến cháy họng, tôi nuốt xuống chút cảm xúc mặn chát còn lại, nhìn em xa lạ trong chiếc áo trắng. Mặt em vô cảm nhìn tôi. Nhưng trong đôi mắt sâu thẳm quen thuộc, tôi bắt gặp cái nhìn tuyệt vọng, hệt như ánh mắt em vĩnh biệt Thầy Quang ngày nào. Tôi quay lưng. Đi mãi. Đi hoài. Chẳng biết đi đâu. Về đâu. Chỉ biết cuộc đời mình từ nay sẽ mãi là chuyến tàu đêm. Không có bến đỗ.

* * *

Tôi đặt chân xuống San Diego dưới màn trời u ám. Gió rít từng cơn gọi bão. Những lằn mây vần vũ, khúc xám xịt, khúc đỏ rực, từng cụm, từng mảng, thịnh nộ kéo về phủ kín một bầu trời đè nặng trên đầu. Xe ngừng ở bệnh viện UC San Diego. Nhạn đón tôi ở cửa. Lượt qua tình hình sức khoẻ của em, rồi Nhạn đưa tôi vào một căn phòng ở khu tim mạch. Em nằm yên, ngước nhìn tôi với cặp mắt sâu hóm. Em mở vòng tay… tôi ôm ghì lấy em như đứa trẻ lạc tìm ra mẹ.

Chúng tôi quấn quít bên nhau như chưa hề xa cách. Em luồn tay trong tóc tôi vuốt ve. Mặt em sát mặt tôi. Mắt em âu yếm. Tôi nghe em thở mạnh, hít từng hơi dài, như thể đang cố tìm lại hương vị xưa cũ. Tôi ở lại bệnh viện. Trời đêm không trăng sao. Không gian dày đặc ký ức. Em không ngủ, nhưng hơi thở từ từ yếu dần. Tôi giữ chặt em trong tay, nghe bóng đêm rình rập.

Sáng hôm sau, Nhạn đưa bé An, con gái em vào thăm mẹ. Đứa bé gái độ chừng 10 tuổi nhìn tôi chằm chằm. Em nắm tay bé An. Rồi nắm tay tôi. Nụ cười mãn nguyện hiện trên khoé mắt. Tay em bóp chặt tay tôi, như thể muốn nói điều gì. Ngay trong khoảnh khắc đó, tôi gặp lại cái nhìn chan chứa tình yêu trong mắt em, như ánh mắt chan chứa mây trời buổi chiều xe đò băng ngang ngọn đèo ngày nào. Em thầm thì trút vào tai tôi lời cuối: “Anh có biết là, em yêu anh hơn yêu Thầy.”

Giờ đưa tiễn em, trời đất mủi lòng rải xuống những giọt mưa thu, làm dậy lên mùi đất tươi xen mùi cây lá. Gió đưa mùi hương cỏ dại. Tôi nghe mùi hương ký ức đêm trăng ngày xưa. Quan tài hạ xuống, gió tung cơn bụi mù cùng đám lá vàng. Tôi nhìn bé An níu chặt tay cô Nhạn, chợt nghe máu ấm trong tim. Tôi cuối hỏi Nhạn, Bé An sinh ngày nào. Rồi tôi lẩm nhấm đếm ngày, đếm tháng…

NGUYÊN YÊN

 

(*) Bài đăng trên Hợp Lưu với sự đồng ý của tác giả

Và bài đã được đăng lần đầu ở damau.org (27-11-2012)

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 120132)
Những ngày cuối cùng của cuộc chiến, tháng 4/1975 như vết nước mắt loang dài của miền Trung ngắn dần đi khi dân chúng di tản vào Nam kiệt sức đến không còn nước mắt khóc cho những xác người ven đường.
21 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 112689)
Ông Nguyễn Hưng Quốc là người rất xục xạo đã lôi ra được những vấn đề văn học độc đáo. Cũng trong một bài viết blog, ông đã phát giác ra là nhà văn Nguyễn Huy Thiệp rất thích cái thứ chúng ta thường thả vào bồn cầu! Ông viết : “Trong các truyện ngắn, ông (Nguyễn Huy Thiệp) cho chữ (cứt) ấy xuất hiện khá nhiều, một cách trần trụi, hung hãn, đầy bạo động.
21 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 90562)
Nói như Viện Hàn lâm Thụy điển vào đúng 13 giờ thứ năm 07/10/2010, theo lời thư kí Peter Englund khi ông công bố giải văn chương Nobel 2010 trao tặng cho (Jorje) Mario (Petro) Vargas Llosa, là như sau. Nhà văn xứ Pêru này trúng giải nhờ đã: « Thể hiện và phác họa toàn diện cơ cấu quyền lực và hình ảnh sắc cạnh chạm khắc nỗ lực kháng cự, tinh thần phẫn nộ và thành bại của cá nhơn con người. » Về mặt nghệ thuật: « Ông là nhà văn đã triển khai thuật kể chuyện theo phong cách quả tình kì ảo. » Về mặt con người của mình: « Qua tác phẩm, ta biết ngay ông là một con người say sưa trong hành xử. Hễ thấy mình phản ứng rập theo bổn sắc ấy, ông tỏ ra hết sức rung động và lấy làm vui vô cùng. »
18 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 118230)
Tôi đi ở cho tộc Trần từ lâu lắm. Từ cuối đời Lý. Lúc Trần Thị chỉ vừa cắt nhau. Đêm tháo thai, sống cảnh sinh nở đầu đời nên tâm hồn tôi ngập kinh hãi. Máu từ cửa mình vợ Trần Lý chảy xối, bắn phun tung tóe như bát canh rau dền rơi vãi trên đất. Thứ canh đỏ thẫm, lợn cợn những nhau, thịt, chất nhờn. Trần Thị giẫy, vùng, đôi tay chới với cào cấu vươn tới trong động tác nắm tìm sự sống. Đã biết đi vào đời là đi vào khổ đau, nhưng tôi cũng không ngờ khổ đau to lớn tàn phá đến rách bươm cửa mình vợ Trần Lý. Mỗi cái quẫy mình là mỗi một vũng máu, trào ra, trào cho đến đầy thau. Máu bê bết chẳng khác một pháp trường.
18 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 113580)
Ngày 11/03/2011 , Bẫy rồng bộ phim Việt Nam (action movie) được chờ đợi nhất sau thành công vang dội của Dòng máu anh hùng sẽ chính thức được trình chiếu . Bộ phim được hy vọng sẽ tạo ra một diện mạo mới cho dòng phim action Việt Nam và chứng tỏ sự trưởng thành cũng như sức mạnh của một đội ngũ những nhà làm phim mới, trẻ và nhiều sức sáng tạo.
18 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 131967)
Tôi lên Mã Pì Lèng dạy học. Từ dưới chân núi, tôi cứ nhằm theo chòm bản thấp thoáng trong mỏm đá, tán cây mà leo lên. Trời nóng như đốt nương, vượt dốc, cổ họng khô rát, tưởng như mồ hôi đã cạn kiệt không thể chảy ra được nữa, thì bất chợt gặp một dòng nước từ trên núi chảy xuống, tràn qua cả mặt đường đá. Tôi hồ hởi phanh ngực áo, bỏ ca-táp, cởi dép rọ, đứng một lúc cho mát dịu lại, rồi mới thong thả rửa tay, rửa chân, xúc miệng ba lần, uống một ngụm, xong rồi mới lau mình, gội đầu...
18 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 109033)
Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương, sinh ngày 24/3/1916 tại quê ngoại, xã Phước Lộc, quận Sơn Tịnh, nhưng lớn lên tại quê nội thị xã Thu Xà, xã Nghiã Hoà. Hai nơi đều thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Mất ngày 17/1/ 1946, tại Thu Xà.
17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 117764)
Nguyễn Thị Thảo An sinh ngày 03 tháng 2 năm 1960 tại Sài Gòn, tốt nghiệp đại học sư phạm Sài Gòn, hiện định cư tại Kennesaw Georgia, USA . Tác phẩm : *Tuyển Tập (in chung với 4 tác giả khác) *Bức Phù điêu Khắc Cạn (tập truyện, Văn Mới 2001)
17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 111261)
LTS: Lê Vương Ngọc tên thật là Lê Đình Quỳnh, xuất thân là giáo sư tư thục Trung học các trường Hưng Yên, Hải Phòng thập niên 1950 và Sài gòn 1960. Ông nhìn vấn đề văn hoá như một “hobby” – Làm thơ, dịch sách, nghiên cứu, biên khảo nhiều về Phân tâm và Di truyền học – Theo quan niệm phê bình sáng tạo của Oscar Wilde…
17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 112661)
Bạn có thấy đâu đó, người ta bày bán ba hình tượng ngồi riêng rẽ với hai bàn tay bịt kín hai mắt, bịt kín đôi tai, bịt kín miệng? Hay có lúc ba người ngồi chồng lên nhau theo thể hình tháp. Đứng nhìn lâu, có chút sảng khoái ở nghệ thuật mời chào. Nhưng đem về tập tành chủ nghĩa sống theo. Không thấy. Không nghe. Không nói. Bạn mới thấy nỗi niềm của từng nhịp thở ở đôi tay người.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3816)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13279)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19646)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18619)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1612)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1760)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2280)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2395)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1440)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2203)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1941)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1987)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1361)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2387)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2598)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2361)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 234)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 789)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 988)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1100)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6399)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15878)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32134)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38853)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1469)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13876)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6892)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10662)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9868)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9995)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10786)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3435)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11148)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10350)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi