- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Máu chảy về tim

22 Tháng Giêng 201412:00 SA(Xem: 64126)


illustration-oil-dtc-content

 (Illustration- tranh sơn dầu- Đinh Trường Chinh)


Tôi bặt tin em đã gần chục năm. Lần cuối gặp nhau, tôi quay lưng dấu cái thổn thức, ê chề của một thằng đàn ông mới lớn bị tước lột tình yêu, lẽ sống. Từ đó đến nay, vết thương ngày càng sâu, khiến tôi thụt đầu vào mai sống khép kín, lặng lờ. Cố gắng dỗ dành cho máu bớt dồn về tim. Không tin. Không yêu. Sống dật dờ cho qua ngày qua tháng.

Chiều nay, nói chuyện với bé Nhạn xong, tim tôi trật nhịp. Buông điện thoại xuống, tôi vớ vội cái túi bỏ vào hai bộ quần áo, vài thứ vật dụng cá nhân, rồi lật đật đón xe ra phi trường, lấy chuyến bay sớm nhất về San Diego. Thành phố vào thu, chiều buông ánh vàng trên những tàn lá đổi màu. Xe băng qua những con đường hun hút, trơ trụi. Mặt trời đỏ mới đó vắt vẻo sau lùm cây đã sà xuống xuyên vào da, vào thịt, chui vào đun nóng phần hồn tưởng đã phần nào được dỗ yên. 

* * *

Trong cùng một không gian tương tự, hơn một chục năm trước, cũng trong tia nắng chiều vàng khi xe lăn bánh băng đèo ngang Lâm Đồng, chính ánh mắt em đã dọi vào da, tràn vào máu, buột chặt linh hồn tôi. Thời đó, chúng tôi một nhóm học sinh, sinh viên cùng với thầy Quang, cô Thanh theo xe bus lên Đà Lạt sinh hoạt. Chiếc xe bus bé xíu nhét không biết bao nhiêu mạng, ngột ngạt đầy mùi xăng dầu, mùi mồ hôi người, mùi phân bón… Xe chạy bon bon vượt những con đường ngoằn nghèo đầy ổ gà. Vài người bạn lớp 12, cô Thanh và tôi ngồi ở cuối xe lo cho đám học trò lớp sáu, lớp bảy, rồi đến các em lớp 8, lớp 9. Ngồi khoảng giữa xe là nhóm học sinh lớp 10, lớp 11, trong đó có em ngồi kế cạnh thầy Quang. Đôi chân tê liệt của thầy bất động. Người thầy nặng chịch. Thân hình Thầy chiếm gần hết mặt ghế. Tôi xót bụng thấy em ngồi nhín người. Mỗi khi xe dằn mạnh, tôi nín thở chỉ sợ em rớt ra khỏi ghế.

Mặt thầy Quang trắng nhợt. Mặt em xanh như tàu lá. Thỉnh thoảng em vươn chiếc cổ gầy hướng ra phía cửa sổ xe như cố tìm hít chút không khí tưởng tượng. Đường đèo ghập ghềnh đến quặn thắt. Đã có lúc tôi tưởng em không thể kham nổi. Tôi thấy em cúi xuống mở túi xách lấy khăn. Em cẩn thận mở chai dầu xả rắc vào khăn ướt, rồi một tay nâng đầu Thầy, một tay nhẹ nhàng lau khuôn mặt tái nhợt đổ mồ hôi hột của thầy. Thấy Thầy tỉnh táo hơn, em như hoàn toàn phục sức. Mắt em chan chứa cái nhìn của đứa con trìu mến nhìn ông Bố, và cũng mạnh mẽ, dào dạt như người mẹ âu yếm đứa con thơ. Tất cả chúng tôi đều yêu Thầy. Nhưng nhìn trong mắt em, tôi thấy tình yêu tôi bé nhỏ. Trong khi lòng tôi chỉ muốn gào lớn tôi yêu em nhiều hơn con đường đèo, nhiều hơn hàng thông xanh, nhiều hơn cả bầu trời đầy những cụm mây ửng tím đang phủ kín ngọn đồi.

Vào những năm đầu thập niên 80, chúng tôi lũ học sinh thành phần con Mỹ Nguỵ cũng phần nào ổn định đời sống trường lớp trở lại. Lớp nào bị tống ra khỏi Sài Gòn đã hoàn toàn mất tích. Lớp còn lại rồi cũng quen dần với cuộc đổi đời, trở lại với sinh hoạt học hành, trường lớp. Một số Thầy Cô Giáo thời xưa dạy các môn toán lý hoá còn được giữ lại, vì các chị em dân quân được cách mạng hoá phép trở thành hiệu trưởng, hiệu phó, thầy cô giáo chỉ kiêm nỗi việc giảng dạy các bộ môn đạo đức, chính trị, địa lý, lịch sử v.v… Cách mạng “khoan dung” nhường lại các bộ môn cần kiến thức, kỹ năng thật sự cho một số giáo viên “mỹ nguỵ”. Cô Thanh, Thầy Ẩn, Thầy Quang thuộc về thành phần này. Cô Thanh dạy vật lý lớp 6,7,8 trường Võ Trường Toản. Thầy Ẩn chồng Cô Thanh dạy Chuyên Toán Lê Hồng Phong. Thầy Quang em trai cô thời xưa dạy triết, sau này dạy môn hình học. Những năm gần đây Thầy bệnh liệt hoàn toàn hai chân, nên học sinh thường tụ tập lại ở căn nhà trệt nhỏ xíu của Thầy Cô cùng học, cùng sinh hoạt.

Thầy Quang nằm trên giường bệnh đã hơn 2 năm nay, dạy cho đám học sinh do cô Thanh đem về. Toàn là các con em Mỹ Nguỵ. Gia đình ai cũng có cha học tập cải tạo, mẹ bị chính quyền gây khó quấy nhiễu. Ai cũng khó khăn không có tiền đóng học phí. Các em đều nghèo như nhau, chỉ giàu ở mỗi cái gốc gia thế mà cô Thanh thường nói đó chính là gia sản quý báu để xây dựng lại tương lai đất nước sau này.

Thầy Quang còn rất trẻ, năm 78, Thầy bị Việt Cộng bắt nhốt liệt vào lớp kẻ thù chính trị và kẻ thù tư tưởng. Khi thầy được thả về nhà, phổi thầy đầy chất nước vàng, miệng khạc ra từng ngụm máu đỏ. Cô Thanh chăm sóc chữa trị cho Thầy, nhưng hai chân bị cùm lâu năm của Thầy trở nên tê liệt. Nhà tôi trong căn hẻm nhỏ, đối diện nhà Thầy. Tuy tôi không có duyên làm học trò trong lớp của Thầy Ẩn hay Cô Thanh, nhưng tôi ghiền ngồi ở góc nhà một tuần hai buổi chiều nghe thầy Quang ngồi dựa lưng trên tấm phảng gỗ giảng giải và đọc cho chúng tôi nghe những cuốn sách văn chương thầy thuộc lòng trong đầu. Trong căn phòng bé xíu nóng như thiu đốt ở sát chợ Tân Định, chúng tôi ngồi yên, nín thở lắng nghe, nuốt vội từng lời của thầy. Bọn chúng tôi một sàn từ lớp 11 trở lên. Lớp tuổi của mộng mơ, say mê, tìm tòi. Lớp tuổi giàu chí hướng, khát khao, đầy tin yêu vào cuộc đời.

Tôi cũng không có tiền góp học phí, nên tôi trả lễ bằng cách giúp thầy Quang dạy toán, dạy lý cho các em nhỏ lớp bảy, lớp tám. Nhờ đó tôi được gặp em. Ngày cô Thanh đưa em vào nhóm dạy kèm của tôi, em nói, em cần học vật lý và hình học. Em đi vượt biên về, nhảy từ lớp sáu lên lớp tám, mất căn bản, cần học gấp rút chương trình một năm lớp bảy trong vài tuần. Tôi phì cười trả lời, được rồi, tôi sẽ dạy cho em, nhưng không phải là vài tuần, mà sẽ là vài tháng… Em chớp mắt quả quyết nhìn tôi nói em không có thì giờ, buổi sáng đi học, buổi chiều em phải lo phụ mẹ buôn bán, rồi phải chăn 4 đứa em nghịch phá, làm sao có vài tháng đi học. Tôi nói đùa, thì tuỳ vào trí thông minh của em hết.

Đúng bốn tuần, em cảm ơn tôi và từ giã các bạn học trong nhóm. Cô Thanh cho tôi biết em đứng đầu lớp trong đợt thi vật lý vừa rồi. Tôi nửa vui, nửa buồn, nhìn em chào tạm biệt mà lòng thấy lòng hụt hẫng. Em dắt xe đạp quay ra, tôi tiễn em đến đầu ngõ, hỏi bâng quơ, em thích đọc sách không, tôi cho em mượn. Em quay ngược đầu xe vào nhà tôi ngồi lì mấy tiếng đồng hồ quên cả giờ về. Em tham lam lựa một chồng cao không bưng nỗi. Tôi mượn cớ đạp xe theo giúp em chở sách về nhà. Trên đường về, em giải thích, nhà em thuộc thành phần văn hoá đồi truỵ phản động, công an ghé thăm đều đều nên có cuốn sách nào là bị tịch thu cuốn đó. Có lần Mẹ em nổi giận gom sách vở đốt hết để khỏi bị tịch thu nữa.

Ngày hôm sau, em gõ cửa nhà tôi trả lại cuốn sách đầu tiên. Tôi rủ em sang nghe Thầy Quang đọc sách, từ đó, em không bao giờ vắng mặt tuần hai lần ngồi cùng tôi ở góc nhà Thầy. Cả bọn toàn là các anh chị lớp 11, 12, em vừa vào lớp tám, bé xíu, nhưng Thầy giảng đến đâu em thông đến đó. Em có trí nhớ đặc biệt như Thầy, em nhớ thuộc lòng từng đoạn văn, bài thơ, từng cuốn sách. Thỉnh thoảng thấy Thầy mệt, em tình nguyện đọc thơ thế Thầy. Tôi sống hạnh phúc nhất một tuần hai lần khi ngồi nghe Thầy giảng có bóng em bên cạnh. Khi em không hiểu, em liếc sang tôi giả bộ mặt ngơ ngác. Tôi cũng tức thì đóng vai chú cuội ngu ngơ. Khi em đắc ý lời thầy, em nhìn sang tôi nheo mắt cười. Tôi nghe lòng reo ngàn nốt nhạc. Có lần em thì thầm nói với tôi, em yêu Thầy hơn yêu những cuốn sách, những bài thơ, lý thuyết Thầy giảng, tôi chạnh lòng tự hỏi em có biết tôi yêu em hơn tôi yêu thầy.

Em bước vào năm cuối trung học, tôi vào năm thứ ba đại học bách khoa. Ngoài giờ ở trường, chúng tôi sống, học hành, sinh hoạt bên nhau, gắn bó riêng và gắn bó chung dưới mái nhà của cô Thanh. Thầy Quang ngày càng yếu dần, cô Thanh và chúng tôi muốn có một thời gian riêng biệt với thầy, nên tổ chức cho cả nhóm đi Đà Lạt. Tôi mừng thầm trong bụng, tôi nhất định sẽ dựa vào phong cảnh trữ tình của phố núi này để ngỏ lời tỏ tình với em.

Xe băng băng trên đường quốc lộ 20, vượt đèo Prenn rồi rẽ trái đường Trần Hưng Đạo, tiến sâu vào lòng thung lũng. Đêm trong vắt chằng chịt sao trời. Sau khi thả hết hành khách ở khu chợ Đà Lạt, xe đưa chúng tôi lên một khu đồi tối vắng, ngả rẻ ngoằn nghèo. Xe đỗ lại nơi có căn biệt thự cũ kỷ, nằm chèo queo trơ trụi trên đỉnh ngọn đồi đìu hiu hút gió. Chúng tôi xúm lại giúp đỡ thầy Quang xuống. Và lăn xe đưa Thầy vào nhà.

Cả bọn mệt nhoài. Ai cũng tự tìm chỗ thay đồ, cất hành lý, tìm chỗ nghỉ ngơi. Một ngày đi đường là quá sức chịu đựng của Thầy. Mặt thầy tái mét, da lạnh ngắt, người run lên từng hồi. Em rủ tôi xuống hầm tìm củi đốt lò sưởi cho Thầy. Trong khi tôi nhen lửa, em vào bếp đun nước, pha trà, nấu cháo. Các bạn cùng lớp với em thay đồ vào phòng nghỉ ngơi, em nhất định trải chiếu ngồi bên cạnh cái tràng kỹ phòng ngoài nơi sẽ là giường ngủ của Thầy. Nhìn ra cửa sổ, những bóng đen chằn chịt lượn qua lượn lại theo tàn lá gió đưa, em chỉ tay bảo chỗ của tôi là ở kế bên em cạnh cửa sổ. Rồi yên tâm có tôi bên cạnh, em lăng xăng đút cháo, dâng trà, mắt em không rời Thầy một phút.

Đêm xuống, khi chắc là Thầy đã ngủ yên, em rụng xuống ngủ say như chết. Tôi nằm cạnh bên em, nghe hàng thông già lao xao tán tỉnh. Lần đầu tiên máu huyết trong người tôi rần rật chảy. Tai tôi nghe tiếng gió hú từng hồi. Mắt tôi sợ hãi nhìn ánh trăng sà xuống vuốt ve khuôn mặt sáng ngời trong giấc ngủ bình yên của em. Tôi thức trắng đêm cố gắng tự kiềm chế cái cảm giác lạ kỳ đang hung hăng xâm chiếm, tràn ngập.

Những ngày sau đó, Thầy Quang có vẻ khoẻ hơn, vui vẻ hơn. Chúng tôi chia ra từng nhóm sinh hoạt, em lúc nào cũng một tay nắm chặt tay tôi, một bên đeo sát Thầy. Buổi chiều cuối cùng, sau 2 tuần đọc cho chúng tôi nghe những đoạn chính trong Những Người Khốn Khổ, Thầy dựa lưng vào ghế, nói Thầy muốn được xem đám học trò diễn lại một đoạn trong câu chuyện. Ai cũng lắc đầu, le lưỡi. Em nhanh nhẹn đứng dậy đạo diễn mọi người, rồi em đóng vai nàng Fantine vào những giờ phút cuối đời. Bắt tôi một bên làm Jean Valijean nhìn em từ giã cõi đời.

Thầy Quang qua đời ba ngày sau khi từ Đà Lạt trở về. Em như người mất trí. Khi quan tài hạ huyệt, em lao người xuống theo Thầy. Tôi ghì giữ chặt em trong tay. Người em không còn chút sinh lực, lao lên rồi ngả xuống như sợi dây đàn bị căng đứt. Sau đó, em bỏ ăn bỏ học, bỏ cả những sinh hoạt thường ngày. Em không nói, không cười, cũng không muốn gặp ai. Có khi em trông lạ lẫm, xa vắng. Có khi em quấn quít, lẽo đẽo đeo tôi từng bước không rời. Tôi và Cô Thanh tìm cách đưa em trở lại cuộc sống bình thường. Chúng tôi nhờ em thay thế Thầy dạy nhóm Việt Văn. Em gật đầu.

Ngày đầu tiên em ngồi tay không dựa tường, trông em hệt như hiện sinh của Thầy. Em chậm rãi đọc thuộc lòng đoạn truyện “Người Cầm Quyền Khôi Phục Uy Quyền” của Victor Hugo Thầy vừa đọc cho chúng tôi nghe đôi tuần trước ở Đà Lạt. Giọng em nhẹ bổng, đứt quãng. Đọc đến đoạn “Chúng ta ai cũng cùng một bà mẹ: đất. Người ta trả Fantine lại cho bà mẹ ấy…”, em nghẹn lời, giải tán cả nhóm, rồi em phóng xe ra ngoài. Tôi chạy theo em dỗ dành, em theo tôi về nhà. Em khóc cả buổi chiều, tối đến em mệt lả ngủ trên giường của tôi.

Khi ánh trăng leo song dọi vào phòng, tôi thấy em tỉnh táo. Mắt em sáng nhìn tôi quả quyết nói em yêu tôi. Rồi em ôm chặt như sợ tôi biến mất. Tôi say sưa với tình yêu, không phân biệt được mình đang mê hay tỉnh. Em cuốn quít, tan vào trong tôi. Trong đêm thơm nồng, chúng tôi tan trong nhau như trăng tan trong nước.

Tôi mất em từ đêm trăng đó. Hôm giỗ 49 ngày của Thầy, tôi trông mãi, chỉ thấy bé Nhạn, đứa em kế của em đến đặt hoa trên bàn thờ của Thầy. Không bao lâu sau, cô Thanh báo tin em lấy chồng. Ngày cuối cùng tôi gặp em là ngày em lên xe hoa. Sài Gòn mùa nắng khô đến cháy họng, tôi nuốt xuống chút cảm xúc mặn chát còn lại, nhìn em xa lạ trong chiếc áo trắng. Mặt em vô cảm nhìn tôi. Nhưng trong đôi mắt sâu thẳm quen thuộc, tôi bắt gặp cái nhìn tuyệt vọng, hệt như ánh mắt em vĩnh biệt Thầy Quang ngày nào. Tôi quay lưng. Đi mãi. Đi hoài. Chẳng biết đi đâu. Về đâu. Chỉ biết cuộc đời mình từ nay sẽ mãi là chuyến tàu đêm. Không có bến đỗ.

* * *

Tôi đặt chân xuống San Diego dưới màn trời u ám. Gió rít từng cơn gọi bão. Những lằn mây vần vũ, khúc xám xịt, khúc đỏ rực, từng cụm, từng mảng, thịnh nộ kéo về phủ kín một bầu trời đè nặng trên đầu. Xe ngừng ở bệnh viện UC San Diego. Nhạn đón tôi ở cửa. Lượt qua tình hình sức khoẻ của em, rồi Nhạn đưa tôi vào một căn phòng ở khu tim mạch. Em nằm yên, ngước nhìn tôi với cặp mắt sâu hóm. Em mở vòng tay… tôi ôm ghì lấy em như đứa trẻ lạc tìm ra mẹ.

Chúng tôi quấn quít bên nhau như chưa hề xa cách. Em luồn tay trong tóc tôi vuốt ve. Mặt em sát mặt tôi. Mắt em âu yếm. Tôi nghe em thở mạnh, hít từng hơi dài, như thể đang cố tìm lại hương vị xưa cũ. Tôi ở lại bệnh viện. Trời đêm không trăng sao. Không gian dày đặc ký ức. Em không ngủ, nhưng hơi thở từ từ yếu dần. Tôi giữ chặt em trong tay, nghe bóng đêm rình rập.

Sáng hôm sau, Nhạn đưa bé An, con gái em vào thăm mẹ. Đứa bé gái độ chừng 10 tuổi nhìn tôi chằm chằm. Em nắm tay bé An. Rồi nắm tay tôi. Nụ cười mãn nguyện hiện trên khoé mắt. Tay em bóp chặt tay tôi, như thể muốn nói điều gì. Ngay trong khoảnh khắc đó, tôi gặp lại cái nhìn chan chứa tình yêu trong mắt em, như ánh mắt chan chứa mây trời buổi chiều xe đò băng ngang ngọn đèo ngày nào. Em thầm thì trút vào tai tôi lời cuối: “Anh có biết là, em yêu anh hơn yêu Thầy.”

Giờ đưa tiễn em, trời đất mủi lòng rải xuống những giọt mưa thu, làm dậy lên mùi đất tươi xen mùi cây lá. Gió đưa mùi hương cỏ dại. Tôi nghe mùi hương ký ức đêm trăng ngày xưa. Quan tài hạ xuống, gió tung cơn bụi mù cùng đám lá vàng. Tôi nhìn bé An níu chặt tay cô Nhạn, chợt nghe máu ấm trong tim. Tôi cuối hỏi Nhạn, Bé An sinh ngày nào. Rồi tôi lẩm nhấm đếm ngày, đếm tháng…

NGUYÊN YÊN

 

(*) Bài đăng trên Hợp Lưu với sự đồng ý của tác giả

Và bài đã được đăng lần đầu ở damau.org (27-11-2012)

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
11 Tháng Bảy 20265:19 CH(Xem: 174)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
11 Tháng Bảy 20262:04 CH(Xem: 224)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 678)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
08 Tháng Bảy 20265:41 CH(Xem: 600)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 705)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1479)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1459)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20264:45 CH(Xem: 1403)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1341)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
26 Tháng Sáu 20263:59 CH(Xem: 1326)
“Là con dân của một đất nước mà lịch sử là một chuỗi tranh đấu không ngừng để được tồn tại, NQ thiết nghĩ “Hội Thề Đông Quan” là một chiến thắng đáng suy ngẫm. Sau 10 năm nếm mật nằm gai, chứng kiến đất nước và dân mình chịu bao tang tóc dưới ách bạo tàn của nhà Minh. Thế mà cha ông chúng ta đã mở đường hiếu sinh cho hàng vạn hàng binh, và còn cấp thuyền, cấp ngựa cho họ trở về nước. Sự bao dung đã biến một chiến thắng quân sự thành khúc khải hoàn của lòng nhân ái và đem lại bình yên cho người dân của đôi bờ bờ cõi.” (Nguyệt Quỳnh)
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10406)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17223)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16271)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16747)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 703)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1459)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1485)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2230)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 174)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 597)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1403)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1261)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 674)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1479)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1341)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
26 Tháng Sáu 20263:59 CH(Xem: 1326)
“Là con dân của một đất nước mà lịch sử là một chuỗi tranh đấu không ngừng để được tồn tại, NQ thiết nghĩ “Hội Thề Đông Quan” là một chiến thắng đáng suy ngẫm. Sau 10 năm nếm mật nằm gai, chứng kiến đất nước và dân mình chịu bao tang tóc dưới ách bạo tàn của nhà Minh. Thế mà cha ông chúng ta đã mở đường hiếu sinh cho hàng vạn hàng binh, và còn cấp thuyền, cấp ngựa cho họ trở về nước. Sự bao dung đã biến một chiến thắng quân sự thành khúc khải hoàn của lòng nhân ái và đem lại bình yên cho người dân của đôi bờ bờ cõi.” (Nguyệt Quỳnh)
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 223)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3045)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2944)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3413)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2116)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13922)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30048)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36107)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11572)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13048)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2838)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 4002)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3984)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4496)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 5034)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8283)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7665)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10617)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.