- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Viện Đại Học Cần Thơ Đồng Bằng Sông Cửu Long Và Con Sông Mekong

27 Tháng Sáu 200912:00 SA(Xem: 144444)

Gửi Viện Đại Học Cần Thơ Và Nhóm Bạn Cửu Long

“A POSSE AD ESSE – TỪ KHẢ NĂNG TỚI HIỆN THỰC”

NGÔ THẾ VINH

 

LTS:Trong năm 2000, nhà văn Ngô Thế Vinh đã gửi đến chúng ta một tác phẩm Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng, với những tài liệu liên quan tới sự suy thoái hệ sinh thái của con sông Mekong và Đồng Bằng Sông Cửu Long một khi chuỗi 14 con đập khổng lồ Vân Nam của Trung Quốc hoàn tất. Tạp Chí Hợp Lưu gửi tới bạn đọc bài viết cách đây 7 năm của nhà văn Ngô Thế Vinh nhưng vẫn còn nguyên vẹn tính thời sự sôi bỏng và là một việc cần làm cấp bách.

 

LÀM GÌ GIỮA HAI CỰC ĐOAN

Từ 1995, báo chí tiếng Việt ở hải ngoại đã liên tục đăng những bài viết có tính cách báo động về các kế hoạch khai thác sông Mekong đưa tới cạn kiệt nguồn tài nguyên và hủy hoại hệ sinh thái toàn lưu vực_ trong đó có Đồng Bằng Sông Cửu Long. Điển hình là kế hoạch xây chuỗi 14 con đập thủy điện bậc thềm khổng lồ Vân Nam trên dòng chính sông Mekong của Trung Quốc càng khiến mọi người thêm lo ngại. Từ đó nảy sinh ra hai phản ứng hoàn toàn trái ngược:

_ Thái độ cam chịu, biết thế đấy nhưng nghĩ rằng chẳng thể làm được gì trước sức mạnh và thái độ ngang ngạnh của Trung Quốc.

_ Phản ứng giận dữ và nghĩ rằng một cuộc “chiến tranh vì nước” với Trung Quốc để sống còn là không thể nào tránh dù rằng đó là một cuộc chiến hoàn toàn không cân sức.

_ Giữa hai cực đoan ấy, liệu chúng ta có thể tìm ra một giải pháp dung hợp bằng cái nhìn thực tiễn, còn nước còn tát_ nghĩa là nhìn nửa phần đầy của ly nước thay vì nửa vơi.

_ Bài viết này phản ánh cách nhìn dung hợp thứ ba_ làm thế nào để “giới hạn và giảm thiểu tổn thất / control damage” và đó cũng là quan điểm của người viết khi bàn về chức năng của Viện Đại Học Cần Thơ.

 

14 CON ĐẬP VÂN NAMTENNESSEE VALLEY AUTHORITY

Trước hết để có một ý niệm về tầm vóc của chuỗi đập Vân Nam, ta hãy so sánh với một công trình vĩ đại khác của Mỹ: Tennessee Valley Authority / TVA. 

Số đập Vân Nam là 14 trong khi TVA chỉ có 9; độ dốc / elevation differential của chuỗi đập Vân Nam là 1,500 mét_ 12 lần cao hơn chuỗi đập TVA; tổng công suất chuỗi đập Vân Nam gấp 13 lần tổng số công suất 9 con đập TVA. Như vậy đối chiếu với chuỗi đập bậc thềm Vân Nam thì đại công trình Tennessee Valley Authority nổi tiếng bấy lâu của Mỹ nay đã trở thành một bóng mờ. [1]

Tuy là một công trình lớn lao như thế nhưng như từ bao giờ Trung Quốc luôn luôn giấu kín nhẹm các kế hoạch chiến lược khai thác sông Mekong của họ. 

Tiến sĩ Hiroshi Hori_ một chuyên gia uy tín quốc tế và lâu năm của Uûy ban Sông Mekong khi viết tới chương sách về dự án phát triển đập nơi Lưu Vực Trên sông Mekong [Upper Mekong Basin] đã phải thú nhận: “Trong suốt một thời gian dài, đã không có cách nào biết được tình hình phát triển nơi Lưu Vực Trên Sông Mekong_ For a long time, there was no way of knowing the development situation in the upper Mekong basin” cho dù bản thân ông đã phải đích thân tới Vân Nam để khảo sát thực địa năm 1994 [đập thủy điện đầu tiên Manwan 1,500 MW hoàn tất năm 1993, nghĩa là trước đó một năm]. Như vậy thì chúng ta cũng chẳng ngạc nhiên khi phải nghe Lê Quang Minh nguyên dân biểu quốc hội, Phó Viện Trưởng Viện Đại Học Cần Thơ Đồng Bằng Sông Cửu Long than thở: “Thật khó để có được thông tin từ phía Trung Quốc. Điều ấy khiến chúng tôi thật sự lo ngại”.[3]

Thụ động, lo ngại_ rồi sao nữa? Không lẽ cứ tiếp tục ngồi than thở thì Bắc Kinh sẽ thấy ái ngại mà cung cấp cho mọi thông tin mà chúng ta đang cần.

Cũng có đấy chứ, một số thông tin đến từ phía Trung Quốc, nhưng đó chỉ là những liều thuốc ngủ , “những dữ kiện màu hồng có tính cách giai thoại_ annecdotal.”

Điển hình là mới đây Bộ Điện Lực Trung Quốc / Ministry of Electric Power đã cùng một lúc cung cấp một số tài liệu Made in China  cho mấy nước hạ nguồn về hiệu quả tích cực của các con đập Vân Nam đối với toàn lưu vực sông Mekong không ngoài mục đích trấn an; họ còn gửi tới các quốc gia kỹ nghệ phát triển trong đó có Nhật Bản để mong tìm thêm nguồn tài trợ cho các dự án lớn lao của họ. [1] 

Theo Bộ Điện Lực Trung Quốc thì: 

_ Năm 1995 Tổng Công Suất của cả nước là 150 x 106  kW trong đó chỉ có 25% là thủy điện, phần còn lại nhiệt điện từ than đá và từ lò nguyên tử. Dự trù nhu cầu điện sang năm 2000 sẽ tăng gấp đôi trong khi tiềm năng Thủy Điện TQ [400 x 106 kW] mới chỉ được khai thác chưa tới 10%. 

Và khi mà những con đập Vân Nam được coi như yếu tố tạo sức bật cho các bước canh tân nhảy vọt của Trung Quốc thì theo Dai Qing nhà hoạt động môi sinh nổi tiếng cũng là tác giả cuốn sách “The River Dragon Has Come” đã có nhận định là “Trung Quốc sẽ không có một thay đổi nào trong kế hoạch khai thác sông Mekong của họ cho dù ảnh hưởng tác hại ra sao đối với các quốc gia dưới nguồn.” Bắc Kinh đã hành sử như chính mình sở hữu toàn 4,500 km chiều dài con sông Mekong_ vốn là một con sông quốc tế.

 

TỪ ỦY BAN TỚI ỦY HỘI SÔNG MEKONG

Từ thời Uûy Ban Sông Mekong / Mekong River Committee [1957]_ tiền thân của Uûy Hội Sông Mekong [1995], đã có một hệ thống khí tượng thủy văn [hydrometeorological network] hoạt động nơi lưu vực dưới sông Mekong. Ban đầu chủ yếu chỉ để theo dõi lưu lượng dòng chảy [river flow] và mực nước cao thấp [water level], sau đó những dữ kiện bằng số ấy được thu thập chuyển về trụ sở Văn Phòng Thường Trực của Uûy Ban để phân tích nhằm đưa ra những biện pháp phòng tránh hay giảm thiểu những tác hại về lũ lụt hay hạn hán cho bốn nước hạ lưu.

Nhưng trước viễn tượng hình thành trên khúc sông thượng nguồn chuỗi 14 con đập thủy điện khổng lồ Vân Nam với kỹ nghệ hóa, đô thị hóa, trút đổ các chất phế thải kỹ nghệ xuống sông thì rõ ràng hệ thống theo dõi ban đầu này là rất thiếu sót.

Chính vì thế mà Hiroshi Hori đã đề nghị với Ủy Hội Sông Mekong phải cải thiện và nâng cấp hệ thống khí tượng thủy văn sao cho có khả năng theo dõi không chỉ về lượng mà cả về phẩm chất nước của mỗi khúc sông trong toàn lưu vực_ quan trọng nhất là “những yếu tố biến động về phẩm chất nước” đổ xuống từ khúc sông thượng nguồn. [1]

Chức năng của trung tâm theo dõi mới này là mỗi khi phát hiện được những “thông số hay dữ kiện bất thường” thì phải thông báo ngay cho các quốc gia trong lưu vực với yêu cầu xác định nguyên nhân. Giả thiết nguyên nhân tìm thấy là do hậu quả sinh hoạt của các khu kỹ nghệ trên thượng nguồn thì quốc gia liên hệ phải có trách nhiệm tìm ngay biện pháp ngăn chặn. Bằng không thì cơ quan chức năng cao nhất của Uûy Hội Sông Mekong và cả những chánh phủ trong lưu vực phải có phản ứng tích cực và kịp thời tìm ra những phương cách giải quyết bằng con đường chánh trị ngoại giao và cả công pháp quốc tế.

Khi mà các dự án đập lớn nơi Lưu vực Dưới sông Mekong [như dự án đập Pa Mong, Sambor…] đã trở thành quá xa vời do chống đối của các tổ chức bảo vệ môi sinh và của cả chính cư dân trong lưu vực_ khiến các nguồn tài trợ bị ngưng lại chưa biết tới bao giờ, trong khi nơi Lưu vực Trên thì Bắc Kinh đang hối hả thực hiện cho bằng được dự án 14 con đập của họ _ thì rõ ràng ẩn số của phương trình sông Mekong vẫn là nước lớn Trung Quốc.

 

KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN CHO TOÀN LƯU VỰC

Trong văn bản thỏa thuận giữa Thái Lan Lào Cam Bốt và Việt Nam khi hình thành Uûy Hội Sông Mekong [1995], cả bốn nước đều đồng ý hình thành một kế hoạch phát triển chung cho Lưu vực Dưới sông Mekong. Một kế hoạch như vậy cho dù đạt được tự nó đã là một thiếu sót; bởi vì không thể tách rời việc phát triển sông Mekong ra hai khu vực: Lưu vực Trên và Lưu vực Dưới. Cần phải có một kế hoạch phát triển cho toàn lưu vực bao gồm cả Trung Quốc và Miến Điện càng sớm càng tốt.

Trong cuộc khảo sát kéo dài hai năm (1996 tới 1998) của JICA / Japan International Cooperation Agency [mà Hirhosho Hori là trưởng nhóm] đã đưa ra những đề xuất nhằm hướng tới sự cân bằng giữa phát triển và bảo vệ sinh cảnh môi trường cho toàn lưu vực với những lưu ý như sau:

_ Viện trợ cho các nước kém phát triển phải dựa trên sự tôn trọng không chỉ với quốc gia ấy mà cả với các cộng đồng dân cư trong lưu vực với động lực là thăng tiến cho chính họ. Cần nhấn mạnh là mối quan tâm không chỉ thu gọn trong những hậu quả về vật chất mà phải kể tới các khía cạnh tâm lý và văn hóa xã hội đối với cư dân địa phương.

_ Trợ giúp phát triển với quan tâm ưu tiên tới những khía cạnh về sinh cảnh môi trường của khu vực. Luôn luôn đặt trong tâm vào việc bảo tồn môi trường thiên nhiên bao gồm cả việc bảo vệ tính đa dạng của hệ sinh thái / biodiversity. Các dự án đập thủy điện lớn phải được duyệt xét với tất cả sự nhạy cảm căn cứ trên nhu cầu thiết thực của các cộng đồng cư dân trong khu vực. [1]

Khi mà lưu vực sông Mekong đang trải qua những những đổi thay và biến động mau chóng, thì bất cứ dự án ban đầu nào [có từ 20 năm trước từ thời Uûy ban Sông Mekong] cũng cần phải những cải đổi để thích nghi với điều kiện hoàn cảnh mới.

Các cơ quan tài trợ kế hoạch phát triển sông Mekong [như Ngân Hàng Phát Triển Á Châu /ADB, Ngân Hàng Thế Giới / WB, Cơ Quan Phát Triển Liên Hiệp Quốc / UNDP] cần có một cái nhìn toàn cảnh như vậy khi trợ cấp cho từng dự án thủy điện trên sông Mekong: bởi vì không phải chỉ có khai thác nguồn thủy điện từ con sông mà còn cả mối quan tâm tới các vấn đề thủy lợi, nông lâm / agriforestry, ngư nghiệp và giao thông; cũng không thể không quan tâm tới ảnh hưởng trên sinh cảnh môi trường trong chiến lược phát triển bền vững sông Mekong: có nghĩa là khai thác nhưng vẫn bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và không gây những xáo trộn xã hội đối với cư dân sông trong lưu vực. Mà điều đó thì hiện nay chưa có được khi Trung Quốc và Miến Điện là hai quốc gia thượng nguồn vẫn chọn vị thế đứng ngoài.

 

THÀNH LẬP NHÓM CHUYÊN VIÊN THAM VẤN

Các kế hoạch phát triển sông Mekong thường bị chi phối do sự cạnh tranh giữa các đại công ty ngoại quốc đấu thầu xây đập_ dĩ nhiên vì lợi nhuận họ rất ít quan tâm tới vấn đề an toàn môi trường và sự an sinh của cư dân sống hai bên bờ con sông Mekong. Trong khi đó thì các chánh phủ liên hệ hoặc vì nhu cầu phát triển và quyền lợi trước mắt hoặc vì thiếu trình độ chuyên môn nên đã dễ dàng thông qua các kế hoạch mà không đưa ra được những phê phán và tu chính lẽ ra phải có.

Để giải quyết tình trạng thiếu trình độ chuyên môn ngay trong Uûy Hội Sông Mekong và các chánh phủ liên hệ, tiến sĩ Hiroshi Hori đã đưa ra đề nghị cấp thiết thành lập Nhóm Chuyên Viên Tham Vấn Quốc tế / International Advisory Group of Experts có trình độ cao và có kinh nghiệm về phát triển lưu vực các con sông thuộc nhiều lãnh vực kể cả các chuyên gia về phẩm chất nước. [1] Họ cũng phải quen thuộc và nhạy cảm với những “vấn đề kinh tế xã hội môi sinh” của cư dân trong lưu vực ngõ hầu có thể đưa ra những nhận định vô tư và khách quan. Họ sẽ là một cơ quan tư vấn độc lập làm việc bên cạnh Uûy Hội Sông Mekong để giải đáp những vấn đề khúc mắc khó khăn liên quan tới từng dự án phát triển sông Mekong. Để hoàn tất nhiệm vụ ấy, dĩ nhiên họ phải có đủ thời gian và phương tiện để khảo sát các dữ kiện trên mỗi đồ án trước khi đưa ra những nhận xét và ý kiến phê phán để gửi qua văn phòng thường trực của Uûy Hội Sông Mekong để làm cơ sở quyết định. Những biên bản đề xuất này sẽ không bị tô hồng hay cắt xén cho dù trái với ý muốn của các đại công ty tư bản hay chánh phủ liên hệ.

 

ĐẠI HỌC CẦN THƠ, NGỌN HẢI ĐĂNG MIỀN TÂY 

Được thành lập từ 1966 nơi trung tâm Đồng Bằng Sông Cửu Long, số sinh viên hiện nay lên tới 16,000 với khoảng 5,000 sinh viên cử nhân và cao học tốt nghiệp mỗi năm.[6] Sĩ số sinh viên tiếp tục gia tăng thêm 2,000 mỗi năm_ tới năm 2010 tổng số sinh viên Đại Học Cần Thơ sẽ là hơn 30,000. Với 8 phân khoa: Nông Nghiệp, Sư Phạm, Khoa Học, Quản Trị Kinh Doanh, Công nghệ, Công Nghệ Thông Tin, Y Nha Dược, Luật. Bên cạnh đó còn có 7 viện và trung tâm nghiên cứu: Nghiên Cứu và Phát Triển Hệ Thống Canh Tác, Công Nghệ Sinh Học, Khoa Học Thủy Sản, Nghiên Cứu Đất Phèn, Kỹ Thuật Môi Trường và Năng Lượng Mới [ Research Center for Environmental Engineering & Renewal Energy], Thông Tin Khoa Học và Công Nghệ, Trung Tâm Ngoại Ngữ.

Phải có ban giảng huấn, các thư viện và hệ thống phòng thí nghiệm lớn ra sao để có thể dàn trải ra cho ngần ấy Phân Khoa và các Viện Nghiên Cứu đa dạng như thế.

Điểm mạnh của Đại Học Cần Thơ từ trước 1975 và còn tiếp tục tới nay là Phân Khoa Nông Nghiệp: đã thành công trong nghiên cứu và đưa vào sử dụng các giống lúa Thần Nông mới với khả năng tăng sản và tăng vụ_ mà nông dân ĐBSCL đã đặt tên cho là lúa Honda khiến Việt Nam trở thành quốc gia xuất cảng gạo lớn thứ hai chỉ có sau Thái Lan.

Cách đây 32 năm, trong bài diễn văn “xuất trường” của Viện Đại Học Cần Thơ , giáo sư Đỗ Bá Khê đã có một cái nhìn rất xa về vai trò của Viện Đại Học này với tương lai vùng Đồng Bằng Châu Thổ:

 “Ngày nay (19/12/1970) trong Thời Đại Khoa Học Kỹ Thuật, các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long đang trông chờ nơi ánh sáng soi đường của Viện Đại Học Cần Thơ và ước mơ một chân trời mới, tô điểm bằng những cành lúa vàng nặng trĩu, những mảnh vườn hoa quả oằn cây, dân cư thơ thới, một cộng đồng trù phú trong một xã hội công bằng.”

Đã 35 năm kể từ ngày thành lập, nhưng tầm vóc và chất lượng của Viện Đại Học Tây Đô này vẫn còn khiêm tốn ngay cả so sánh với các đại học trong khu vực Đông Nam Á như Mã lai, Singapore, Thái Lan. Đó vẫn là một Viện Đại Học nghèo về phương tiện phòng thí nghiệm, thư viện và cả thiếu thốn về ban giảng huấn nhưng đồng thời lại rất giàu về nguồn chất xám của đông đảo lớp sinh viên thông minh hiếu học và trong đó không thiếu những thành phần ưu tú. Đám sinh viên ấy trông chờ và lẽ ra phải xứng đáng được hưởng một nền giáo dục đại học vươn tới tầm mức của thời đại. Bởi vì phẩm chất của lớp sinh viên tốt nghiệp ấy sẽ là chất xúc tác [catalyst] cho các bước phát triển bền vững của Đồng Bằng Sông Cửu Long.

Mới đây, trong bài diễn văn kỷ niệm 35 năm thành lập Đại Học Cần Thơ 1966 – 2001, viện trưởng Trần Thượng Tuấn, tuy là với ngôn từ mới của “kinh tế thị trường và toàn cầu hóa” nhưng nội dung cũng chỉ là những điều mà Giáo Sư Đỗ Bá Khê đã nói ra cách đây 32 năm:

“… Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế tri thức đòi hỏi Đại Học Cần Thơ phải nỗ lực nhiều hơn nữa, năng động sáng tạo hơn nữa, cũng như tăng cường hơn nữa việc học tập kinh nghiệm tốt ở các trường đại học trong nước và ngoài nước nhằm mục tiêu sớm rút ngắn khoảng cách với các trường tiên tiến trong khu vực_ Để Làm Tròn Chức Năng của một Trường Đại Học, một Trung Tâm Khoa Học Kỹ Thuật Của Đồng Bằng Sông Cửu Long. ” [6]

Nhưng chừng nào màViện Đại Học Cần Thơ nói riêng và hệ thống Đại Học Việt Nam nói chung chưa có được một nền tự trị đại học, còn chọn đi theo con đường “hồng hơn chuyên” thì hình ảnh ngọn hải đăng chỉ đường cho vùng Đồng Bằng Châu Thổ sẽ vẫn chỉ là thứ ánh sáng cuối đường hầm. Một cộng đồng trù phú trong một xã hội công bằng, vẫn chỉ là những mơ ước trong những hoàn cảnh thật nghiệt ngã của một đất nước thống nhất nhưng lại càng ngày càng phân hóa: được tiếng là sống trên vựa lúa và cá nhưng mức sống của đa số cư dân còn nghèo khó: tỉ lệ thất nghiệp và thất học cao có lẽ chỉ hơn so với các sắc dân thiểu số Tây Nguyên.

Được mệnh danh là Trung Tâm Khoa Học Kỹ Thuật của Đồng Bằng Sông Cửu Long, Đại Học Cần Thơ đã và đang làm gì để đương đầu với những khai thác hủy hoại con sông Mekong do hình thành chuỗi 14 con đập bậc thềm Vân Nam mà Việt Nam là quốc gia ở cuối nguồn sẽ phải lãnh đủ mọi hậu quả ?

Viện Đại Học Cần Thơ_ do vị trí địa dư đặc biệt của mình, sẽ phải là một tiền đồn, một cơ quan đầu não, một trung tâm nghiên cứu thu thập dữ kiện, khảo sát và theo dõi mọi thay đổi biến động của con sông Mekong về lưu lượng dòng chảy, phẩm chất nước, nguồn cá… nói chung là toàn hệ sinh thái phong phú nhưng cũng rất mong manh của toàn lưu vực sông Mekong_ trong đó có Đồng Bằng Sông Cửu Long một vựa lúa nuôi sống cả nước, để kịp thời có phản ứng và tìm ra giải pháp để giới hạn tổn thất.

Nếu không làm gì, chờ đến khi mà con sông Cửu Long Cạn Dòng và cả vùng Đồng Bằng Châu Thổ bị dìm trong biển mặn thì Đại Học Cần Thơ lúc đó chỉ còn là hình ảnh của con tàu mắc cạn trên Biển Mặn Aral của Trung Á. 

 

THEO DÕI KHIẾM KHUYẾT VÀ BỔ XUNG

Cho dù không có phương cách nào có thể ngăn Trung Quốc không tiến hành kế hoạch điện khí hóa vĩ đại của họ nhưng ở một chừng mực nào đó thì “những khiếm khuyết và thiếu an toàn trong mỗi dự án xây đập của Trung Quốc phải được biết tới, để theo dõi và bổ sung.”

Hiển nhiên không thể thụ động ngồi chờ nguồn thông tin do Trung Quốc tùy tiện cung cấp mà vì lý do sống còn, chúng ta phải hết sức chủ động đi tìm kiếm những gì mà chúng ta cần biết_ đó là những dữ kiện khách quan. Điều ấy đòi hỏi cho một chiến lược bảo vệ môi sinh với tầm nhìn xa, với một đội ngũ chuyên viên không chỉ có trình độ mà còn có lòng thiết tha với công việc chuyên môn của họ. 

Đại Học Cần Thơ với Phân Khoa Sông Mekong sẽ là một “think tank” một trung tâm nghiên cứu giảng dạy và là nguồn cung cấp chất xám. 

Một Phân Khoa Sông Mekong có thể khai triển từ những ý niệm đã có ban đầu với danh xưng Trung Tâm Nghiên Cứu Kỹ Thuật Môi Trường.

_ Xây dựng một thư viện chuyên ngành với tất cả sách vở tài liệu trước hết là liên quan tới con sông Mekong.

_ Ban giảng huấn ngoài thành phần cơ hữu của nhà trường, sẽ bao gồm các chuyên gia của Uûy Hội Sông Mekong, nhóm Chuyên Viên Tham vấn Quốc tế bên cạnh Uûy Hội Sông Mekong. Họ sẽ được mời như những Giáo Sư Thỉnh Giảng_ Visiting Professor, cho Phân Khoa Sông Mekong. Tài liệu giảng của họ sẽ là nguồn thông tin vô cùng quý giá do từ những đúc kết qua thực tiễn.

_ Chọn lọc tuyển sinh từ thành phần ưu tú biết ngoại ngữ, nhằm hướng tới đào tạo các kỹ sư môi sinh [trình độ MS / Master of Science] ngoài phần lý thuyết họ sẽ được tiếp cận với thực tế bằng những chuyến du khảo_ fieldtrips qua các trọng điểm của con sông Mekong, qua các con đập, và không thể thiếu một thời gian thực tập “on-the-job training” tại các cơ sở của Ủy Hội Sông Mekong. Họ sẽ ra trường với một tiểu luận tốt nghiệp về những đề tài khác nhau liên quan tới hệ sinh thái của con sông Mekong.

_ Về phương diện chánh quyền, cần thiết lập ngay một mạng lưới “Tùy viên Môi sinh” [Đã có những tùy viên quân sự, tùy viên văn hóa trong mỗi tòa đại sứ, tại sao không thể có tùy viên môi sinh ?] đặc trách sông Mekong trong các Tòa Đại sứ và Sứ quán tại các quốc gia trong lưu vực: như tòa lãnh sự Việt Nam ở Côn Minh Vân Nam, bốn tòa đại sứ Việt Nam ở Miến Điện, Thái Lan, Lào và Cam Bốt. Họ sẽ là tai mắt, là những trạm quan sát sống cho Phân Khoa sông Mekong và Bộ Bảo Vệ Môi Trường.

Trước 1975, nếu Thái Lan đã có Viện Y Khoa Nhiệt Đới Đông Nam Á, tại sao không thể nghĩ tới một Phân Khoa Sông Mekong tại Viện Đại Học Cần Thơ cho 6 quốc gia trong lưu vực: thành phần sinh viên không phải chỉ có Việt Nam mà có thể cả những sinh viên đến từ Thái Lan, Lào và Cam Bốt và cả từ Trung Quốc, Miến Điện.

Nếu Đại Học Cần Thơ còn nghèo thì việc cấp học bổng cho các sinh viên đến từ các quốc gia trong lưu vực sẽ đến từ cấp Nhà Nước. Phải xem đây như một kế hoạch đầu tư dài hạn và rất ý nghĩa cho “Một Tinh Thần Sông Mekong_ The Mekong Spirit” trong toàn bộ các kế hoạch hợp tác và phát triển vùng.

Với trình độ kiến thức và tinh thần liên đới của đám sinh viên đa quốc gia này sẽ là nguồn chất xám bổ sung cho Ủy Hội Sông Mekong, cho các chính phủ địa phương đang bị thiếu hụt nhân sự trầm trọng. Lớp chuyên viên trẻ đầy năng động này cũng sẽ là mẫu số chung nối kết mở đường cho các bước hợp tác phát triển bền vững của 6 quốc gia trong toàn lưu vực sông Mekong.

Dĩ nhiên có một cái giá phải trả để bảo vệ con Sông Mekong và vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Với tâm niệm rằng “nói tới nguy cơ là còn thời gian, trong khi tiêu vong là mất đi vĩnh viễn”.

 

NGÔ THẾ VINH

06 – 2002

 

 

Tham Khảo:

1/ Hiroshi Hori. The Mekong: Environment and Development. United Nations University Press, Tokyo 2000

2/ Patrick McCully. Silenced Rivers: The Ecology and Politics of Large Dams. International Rivers Network. Zed Book Ltd, London 1996

3/ Shawn W. Crispin, Margot Cohen, Bertil Lintner. The Mekong Choke Point. Far Eastern Economic Review, Oct 12, 2000.

4/ Milton Osborne. The Mekong: Turbulent Past, Uncertain Future. Atlantic Monthly Press, New York 2000

5/ Đỗ Bá Khê. Đại Học Cần Thơ, Ngọn Hải Đăng Miền Tây. Đặc San Tiền Giang - Hậu Giang 2000

6/ Trần Thượng Tuấn. Kỷ Niệm 35 thành lập Đại Học Cần Thơ 1966 – 2001. http://www.ctu.edu.vn

7/ Ngô Thế Vinh. Từ Ủy Ban Tới Ủy Hội Sông Mekong: Trước Những Thách Đố và Triển Vọng. http://www.mekongriver.org

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 60117)
B à ngoại tôi kể, dòng họ tôi đời nào cũng có một người chết vì tình. Có thể dòng máu đa tình chảy ngấm ngầm trong huyết quản, truyền từ đời nàng Công nữ Nguyễn Phúc Hồng Miên đầu tiên đã gieo mầm mống yêu si cuồng thái quá cho các nàng Tôn nữ. Thường chỉ là các nàng Tôn nữ mới đủ can đảm chết vì tình. Những người đàn ông trong dòng họ tôi chỉ đủ can đảm để bỏ chạy.
05 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 71938)
t ôi ngồi tháo gỡ chiếc áo tầm gai đan kín cơn mơ gió thổi qua tiếng thở dài âm âm vực tràn bất hoại ngày trần truồng , thản nhiên đứng ngó trăm năm
05 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 66749)
M ai về sau, mai về sau Mối duyên xanh liệu nguyên màu ấy không? Mắt còn chết trong mắt trong? Lòng thanh tân cháy giữa lòng thanh tân?
05 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 61053)
T ấm thân mịn màng như dải lụa, như ánh trăng ngà của Mẹ trông nguyên vẹn như đã được đắp rất kín rất kỹ, như đã thiếu một bàn tay ấm áp mặn nồng từ xa xưa lắm, là dấu tích, là chứng cớ âm thầm Mẹ mang theo đến hết cuộc đời.
05 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 68021)
L ần đầu cộng tác cùng Tạp Chí Hợp Luu, Uyên Lê là bút hiệu của Lê Huyền Mai Uyên, một người viết trẻ đang sống và việc tại Sài gòn. Với bút pháp tự nhiên và mềm mại như thơ, tác giả sẽ đưa chúng ta vào một không gian truyện huyền diệu như cổ tích. Mời quí văn hữu cùng bạn đọc cùng bước vào truyện “Đất, Lửa, Nước và Gió…”của Uyên Lê.
04 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 62759)
T ình đã nối dài những ngày mưa cùng nắng Đừng nhìn anh bằng buổi chiều ngang nghĩa trang Tiễn biệt nỗi buồn rưng rưng đôi dòng lệ Hãy cùng anh ra quán
03 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 62801)
A nh hùng gẫy súng biển Thuận An Tháng ba tháng tư cùng ứa lệ Cao Xuân Huy hề! con trăng xế Thông reo vi vút sầu bạt ngàn.
03 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 47415)
rồi thiên anh hùng ca cũng từ từ khép lại nghìn năm sau nại hà sông vẫn dài thêm tuổi đường trần sao quá vội ngày hai buổi không về cùng chiều lặng. chiều tê
03 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 43376)
Nhà báo NGÔ VƯƠNG TỌAI đã TẠ THẾ vào lúc 12:22 AM ngày Thứ Năm, 03/04/2014 tại Nhà thương Fairfax,Virginia sau một thời gian dài chống trả với chứng "suy gan". Hưởng thọ 68 tuổi. Xin chân thành chia buồn cùng tang quyến.
02 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 68067)
ở góc tối khu vườn hoa huệ chuông bắt đầu thỉnh nguyện hãy gối đầu tay em gối đầu tay em hoa sấu rụng đau lâm râm ngõ nhỏ đừng tin những câu thơ thiếu ngủ
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9846)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16691)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15692)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16124)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1260)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3193)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3025)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2966)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 1111)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5176)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 7165)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6472)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 594)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 458)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1230)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2531)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2356)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2192)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2364)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2401)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 983)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13482)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29575)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35672)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10656)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12617)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2036)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 3025)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3195)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3387)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4041)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7723)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7066)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9798)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.