- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Vài Vấn Nạn Lịch Sử Thế Kỷ XX: Vài Cảm Nghĩ Về Thượng Tọa Thích Quảng Đức

Monday, June 10, 201312:00 AM(View: 77687)


hoathuongthichquangduc_1-content


Vài Cảm Nghĩ Về

Thượng Tọa Thích Quảng Đức

 

Nhiều năm đã trôi qua từ mùa Pháp nạn 1963. Hội thảo về cuộc tự thiêu bi tráng của Thượng Tọa Thích Quảng Đức (1890-1963) ngày 11 tháng 6 năm 1963 là một việc làm đầy khích lệ, dù hơi muộn màng. Đây là một trong ba biến cố gây chấn động dư luận thế giới và làm rung chuyển chế độ Ngô Đình Diệm (1954-1963).

 

I. TÀI LIỆU: ĐÃ KHÁ ĐẦY ĐỦ

Tài liệu văn khố Mỹ và Việt Nam đã bắt đầu mở ra cho những nhà nghiên cứu.

 

A. Tài liệu văn khố Mỹ giúp soi sáng chính sách Phật Giáo của Mỹ, và quan điểm của chính phủ Ngô Đình Diệm về cuộc tranh đấu của Phật Giáo. Đặc biệt, văn khố Mỹ giúp thấy rõ hơn liên hệ Mỹ-Việt trong giai đoạn 1961-1963, cùng lập trường chao đảo của họ Ngô, khiến bang giao Mỹ-Việt xấu đi. (Xem Chính Đạo, “‘Phiến Cộng’ Trong Dinh Gia Long,” Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng (Văn Hóa, 2004)

Qua những tài liệu đã giải mật, các viên chức Mỹ—đặc biệt là cố vấn An Ninh Quốc Gia McGeorge Bundy và các viên chức Bộ Ngoại Giao—bày tỏ thiện cảm với Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo, và không ngừng áp lực Tổng thống Ngô Đình Diệm phải giải quyết mau chóng các nguyện vọng của Phật Giáo. Thậm chí, Ngoại trưởng Dean Rusk từng đe dọa sẽ công khai tuyên bố tách biệt khỏi chính sách tôn giáo của Việt Nam Cộng Hòa.

B. Trung tâm Lưu Trữ Quốc Gia [TTLTQG] 2 tại Thành Phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn) có ít nhất 60-70 hồ sơ về Phật Giáo miền Nam thuộc kho [fonds] Phủ Tổng Thống Đệ Nhất Cộng Hòa (HS 7941, 8500- 8541) và Phủ Thủ Tướng Việt Nam Cộng Hòa (HS 29229, 29368-29369, 29371-29372, v.v...). [Xem Phụ Bản I]

Trở ngại đáng kể cho các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp là phải có giấy giới thiệu chính thức từ một cơ quan đối tác trong nước. Thêm nữa, vì các Trung tâm Lưu trữ thuộc quyền quản lý của Bộ Nội Vụ, việc xin phép tham khảo và sao chụp tư liệu tốn rất nhiều thì giờ cũng như “rất nguyên tắc” (phải phù hợp xít xao với đề tài nghiên cứu).

C. Nhà bảo tàng chùa Từ Đàm cũng có nhiều tài liệu quan trọng. Ít nhất một học giả Việt đã sử dụng các tư liệu này. (Lê Cung)

D. Văn khố Pháp, nhất là Bộ Ngoại Giao, cũng đã mở. (Fonds Cambodge-Laos-Vietnam). (Xem Chính Đạo, Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng (Houston: Văn Hóa, 2004; Idem, Việt Nam Niên Biểu, 19391945, Tập I-C:1955-1963 (Houston: Văn Hóa, 1997 )

E. Không kém quan trọng là báo cáo của Ủy Ban Điều Tra LHQ tường trình về sự vi phạm nhân quyền tại Nam Việt Nam (7/12/1963). [UN/GA Doc. A/5630, 7/12/1963 (Item 77) ]

Xem thêm: HS29372: UBLP PhậtGiáo, 1963-1964

F. Hầu hết các tác nhân lịch sử đã viết hồi ký: Thích Trí Quang (“Xá lợi” trái tim Bồ Tát Quảng Đức), Thích Tâm Châu, Vũ Văn Mẫu, Đỗ Mậu, Trần Văn Đôn, v.v...

G. Thiếu sót chăng là tài liệu văn khố Đảng Cộng Sản Việt Nam và Đảng Cộng Sản Trung Hoa.

Một vấn nạn không thể không tra vấn là vai trò của Đảng CSVN và cơ quan tình báo hải ngoại Trung Cộng. Những khoen nối thiếu sót này có lẽ phải chờ đợi ở những khám phá mới của các nhà nghiên cứu mai hậu.

 

II. THỜI GIAN CŨNG ĐÃ KHÁ DÀI, ĐỦ ĐỂ DỊU LẠI NHỮNG XÚC ĐỘNG

Kiêu khí “đại thắng” hay mối hờn oán “mất đi một lãnh tụ” đã phần nào phai nhạt.

Đại đa số các tăng ni, Phật tử từng tham dự phong trào tranh đấu 1963 đều đã ngoài hay suýt soát thất tuần, lìa đời, bị cô lập trong nước hay lưu vong hải ngoại. Những vị còn sống không thể không đánh giá lại phong trào tranh đấu, nhất là sự hy sinh mạng sống cho Phật Pháp của Thượng Tọa Quảng Đức và sáu vị tăng ni khác—Kết quả chung cuộc của phong trào Phật giáo 1963 là một chế độ độc tài giáo phiệt, “kiêu đạo, kiêu dân” bị sụp đổ nhưng lại tiếp nối bằng chế độ “kiêu tướng, kiêu binh,” và rồi “dân chủ nhân dân” xây dựng bằng “mũi súng và công lý nhân dân.”

Những người Ki-tô giáo thông minh và bình thường—dù không chấp nhận sự tự hủy như một đức hạnh—khó thể phủ nhận “hạnh Bồ Tát” của các vị tăng ni đã có dũng cảm tự nguyện tử đạo. Trường hợp Thượng Tọa Quảng Đức còn đặc biệt hơn. Thượng Tọa đã có hơn 60 năm tu tập, lập nên gần 30 cảnh chùa suốt hai miền Trung-Nam, và từng hoạt động hăng say cho việc thiết lập và mở mang Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam trong nhiều thập niên. Đó là chưa nói đến hàng trăm ngàn, hàng triệu Phật tử, sinh viên, học sinh chịu cảnh giết chóc, đánh đập, tra tấn nên thương tật, tù đầy. Nếu chế độ Ngô Đình Diệm không lâm vào “cơn điên rồ của một gia đình cai trị chưa từng thấy từ ngày [sụp đổ của] Nga Hoàng,” cuộc nội chiến 1954-1975 đã có thể có một kết cuộc khác.

 

III. TRỞ NGẠI LỚN NHẤT LÀ CHỨNG BỆNH “CẬN THỊ LỊCH SỬ”

A. Lẫn lộn giữa “sự thực sử học” và “cảm nhận lịch sử.”

Phần lớn những điều đã viết về Quảng Đức đều khó thoát khỏi hai trường phái: “cung văn” [hagiographies] và “đào mộ.”

1. “Cung văn”:

a. Quan điểm và cách giải thích của giới Phật Giáo miền Nam (Trí Quang, Nhất Hạnh); hoặc,

b. Những người thiện cảm: Vũ Hoàng Chương, các sinh viên và thanh niên Phật tử, v.v...

2. “Đào mộ”:

Quan điểm và cách giải thích của chính quyền Ngô Đình Diệm cùng tàn dư Cần Lao-Ki-tô

- “drugged” [chích thuốc]:

Chính Tổng thống Kennedy cũng đặt vấn đề thực chăng bị “thuốc.” Các cố vấn của Kennedy cho rằng niềm tin tôn giáo quá đủ cho việc này.

Cơ quan tuyên truyền của chính phủ Diệm và tàn dư Cần Lao hải ngoại thỉnh thoảng nhắc lại cáo buộc vô căn này.

- thiêu đốt một sư, nướng chả một sư

Theo Trần Thị Lệ Xuân, đây là việc “barbecue a monk” [nướng chả một ông sư], với xăng nhập cảng.

- bị “bình nghị” để cưỡng ép các vị chân tu tự thiêu

Theo Ngô Đình Nhu, đây là một vụ “thiêu đốt Thượng Tọa Quảng Đức” của một nhóm sư sãi muốn lợi dụng tôn giáo khuynh đảo chính phủ. Họ dùng phương pháp “bình nghị” để cưỡng ép các vị chân tu phải lần lượt tự thiêu để họ liên tục khai thác bên cạnh những xác chết đó hầu thực hiện những âm mưu chính trị của họ. [tr. 7] Có người bật quẹt đốt Quảng Đức vì hộp quẹt trong người Thượng Tọa bị ướt, không cháy. Vị sư đưa hộp quẹt cho một người khác đốt Quảng Đức sau này hối hận bỏ trốn, bị lùng bắt để thủ tiêu. (VNCH, UBLBĐTACL, Biên bản số 62: Phiên họp của UBLBĐTACL tại Dinh Gia Long ngày 23/8/1963, tr. 6-12; PTT/1CH, HS 8278)

- cố sát

Ngô Đình Thục cho rằng đây là một vụ cố sát.

- án mạng oan uổng:

Ngay tối ngày 11/6/1963, Diệm đọc diễn văn “kêu gọi đồng bào [thủ đô] hãy bình tĩnh nhận định tình thế, sáng suốt xét mọi vấn đề trên căn bản lương tri và ái quốc.” Thông báo Ủy Ban Liên Bộ và phái đoàn Phật Giáo đã bắt đầu tiếp xúc từ ngày 5/6/1963 và từ hôm sau, 12/6, hai bên sẽ tiếp tục thảo luận. “Rất đỗi đau lòng” khi thấy “do sự tuyên truyền quá khích che giấu sự thật, gieo sự hoài nghi về thiện chí của chánh phủ, khiến một số người bị đầu độc gây một án mạng oan uổng.” Long trọng cam kết rằng "sau lưng Phật Giáo trong nước hãy còn có Hiến Pháp nghĩa là có tôi" [Budhism in Vietnam finds its fundamental safeguard in the Constitution of which I personally am the guardian]. (“Lời kêu gọi của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa,” PTT/1CH, HS 8501 & 8511; NYT, 12/6/1963)

 

B. Một cái nhìn khách quan, khoa học:

Cuộc tự thiêu của Thích Quảng Đức tự nó là một biến cố phục vụ và hoằng dương Phật Pháp

1. Nó vượt trên vấn đề “giáo kỳ” từ ngày 6/5/1963 tới 10/6/1963.

2. Nhấn mạnh hơn vào tinh thần và nguyên tắc của 5 nguyện vọng ngày 10/5/1963 cùng bản Phụ Đính ngày 23/5/1963: Tự do tín ngưỡng và bình quyền tôn giáo.

3. Trong ba biến cố cao điểm của phong trào Phật Giáo năm 1963—cái chết của Phật tử đêm 8/5 tại Huế, cuộc tự thiêu của Quảng Đức ngày 11/6 và chiến dịch “vét chùa” ngày 20-21/ 8/1963—đây là biến cố duy nhất phong trào Phật Giáo tranh đấu giữ thế chủ động. Nếu muốn xếp hạng cuộc tự thiêu này như một thứ vũ khí tranh đấu, nó là “vũ khí” của người yếu chống lại kẻ mạnh và ác, là ánh sáng của lương tâm soi rõ những góc cạnh xấu xí, dơ bẩn của quyền lực thế nhân, là ngọn lửa hâm nồng, nếu không phải đun sôi dòng máu lạnh của đám đông đang bưng tai, bịt mắt, co ro trong ngục tối đen lạnh của sự sợ hãi bạo quyền. Nó có tác dụng mãnh liệt hơn tuyệt thực, mít tinh, biểu tình, khẩu hiệu, truyền đơn—nó phá vỡ sự dửng dưng của dư luận quốc tế.

4. Cuộc tự thiêu của Thích Quảng Đức khiến thay đổi hẳn thái độ của người thường được các nhà lãnh đạo ngoại quốc mô tả như “a religious fanatic” hay “a Catholic mystic.”

a. Thái độ sơ khởi của chính phủ Diệm là hạn chế hậu quả tai hại [“damage control”] của “chỉ thị” cấm treo cờ Phật Đản và tội ác chiến tranh [war crimes] và “tội ác chống lại nhân quyền” [crimes against Human Rights] của chế độ sau vụ thảm sát thường dân ở Huế tối ngày 8/5/1963: nhân nhượng vừa phải, và thương thuyết trên thế mạnh.

Ngụy tạo tin tức (lựu đạn, rồi mìn plastic, trút mọi trách nhiệm cho “Việt Cộng”

Thứ Bảy, 18/5/1963:

* Sài-Gòn: Đại sứ Nolting gặp Diệm. Nolting yêu cầu Diệm thỏa mãn nguyện vọng của Phật giáo để ổn định tình hình. Diệm cần chịu trách nhiệm về biến cố ở Huế, bồi thường cho nạn nhân, và tái khẳng định chính sách bình quyền tôn giáo và không kỳ thị. (Đề nghị này Nolting đã trình về BNG ngày 18/5 và được Rusk chấp thuận ngày 21/5; FRUS, 1961-1963, III:312)

Diệm không có thái độ rõ rệt và muốn kéo dài thời gian. Theo Diệm:

- Biến cố ở Huế là do các lãnh tụ Phật giáo khích động;

- Những người chết ở Huế là do lựu đạn, do Cộng Sản hay những người chống đối chế độ ném, không phải người của chính phủ;

- Một số lãnh đạo Phật giáo lợi dụng biến cố ở Huế để củng cố thế lực trong nội bộ Giáo hội;

- Vấn đề Phật giáo không quá nghiêm trọng như Mỹ tưởng nghĩ. (FRUS, 1961-1963, III:314)

Dù được xem những khúc phim về cuộc đàn áp—chứng minh quân lính của Sỹ bắn vào Phật tử—Diệm không thay đổi lập trường.(Gravel, II:226)

 

Diệm tiếp xúc với phái đoàn đại diện Phật Giáo ngày 15/5/1963, nhưng trốn trách nhiệm.

Dùng vũ lực đàn áp

Đặc biệt là tại Huế và Sài Gòn. Dùng Nhảy Dù, Cảnh Sát Chiến Đấu, Mật vụ, chó berger, và ngay cả blister gas khiến 67 sinh viên, học sinh, Phật tử bị thương; phong tỏa người biểu tình trong vòng rào kẽm gai.

Nghi ngờ cuộc tranh đấu có bàn tay CS & ngoại bang:

- Dị ứng với cuộc tấn công tuyên truyền của Hà Nội & MTGPMN.

- Dị ứng với sự can thiệp tích cực của Tòa Đại sứ Mỹ và Oat-shinh-tân

(Phải giải quyết ngay bằng không sẽ tự tách biệt khỏi chính sách tôn giáo của Diệm).

- Dị ứng với sự ủng hộ phong trào Phật Giáo của dư luận thế giới.

 

b. Ngọn lửa Quảng Đức khiến Diệm thay đổi thái độ [dưới áp lực mạnh của Tòa Đại sứ Mỹ]:

- Chấp nhận ký Thông Cáo Chung 16/6/1963 [thành tín hay không. đây là một chiến thắng cho Phật Giáo]

- Hạn chế sự chống đối của những thành phần quá khích như Lệ Xuân [từ ngày 17/6/1963 đã công khai đả kích Thông Cáo Chung và tìm mọi cách cản trở việc thực thi].

 

5. Nhưng bỗng xuất hiện một biến cố vượt ngoài phong trào tranh đấu: Việc bổ nhiệm Henry Cabot Lodge, người nổi danh “vua đảo chính,” làm Tân Đại Sứ [Diệm được hỏi ý kiến ngày 22/6/1963].

 

6. Tiếp đó và song song là:

a. Âm mưu của De Gaulle và Lalouette nhằm “trung lập hóa” Đông Dương—không chỉ để “phá Mỹ” mà chủ yếu vì quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp.

b. Những lời tuyên bố của Hồ Chí Minh về một chính phủ liên hiệp, trung lập, trên căn bản Hiệp định Genève 1954, và nằm ngoài vùng ảnh hưởng Mỹ [để bảo đảm sự an toàn cho cửa ngõ chiến lược phía Đông Nam của Trung Cộng].

 

c. Nhất Linh Nguyễn Tường Tam uống thuốc độc tự tử

[“Di ngôn” ngày 7/7/1963 của Nhất Linh và sự nhập cuộc của sinh viên học sinh. Cùng với cái chết của Quảng Đức, đây là mồi lửa thứ hai thiêu hủy chế độ nhà Ngô. Theo bản tin Đài VOA ngày 9/7/1963, ngày 7/7, Nhất Linh để lại di ngôn: “Đời tôi có lịch sử xử, tôi không chịu để ai xử cả. Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử đối lập Quốc Gia là một tội nặng sẽ làm cho nước mất về tay Cộng Sản. Tôi chống đối sự đó và tự hủy mình cũng như Hòa Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để cảnh cáo những người trà đạp mọi thứ tự do.” (PTT/1CH, HS 8500)

 

d. Không kém quan trọng, chiến dịch khai thác cuộc tranh đấu của Phật Giáo của Hà Nội: Một “món quà từ trên trời rơi xuống,” theo lời Nguyễn Hữu Thọ.

- Mít tinh, tuyên cáo đả kích Mỹ-Diệm và ủng hộ cuộc tranh đấu của Phật Giáo trước dư luận quốc nội cũng như quốc tế.

- Xâm nhập cán bộ vào các đô thị và phong trào tranh đấu.

- Gia tăng hoạt động quân sự, đánh phá các đồn bót và Ấp chiến lược.

- Khoét sâu sự khác biệt giữa chính quyền miền Nam và Phật Giáo.

Thứ Hai, 15/7/1963:

* Sài-Gòn: Có tin MTGPMN kêu gọi binh sĩ và Cảnh sát ủng hộ 5 nguyện vọng của THPGVN. (HS 8501)

* Liên Khu V: Hội nghị Khu Ủy Khu V mở rộng [tới ngày 31/7/1963]

Nghị Quyết: [VKĐTT, 24:895-954] Cần phải và có khả năng kiềm chế địch trong loại chiến tranh thứ ba và thắng địch trong loại chiến tranh ấy. [tr. 907]

trường kỳ kháng chiến, đánh địch trường kỳ, giành thắng lợi từng phần [tr. 908]

ở miền núi, đấu tranh võ trang là chính [tr. 910]

ở đồng bằng, đấu tranh chính trị, vũ trang song song.[tr.910]

ở đô thị đấu tranh chính trị là chủ yếu, có kết hợp đấu tranh vũ trang trong một mức độ nhất định.[tr. 911]

“trước mắt ra sức nuôi dưỡng mở rộng cuộc đấu tranh của đồng bào Phật Giáo và nhân dân các tầng lớp chống địch đàn áp Phật Giáo, chia rẽ các tôn giáo.” [tr. 942] (Huế: thuộc Liên tỉnh 1 của Khu V)

Khu VI [tháng 10/1963]:

“cần chú ý tranh thủ xây dựng cơ sở trong tín đồ Phật Giáo và từng mặt liên minh hành động tiến tới nắm một số sư sãi tiến bộ, có uy tín trong giới Phật Giáo, cũng như phải tích cực tranh thủ xây dựng những phấn tử lớp trên... có xu hướng tiến bộ để tiến tới hình thành Mặt Trận lâm thời của thành phố.” (VKĐTT, 24:989)

 

Tất cả những yếu tố trên dẫn đến chiến dịch “vét chùa” và ban hành thiết quân luật đêm 20-21/8/1963: Đây là một chiến thắng lớn của Phật Giáo, vì anh em họ Ngô đã công khai đương đầu với Mỹ, trong một cuộc đương đầu chỉ có thua— qua chính sách đàn áp Phật Giáo, như một biểu hiệu của thái độ “không ăn được thì đạp đổ” và “dằn mặt” Đại sứ Lodge; tạo cơ hội cho Lodge bắt đầu kế hoạch đảo chính.

Những chiếc đinh khác đóng thêm lên nắp quan tài Đệ Nhất Cộng Hòa:

e. Maneli vận động gặp Nhu

f. India dàn xếp cho đại diện Ngô Đình Diệm (Trần Văn Dĩnh) gặp đại diện Hà Nội ở New Dehli vào khoảng trung tuần tháng 11/1963. (Hammer)

Từ đó, kiêu binh không xếp hàng một mà tranh giành, gấu ó nhau chạy đua vào Dinh Gia Long. Chính trường xuất hiện những “lãnh tụ” (sic) ham mê “đá gà”, xem vũ khỏa thân, cờ bạc, rượu chè, trai gái.

 

IV. QUAN ĐIỂM CHÍNH TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA “NHỮNG MỤC TIÊU CHÍNH TRỊ GIAI ĐOẠN.”

Nghiên cứu về Phật Giáo tại nội địa Việt Nam, nhất là phong trào tranh đấu 1963, rất khó khách quan và khoa học.

A. Có khuynh hướng “bắt” tôn giáo phải nằm trên chiếc giường của tên tướng cướp “duy vật biện chứng” Marxist-Leninist. Việc xếp hạng Phật Giáo cổ truyền vẫn được duy trì, nhưng hai cách xếp hạng khác, có yếu tố quyết định, bất di bất dịch: Phật giáo “yêu nước” (Phe ta) và Phật Giáo “phản động” (Ngụy).

B. Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất Việt Nam, mà đại đa số vốn chống Cộng hoặc không-cộng-sản, vẫn chưa được nhìn nhận. Mặc dù một thiểu số tăng ni được trọng dụng, nhiều tăng ni tranh đấu năm 1963 đã bị cải tạo và quản chế. Có người đã chết trong tù ngục CS (Thượng tọa Thích Thiện Minh, gốc Quảng Trị). Những danh tăng như Thích Quảng Độ hay Thích Huyền Quang vẫn bị coi như “bất hợp pháp,” bị cô lập, chỉ định cư trú và liên tục bị giám sát, nhục mạ. Viện Hóa Đạo II ở hải ngọai không được phép hoạt động cứu tế xã hội, xây chùa, sợ “diễn biến hòa bình.” [Mới đây, Thượng Tọa Thích Thiện Minh (51 tuổi, gốc Bạc Liêu) mới được phóng thích khỏi ngục tù sau 26 năm giam cầm, bị quản thúc ở Bạc Liêu, xin dựng một ngôi chùa thờ Phật thì chịu đủ ngược đãi tinh thần].

C. Thảo luận về Quảng Đức và Phong trào Phật Giáo 1963 không thể không nói đến sự chống đối của những thành phần Ki-tô giáo quá khích, hoài tưởng họ Ngô. Với những người này, hễ ngoại đạo là “ác quỉ” và Ngô Đình Diệm là “thánh” của họ.

PThT, HS 29253:

* 13/11/1963: Trung tướng Mai Hữu Xuân, TGĐCSQG, báo cáo lên Bộ An Ninh là một số đồng bào gốc Bùi Chu vẫn ủng hộ Ngô Đình Diệm. Họ tập trung tại nhà thờ Bùi Phát đường Trương Minh Giảng, nhà thờ Ngã Ba Ông Tạ, nhà thờ Phú Nhuận cầu nguyện cho NĐDiệm. Theo họ Diệm còn sống, một ngày kia sẽ trở lại lãnh đạo VNCH.

Trong khi đó tín đồ Phát Diệm của GM Từ chống Diệm.

Xuân yêu cầu bộ Thông Tin có biện pháp đánh tan tư tưởng thân Diệm.

* 16/11/1963: Tỉnh trưởng Thừa Thiên, Trung tá Trần Văn Mô, gửi Trung tướng TL/QĐ I kiêm Đại biểu CP/TNTP:

- Lúc 19G30 ngày 9/11/1963, Linh mục Võ Văn Quang, Tuyên úy Trung tâm Cải huấn Thừa Thiên, hỏi ông Quản đốc về thái độ với việc lật đổ Diệm. Quang tuyên bố anh em Diệm-Nhu còn sống, đang ở Mỹ. Đài Vatican trách Mỹ đã đưa hai ông xuất ngoại. Quang còn nói chính cha [Nguyễn Văn] Thuận đã cho người rình lén, thấy hai ngôi huyệt không có xác Diệm-Nhu.

- Linh mục Lộc, ở Mỹ Á, quận Vĩnh Lộc: Ngầm lãnh đạo con chiên chống Cách Mạng.

- Linh mục Bửu Đồng, xứ Sư Lổ thượng, xã Phú Hồ, quận Phú Vang: Tối 4/11/1963 tập trung khoảng 20 con tin quá khích, gồm thành phần cũ, họp kín.

- Linh mục Điển, sở Đại Phú, xã Phong Lộc, quận Phong Điền: Trong buổi họp ngày 13/11/1963 có những lời khiếm nhã.

- Linh mục bổn sở họ Vĩnh Nguyên, xã Phong Nguyên, quận Phong Điền: Cho giáo dân học võ chuẩn bị đánh nhau với Phật tử.

- Linh mục bổn sở Lai Hà, xã Quảng Lợi, quận Quảng Điền: Cấu kết với tay chân Nguyễn Xuân Khương có thể cất giữ vũ khí và có hành động khả nghi.

* 29/11/1963, TGM Francesco de Nittis, Khâm mạng Vatican, than phiền Giáo dân Ki-tô bị ngược đãi tại Thừa Thiên và Quảng Trị. Ngày 3/12/1963, Nguyễn Ngọc Thơ yêu cầu BT An Ninh điều tra việc này. Tôn Thất Đính báo cáo: Cộng Sản xúi giục.

* Một trí thức Ki-tô ở hải ngoại từng kết thúc tập “nghiên cứu” về cái chết của Ngô Đình Diệm bằng câu “Ngô Tổng thống muôn năm” và “Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng thống.”

Bàn về những nhóm Ki-tô quá khích này có thể đi ngược lại chủ trương “đại đoàn kết” của Đảng CSVN hiện nay—khối giáo dân Ki-tô chỉ nín thở qua sông, “cho các ông ấy tạm giữ đất nước hộ mình.” Nói về tổ chức, cán bộ, nhân vật lực, hiện nay khối Ki-tô đang hồi phục dần. Vấn đề không phải là liệu họ có nổi dậy chống chính quyền Cộng Sản hay không. Vấn đề là “Bao giờ?”

 

Kết Luận:

Hội thảo về Quảng Đức phải là một công trình nghiên cứu nghiêm túc, để từ đó:

1. tìm ra những sự thực sử học về một biến cố đã khiến đổ nhiều máu và nước mắt;

2. từ những sự thực sử học này mới có thể rút ra những bài học hữu dụng cho tương lai.

Nếu Hội thảo về Quảng Đức chỉ đưa đến những tập hợp cảm nhận lịch sử—một tập hợp những lời cung văn và đào mộ—hay nhắm vào những mục tiêu chính trị giai đoạn nào đó thì cầm bằng chẳng nên có cuộc hội thảo.

Houston, 10/6/2005
Vũ Ngự Chiêu

 

 

Phụ Bản I

SƠ LƯỢC NHỮNG TƯ LIỆU VĂN KHỐ VỀ PHẬT GIÁO 1963

TÀI LIỆU PHỦ TỔNG THỐNG ĐỆ NHẤT CỘNG HÒA

HS 7941: Ngày 20/2/1962, Hòa thượng Thích Tịnh Khiết gửi thư cho Diệm. Than phiền việc đàn áp Phật Giáo tại Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam.

Diệm gặp Mai Thọ Truyền, rồi chỉ thị Bùi Văn Lương điều tra. Lương cử Trung Tá Trần Văn Thưởng, Giám đốc CSCA TNTP điều tra. Theo Thưởng, cả hai bên đều có lỗi. Chỉ xảy ra ở một vài xã. (Báo cáo ngày 18/6/1962 của Bùi Văn Lương)

HS 8501: Sắc lệnh 84-TTP, ngày 20/8/1963 của NĐD, ban hành “tình trạng giới nghiêm” trên toàn quốc.

Quân đội chịu trách nhiệm bảo vệ an ninh: xét tư gia bất cứ giờ nào, bắt giữ những người xét có hại cho an ninh công cộng. Cấm mọi cuộc tụ họp có thể phương hại cho trật tự an ninh công cộng, hạn chế tự do báo chí, kiểm soát phát thanh, kịch ảnh, cấm tàng trữ, lưu hành những ấn loát phẩm, tài liệu có hại đến an ninh công cộng. [cũng có trong HS 8506] Hiệu lực tới 12G00 ngày 16/9/1963. SL104-TTP ngày 14/9/1963.

HS 8502: Nha CS miền Bắc TNTP báo cáo về sự can thiệp của Mỹ “để khuynh đảo chính phủ.”

Lời khai của Thiện Siêu, Thiện Minh, Chánh Lạc, Lê Khắc Quyến, Vĩnh Kha, Trần Công Tho, Tôn Thất Kỳ.

HS 8503: Tài liệu Nha TGĐCSCA v/v cuộc tranh đấu của Phật Giáo.

11/6/1963: Thích Quảng Hường, trụ trì chùa Khai Đơn, Ban Mê Thuột, đòi tự thiêu tranh đấu cho 5 nguyện vọng của Phật Giáo.

HS 8504-8505: Báo cáo hằng tháng của TGĐ/CSCA.

HS 8506: Các chùa trên toàn quốc bị khám xét.

Sắc lệnh số 84-TTP, ngày 20/8/1963, ban hành “tình trạng giới nghiêm” của NĐD. [cũng có trong HS 8501] Gồm 5 điều, công bố theo thủ tục khẩn cấp. Hiệu lực cho tới 12G00 ngày 16/9/1963; SL số 104-TTP, ngày 14/9/1963.

Tuy nhiên, “tình trạng khẩn cấp,” ban hành do SL số 209-TTP ngày 15/10/1961 vẫn còn hiệu lực.

4/9/1963: Bùi Văn Lương cho lệnh liệt kê các chùa trên toàn quốc.

HS 8507: Hồ sơ về việc ấn định thể thức treo cờ:

Nghị định mới, số 358/BNV/KS ngày 9/7/1963, về việc treo cờ trong những ngày lễ Phật đản.

Chỉ thị của NĐThục về việc treo cờ.

Trong đạo ta chỉ có một biểu hiệu là Thánh giá mà thôi. Anh em đừng nghĩ rằng cờ Tòa thánh Vatican là cờ có tính cách quốc tế nên được phép treo khắp nơi. Cái cờ bấy lâu gọi là cờ tòa thánh chỉ là cờ nước Vatican, không phải là cờ của đạo ta.

“...không phải một tấm vải vài đồng bạc mà thay được tín ngưỡng đâu.”

HS 8508: Dư luận Quốc tế

Báo cáo của Nguyễn Văn An, Trưởng Phái đoàn Giao dịch với Ủy Hội Quốc tế ngày 22/5/1963, 15/6/1963,

HS 8509: 5 nguyện vọng của Phật Giáo

Thông cáo chung 16/6/1963.

HS 8510: Trần Thanh Chiêu và Thương Phế Binh chống Phật Giáo

Trung tá Chiêu bị phạt 40 ngày trọng cấm, nhưng được thưởng Trung Dũng Bội Tinh, sau khi Hòa thượng Tịnh Khiết xin khoan hồng cho Chiêu.

HS 8511: Hồ sơ Việt Tấn xã về Phật Giáo

Gồm 3 tập, bằng ba thứ tiếng Việt, Anh, Pháp.

HS 8512: Danh sách các khuôn hội

HS 8513: Việt Cộng lợi dụng cuộc đấu tranh

Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo, Bản nghiên cứu đặc biệt về Phật Giáo Việt Nam, do Nguyễn Văn An soạn.

Bản tin tức đặc biệt ngày 24/8/1963.

Bản tin tức đặc biệt ngày 6/9/1963.

HS 8514: Một số lãnh tụ Phật Giáo

HS 8515: Phụ Nữ Liên Đới

HS 8516-8519: Kiến nghị của Quốc Hội

HS 8520: Báo cáo, CĐ về Phật Giáo

HS 8521-8522: Khiếu nại của Phật Giáo

HS 8523-8525: Báo cáo của Đại biểu TNTP

Mật điện đến (đặc biệt CĐ số 100/MM ngày 9/5/1963 của Tòa Đại biểu TNTP: Lựu đạn MK-2 từ đám đông ném ra; do khủng bố VC.

HS 8526: Truyền đơn của Tổng Hội Phật Giáo

HS 8527: Tài liệu Bộ Quốc Phòng

Báo cáo của Trần Thiện Khiêm, Đỗ Cao Trí, v.v...

HS 8528-8530: Hoạt động của Phật Giáo tại Thừa Thiên

HS 8529: CĐ tỉnh Thừa Thiên.

7/5-31/5/1963: Nguyễn Văn Đẳng

6/6-19/8/1963: Nguyễn Văn Hà.

21/8-2/10/1963: Thiếu tá Nguyễn Mâu.

HS 8530: Phản ứng của chính phủ.

Đặc biệt, báo cáo của Thiếu Tá Nguyễn Mâu, Tỉnh trưởng Thừa Thiên, với những lời buộc tội như “phản loạn,” “bọn lưu manh phản động đội lốt tôn giáo âm mưu phá rối an ninh công cộng.”

Từ năm 1968, Mâu chiếu cố các tăng ni tranh đấu khá kỹ, với sự tán thưởng của Trần Văn Hương.

HS 8531: Lý lịch các sư

HS 8532-8533: Hoạt động chống chính phủ tại Trung Phần và Nam Phần

HS 8534: Phật Giáo tại Đô thành

HS 8536: Ký giả ngoại quốc bị hành hung tại Chùa Miên trên đường Trương Minh Giảng

HS 8539: Báo cáo của các tỉnh

HS 8540: Trợ cấp cho Phật Giáo

HS 8541: Tài liệu Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo

HS 8278:

Biên bản số 62, Phiên họp ngày 23/8/1963. Có phát biểu của Ngô Đình Nhu về Phật Giáo.

 

TÀI LIỆU PHỦ THỦ TƯỚNG

HS29229: Phật Giáo, 1954-1955

HS29368: Phật Giáo, 1964

HS29369: Phật Giáo xin bồi thường thiệt hại, 1964:

Danh sách những người bị bắt giữ đêm 20 rạng 21/8/1963.

Tại Huế, có 127 người bị thương nhẹ, 33 bị thương nặng. Ngày 30/7/1964 mới gỉai quyết xong.

HS29371: Phật Giáo, 1964

Tại các tỉnh.

HS29372: UBLP Phật Giáo, 1963-1964

Báo cáo của LHQ về Phật Giáo: Ngày 13/12/1963, quyết định không cần phải thảo luận nữa.

HS29372a: Xung đột giữa Phật Giáo với quân đội, cảnh sát và Ki-tô giáo, 1963-1964

HS29380a: Ki-tô giáo chống chính phủ, 6-8/1964 (Sài Gòn & Vùng 1 CT);

HS29380b: Ki-tô giáo chống chính phủ, 1-12/1964;

HS29387: Liên tôn chống Cộng, 1964;

HS 29675: Phật Giáo, 1966;

HS 29679: Phật Giáo, 1966;

HS 29684b: Hoạt động của một số tu sĩ Phật Giáo, 1965-1966;

HS 29587: Hoạt động tôn giáo, 1963-1967;

HS 29588: Phân hóa của Phật Giáo, 1966-1967;

HS 30206: Phật Giáo Ấn Quang, 1968.

 

Trên đây chỉ là những tư liệu tôi có cơ hội tham khảo và làm phóng ảnh. Chắc chắn còn nhiều tài liệu khác nằm rải rác đâu đó. Cấm trích dịch nếu không có sự chấp thuận của tác giả.

(*) Tác giả xin cảm tạ Hội Đồng Fulbright Bộ Ngoại Giao Mỹ, và chương trình Rockefeller của William Joiner Center, đã tài trợ chuyến du khảo tại Việt Nam trong niên khóa 2004-005. Tác giả cũng ghi nhận sự giúp đỡ tận tình của Đại học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn Thành phố Hố Chí Minh, quí vị Giám đốc Trung tâm Lưu trữ Quốc gia, và các cơ quan liên hệ trong thời gian du khảo ở Việt Nam.

 (BÀI ĐÃ IN TRONG HỢP LƯU 84 / tháng 8 và 9 -2005)

 

Send comment
Your Name
Your email address
Saturday, February 22, 20251:05 AM(View: 25249)
Vườn nhà anh có cành ngọc lan xơ xác / Có cánh quỳnh chưa kịp nở / Nắng vô tình vàng thêm đọt lá / Mấy nhánh mơ màng rơi xuống thành thơ
Wednesday, February 19, 20251:43 AM(View: 26326)
Kiếp trước chàng là con Cá / bơi trong dòng sông Cửu Long / một hôm dòng sông dậy sóng / con Cá dạt bờ lìa sông
Tuesday, February 18, 202510:37 PM(View: 20543)
Rising Asia là một tạp chí học thuật đa ngành, ra 3 số mỗi năm, hoạt động từ 2021, chủ bút là TS Harish C. Mehta, hiện giảng dạy tại Đại Học Toronto, có trụ sở tại Bengal Ấn Độ. Tạp chí là nguồn tài nguyên để nghiên cứu, và giảng dạy về các vấn đề xã hội Châu Á. Mỗi tập của tạp chí đều có các bài bình luận giải thích về mọi khía cạnh của lịch sử, kinh tế, ngoại giao, văn học, y tế, khoa học, quân sự và văn hóa Châu Á.
Monday, February 17, 202510:44 PM(View: 23694)
Thu còn nhớ cả chiều xuân của Huế / Mùa đông trời se lạnh, nhớ không anh? / Tà áo bay phía Trường Tiền tan lớp / Hẹn anh về Vĩ Dạ ngắm mưa bay!
Monday, February 17, 202510:14 PM(View: 23824)
hãy giúp tôi cục cựa / súc gỗ cứng đơ đời / hãy em là thị lộ / xung trận tình đôi mươi
Monday, February 17, 20259:06 PM(View: 16106)
Tom Fawthrop là nhà báo, nhà hoạt động môi sinh người Anh, người bạn đồng hành bấy lâu với Nhóm Bạn Cửu Long. Anh đã tường trình về sông Mekong trong 12 năm qua với tư cách là nhà nghiên cứu và diễn giả tại các đại học ở Singapore, Thái Lan, Cam Bốt, và Việt Nam. Các bài viết của anh về lưu vực này đã được phổ biến rộng rãi trên các tạp chí Economist, The Diplomat và The Guardian. Tom cũng là nhà sản xuất cuốn phim tài liệu “Where have All the Fish Gone” về thảm họa trên sông Mekong.
Monday, February 17, 202512:12 AM(View: 19591)
Mấy hôm rày tôi không hát "ầu ơ ví dầu..." để ru cháu ngủ mà lại hay hát cái bài "Đón Xuân Này Tôi Nhớ Xuân Xưa". Cái thằng cu Ben em cu Tèo nghe êm tai mà "phê" vào giấc ngủ bình yên. Có lẽ do "ruột gan" của Ngoại nó có gởi qua đó để hát mà lị!
Sunday, February 16, 202511:59 PM(View: 21814)
tôi đọc được một bài thơ hay / tôi tẩn mẩn dịch lại bằng google / (miễn phí) / vì google có nhiều cái đầu / còn tôi chỉ có một cái đầu / tôi chỉnh sửa lại chút ít / dù google có nhiều cái đầu / tôi vẫn cặm cụi sửa / (chỉ để một vài người rỗi hơi đọc)
Sunday, February 16, 202511:16 PM(View: 26457)
từ em ngành ngon trơ vơ / quê hương anh đợi chiều ngơ ngẩn về / bóng đêm nghìn dặm sơn khê / đã che hết cả đường về xa khơi / bấy lâu lạc giữa cuộc đời / mà thương con nước xa vời đâu đây.
Friday, February 14, 202510:57 PM(View: 27165)
Khi trái tim, nhốm màu tím nhạt / Là bắt đầu, ngày lên cổ tích / Những con sóng ôm hôn năm mới / Chiều đong đưa, xanh thấm màu chiều
Friday, August 7, 2026(View: 3851)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
Saturday, August 16, 2025(View: 13295)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
Wednesday, December 18, 2024(View: 19664)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
Wednesday, December 18, 2024(View: 18645)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
Sunday, October 18, 20266:14 PM(View: 1647)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
Sunday, October 18, 20266:04 PM(View: 1810)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
Friday, October 9, 20266:39 PM(View: 2325)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
Friday, October 9, 20266:09 PM(View: 2435)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(View: 1472)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(View: 2216)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(View: 1960)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(View: 2006)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
Sunday, October 18, 20264:43 PM(View: 1385)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
Friday, October 9, 20265:49 PM(View: 2425)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
Friday, October 2, 202612:54 AM(View: 2639)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
Wednesday, September 23, 202610:53 PM(View: 2385)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
Tuesday, October 27, 2026(View: 249)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
Wednesday, October 21, 2026(View: 821)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
Monday, October 19, 2026(View: 1014)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
Monday, October 19, 2026(View: 1128)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
Friday, June 5, 2026(View: 6423)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
Friday, June 6, 2025(View: 15902)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
Friday, December 22, 2023(View: 32166)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
Wednesday, April 27, 2022(View: 38869)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(View: 1494)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(View: 13904)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(View: 6919)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(View: 10724)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(View: 9916)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(View: 10035)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(View: 10840)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
Monday, September 14, 20262:19 AM(View: 3465)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
Friday, October 31, 202510:09 PM(View: 11158)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
Saturday, October 25, 20251:53 AM(View: 10370)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi