- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Tĩnh lặng

30 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 119153)

 dimong-content

Đã mấy hôm rồi nhóm người làm việc trong im lặng, ngay cả tiếng thở cũng không vội vàng dồn dập, chỉ có tiếng đất đá lao xao giữa trưa nắng gắt. Thảng hoặc vị trưởng nhóm nói vài lời ngắn gọn và đáp lại thường chỉ là những cái gật đầu. Mịt mù lớp lớp từng đám mây bụi vàng lừng lững thảnh thơi bay bay trong nắng. Đất cứng rào rạo vỡ và thỉnh thoảng tiếng côn trùng tỉ tê trưa vắng làm rộn rã khoảng đồi trọc lác đác cây xanh. Gần đấy một người đàn bà trẻ đang nằm say ngủ dưới bạt, tóc rũ dài trên những rễ cây len lỏi đất đá và môi hé nụ cười trẻ thơ, riềm mi khe khẽ động đậy dưới hơi gió nóng.

... Thiếp đã nằm bao lâu trong lạnh lẽo với niềm yêu điên cuồng rạo rực đường xương thớ thịt. Nằm đến nỗi tiếng côn trùng nỉ non và tiếng đất lao xao cũng không khiến thiếp quan tâm gì nữa. Nằm đến nỗi thiếp không còn tính được thời gian, và những hoài niệm mỗi ngày một nhạt phai theo ngày tháng hững hờ xuôi tuột trên bốn bức tường khép kín buồn phiền như trong lòng huyệt tối...

Vào khoảng trời đứng bóng, cái nắng nghiệt ngã đổ xuống những chậu lửa mênh mông, nhóm người vẫn thường im lặng chợt reo to vang dội cả góc trời, cái lầm lì căng thẳng bỗng chốc biến thành nỗi hân hoan náo nhiệt, họ ôm chầm nhau reo mừng như trẻ con, vẻ mệt mỏi biến mất và người ta chạy đến nơi người đàn bà nghe reo vừa choàng dậy.

... Nắng vàng tươi, những tia mặt trời lặn lội bao nhiêu triệu dặm đã đẩy đưa chàng đến, hân hoan đánh thức cô công chúa ngủ giữa rừng già như người bất hạnh triền miên chợt nắm được niềm hạnh phúc. Những tia nắng ban đầu còn e thẹn rồi càng lúc càng bạo dạn hăm hở chen lấn nhau ùa dành vào trước, muốn làm nhân chứng đầu tiên trong giờ tao ngộ những kẻ lụy tình. Dưới cái nắng chói chang nhiệt đới, chàng và thiếp nhìn nhau với ánh mắt mừng rỡ ngỡ ngàng. Không một lời, mắt chàng rực một nỗi niềm gì không tả xiết, lung linh lung linh trong sáng. Và thiếp, mân mê những hạt gió luồn giữa các đốt tay xương xẩu, thẹn thùng mà chẳng biết làm sao che dấu tấm thân lộ liễu, vội chụp tấm chăn hạnh phúc choàng phủ khắp người. Tấm chăn hạnh phúc chưa một lần hoen ố, vẫn ấm áp ngàn năm.. Ôi, cuối cùng rồi thiếp cũng gặp lại chàng, người tình muôn kiếp. Vậy mà trong tối tăm mịt mờ đầu óc, trong bóng đêm bao phủ quanh đời, thiếp cứ ngỡ đã mất chàng rồi, vĩnh viễn...

Họ nắm tay nhau nhảy múa dưới nắng, những chiếc mũ tung lên, những hạt bụi bay vào mồm rộng mở với tiếng cười giòn dã của đoàn quân chưa hề biết mùi chiến bại. Những giọt mồ hôi óng ánh ngời theo tia mắt sáng rực cuống quýt đùn lên với nụ cười hả hê mãn nguyện, cái mãn nguyện của người tìm được kho tàng. Và họ công kênh người đàn bà trên những cánh tay chắc nịch, đi vòng vòng giữa đất đá chập chùng.

... Quàng ôm cổ chàng, thiếp bàng hoàng nhìn những cánh tay đã bị men yêu ngày tháng xói mòn. Những cánh tay ngày nào thanh tú nuột nà hờ hững làm bổn phận dâng trà dâng rượu, nhưng rồi lần một lần hai, những cánh tay đó đã đẩy bàn tay xa thêm chút nữa - chỉ một chút thôi, vừa vặn cho những búp ngọc lan còn đượm mùi trinh tiết chạm nhẹ vào tay ai hừng hực khí nam nhi. Những giây phút ấy tuy ngắn ngủi nhưng thiếp như ngọn cỏ non chạm được mặt trời, và ly rượu dâng chàng hăng hắc men tình của niềm yêu vụng trộm...

Chóp mũi dộp da rám nắng, mắt reo vui, vị trưởng nhóm khe khẽ nói với nụ cười lệch môi vì xúc cảm :

- Ôi, người tình muôn thuở của ta!

... Chàng kêu lên gần như thất thanh và thiếp muốn đáp lại lời đường mật, chợt gió luồn qua nhức buốt cả răng như thể đầu cổ mặt mày đều trống hoác. Thiếp lắc đầu nhìn chàng tuyệt vọng. Không nói gì và với thái độ của người diễm phúc nhất đời, chàng quỳ xuống nâng thiếp trân trọng khẽ khàng. Nhưng kìa... cái lạnh ở đâu ập tới, xuyên suốt người như chẳng chút thịt da bao bọc, một cái lạnh nhức nhối dù trời đang nắng gắt không chút heo may. Mệt mỏi mà hân hoan, thiếp nhìn chàng chậm rãi gói ghém mình tựa người ta nhặt nhạnh từng mẩu xương rời rạc, ngoan ngoãn phó mặc chàng ôm ấp trong chiếc chăn len êm ái màu rượu chát. Và khi tay chàng chầm chậm vuốt ve phần xương cụt hở hang mắt dại đi dưới nắng chói loà, thì cổ họng thiếp cũng thoát ra tiếng kêu rên của người trần tục...

Người ta vừa xôn xao kiếm tìm vừa líu lo cười nói và nuốt bụi, tay chân mồm miệng hoạt động không ngừng. Những chiếc mũ lệch lạc trên đầu, tóc bê bết mồ hôi quến bụi, họ thách thức cái nắng ngộp người với tất cả cuồng nhiệt hăng say trai trẻ. Tay áo quẹt mồ hôi, vị trưởng nhóm âu yếm vỗ nhè nhẹ vào vai người đàn bà trách đùa :

- Khó thế, mãi đến giờ mới cho gặp!

... Thiếp vẫn chờ đợi chàng mà! Và rồi chàng sẽ đặt thiếp nằm đâu trong cõi mênh mông nhân loại, chàng có ngồi bên cạnh ngắm nhìn ngấu nghiến như đêm hôm nào kéo thiếp lên từ nước? Bỗng dưng có cái gì khiến thiếp ngần ngại, một linh tính không vui cho những cuộc hẹn hò. Thiếp chẳng còn nhìn thấy mình nằm trên phiến đá phẳng phiu bên hồ đêm nào như trái đất mầu mỡ phì nhiêu để chiếc áo mỏng tanh mây khói dính sát vào người, lồ lộ dưới trăng những núi đồi mang mang tội lỗi. Và bên trong lớp da mịn màng đàn bà-con gái, dưới cái nhìn nổi lửa mặt trời, những ngọn núi ngàn năm còn im ngủ bỗng ngùn ngụt nhả ra phún thạch. Hai tay buông thõng phó mặc trần đời, hai đùi hững hờ tiêu diêu thế tục, thiếp nằm im nghe cái gì nóng rực sưởi ấm dần tấm thân lạnh hơi đêm vì ướt. Lớp lụa trong veo mời mọc, những lọn tóc lỏng toát mùi nước hoa lẫn mùi rong hồ ngào ngạt trong đêm cám dỗ mời tình. Cứ thế, thiếp nằm. Thiếp nằm.... hững hờ mà kiều diễm trong tư thế đòi yêu. Những con sâu leo lên từ đất, bò xuống từ trời, mơn man chầm chậm mấy ngón chân xinh đẹp. Rồi cả chục con sâu cứ trườn lên, trườn lên, trườn lên... cuống quýt bứt chiếc áo mây vốn chẳng che dấu bao nhiêu. Thiếp vẫn thản nhiên nằm. Có tiếng gió thở từ trời nghèn nghẹn, bứt rứt, và tiếng rít khe khẽ như sấm động dập dồn. Rồi có thân hình ai hân hoan vội vàng ngã xuống. Bây giờ mặt trăng mặt trời và trái đất cùng nằm ngang nhau nên thủy triều dâng lên, dâng lên mênh mang tràn trề sông biển đẩy chiếc thuyền tình ra khơi cuồn cuộn bão dâng với mặt trời chói rực. Cuối cùng không còn sâu bọ, không còn áo lụa khói sương, cũng không còn những giọt nước ao hồ, chỉ còn một khối trời mông mênh chụp lên trái đất. Và trời đất hối hả quyện vào nhau, đảo điên vũ trụ. Tất cả đều quay cuồng hoảng loạn, mang mang bóng tối trong cuộc chiến chinh... Và không còn tiếng gío dạo đêm, không còn tiếng lao xao lau sậy, không còn cả tiếng côn trùng tình tự, tất cả đều nín thở nhường chỗ cho tiếng kêu dã thú trong cuộc rượt đuổi hoang sơ tiền sử...

... Với con tim loạn nhịp yêu đương, với đôi tay vo tròn hạnh phúc, với đôi chân nhón bước vào tình, thân thiếp bạch tuộc quấn riết thân chàng. Và thiếp đớn đau hả hê hạnh phúc. Gió thổi nhẹ, hơi thở nồng nàn, những vuốt ve âu yếm, niềm yêu mãnh liệt mơn man... mắt thiếp khép hờ trong khói sương như huyễn như thật. Trăng vừa nhoài người ra khỏi màn mây, lờ lững phiêu du. Khí đêm rười rượi và nước dưới hồ kia ấm áp. Những ngôi sao lách giữa các tàn cây thưa lá, lặng lẽ mỉm cười hân hoan đồng loã. Bóng đêm, trăng, sao, mây, gió, cây cối, nước hồ, tiếng chim... những cái dửng dưng hằng ngày vô nghĩa, bỗng nhiên tự chúng mang ý niệm nhân sinh và linh cảm tình yêu...

Hăng say làm việc đến khi bóng ngả về tây và bới tìm đã đủ, nhóm nguời thu dọn đồ nghề mệt mỏi mà hân hoan. Vị trưởng nhóm âu yếm ôm người đàn bà quàng tấm chăn len màu rượu chát bước đến chiếc xe sáu ngựa. Đám tùy tùng rồng rắn hớn hở theo sau, một người nghêu ngao :

- Rằng a ới a đưa nàng... đưa nàng..., ta đưa nàng về dinh!

... Đường về dinh Thừa tướng gập ghềnh trắc trở, thiếp khép nép vào thành xe và nghĩ đến tướng quân. Cũng là ánh mắt thèm thuồng của các đấng mày râu, nhưng cái nhìn chàng khiến lối về nhà Thừa tướng chỉ thêm đau lòng thiếp. Thiếp đã nâng niu ánh mắt chàng đưa vào giấc điệp cho mộng mơ thành những hẹn hò, đã đẩy tia nhìn chàng trên từng phân từng ly da thịt cho những ước ao thành cuồn cuộn yêu đương... Vậy mà giờ đây tấm thân mảnh mai tội nghiệp chưa một lần di chuyển đường xa đành lắc lư theo bước ngựa. Hai bên đường cây cỏ ngẩn ngơ cố che dấu lòng trắc ẩn, nhoài người dang cánh tay rườm rà ve vuốt thân xe gửi lời giã biệt. Không có tiếng vó câu dập dồn, chỉ có tiếng gầm gừ giông bão của cỗ xe nghiêng ngả trên con đường hẹp. Trong cái chập choạng của chiều, thiếp ngắm nhìn những ngón tay thon nuột nà tự hỏi rồi mai đây, mai đây thiếp sẽ tô son điểm phấn vì ai, sẽ lụa là gấm vóc vì ai, sẽ yêu kiều ẻo lả vì ai? Không có chàng với cái nhìn nao nức thì những điểm tô chỉ là vô nghĩa, chỉ là hời hợt kiếp tôi đòi. Chợt lòng thiếp bất mãn buồn phiền vô tả. Chàng ở đâu và thiếp sẽ ở đâu...

Người ta đục một rãnh nhỏ vuông góc trên thanh gỗ rồi đổ chất kim loại nấu lỏng vào. Vừa kịp nguội thì họ bốc thanh kim loại ra, vặn vài vòng và bẻ cong như chiếc kiềng. Nó bị gãy chính giữa hệt chiếc kiềng trên cổ người đàn bà. Vị trưởng nhóm nhìn người ta và người đàn bà nhìn chàng.

Không biết chàng có cái thú nào khi nhìn và nghe người ta ba hoa về chiếc kiềng gãy, nhưng nhìn ngắm chàng đối với thiếp quả là lạc thú. Mấy sợi tóc muối tiêu loà xoà trước trán, cái vòng gì vàng vàng trễ trên sống mũi, lún phún chân râu xanh xanh dưới cằm, trên môi dày rõ nét - đôi môi đã nằm trên đầu lưỡi thiếp tựa nhân sâm bồi thêm sinh lực. Và sinh lực tràn trề oà vỡ con đê mất chân ngày lũ lụt. Trên phiến đá đêm trăng hôm đó, không còn tướng quân và cô gái con quan đại thần hay vợ yêu Thừa tướng, không còn mặt trời và nhành cỏ dại, chỉ có người đàn ông và người đàn bà dìu nhau vào niềm hoan lạc nhân sinh... Bên kia hồ là con đường nhỏ dẫn về dinh thất quan Thừa tướng, là toan tính những chuyện xa vời quốc gia đại sự... Còn bên này là tình yêu, là rạo rực, là chiếm đoạt, là tranh thủ từng phút giây hạnh phúc, là hai giống trời sinh để quyền quyện vào nhau... Thiếp đã mong nước hồ cứ dâng lên mênh mang mênh mang xoá vết bờ bãi bên kia cắt mất đường về. Hoặc hồng thủy ngùn ngụt bên này mang thiếp và chàng đang quắn quýt nhau vào cõi vĩnh hằng. Thiếp đã chối từ thân phận đứa con phải vâng lời dưỡng phụ, đã bứt vòng xiềng đàn bà xuất giá, đã đem sinh mạng mình thử thách quyền uy Thừa tướng, đã gạt bỏ nỗi sợ hãi cuộc đời, chỉ với hy vọng biến hai xác thân làm một thịt da, và làm người đàn bà cho tình yêu chàng, muôn thuở...

... Nằm như thế với nhau lâu lắm, không một lời, chỉ có hơi thở và con tim mà ngào ngạt hương hoa, chỉ có bàn tay nhà tướng mà sao tơ lụa, chỉ có thịt da mà cảm giác bao la bát ngát. Phút chốc thiếp đã là một người đàn bà khác, một người đàn bà biết yêu, thong thả sãi tay bơi trong biển tình mênh mông mà bờ bãi là giới hạn lúc trở về. Nên khi chàng luồn tay xuống lưng nâng nhẹ bảo Nàng về đi đêm lạnh rồi, thì thiếp chới với giữa giòng...

- Vậy là giải thích được tại sao chiếc kiềng gãy... Thôi được, coi như tạm xong hôm nay. Ta về đi.

... Thiếp không muốn về, cũng không muốn ngồi lên, cũng chẳng hề thấy lạnh. Thiếp chỉ muốn nằm đó, với chàng, muôn kiếp muôn đời gặm nhấm niềm yêu. Khởi đầu chỉ là những mưu toan mà trời ơi, sao người ta cứ phải dùng những tấm thân liễu yếu, sao người ta vẫn cứ phải nhờ vả chút nhan sắc bọt bèo. Rồi cái kế liên hoàn của cha biến thành hạnh ngộ tim mình, thiếp đã yêu chàng âm thầm sau lần đầu gặp gỡ. Nên từ đó những cái liếc mắt đưa tình trong khi múa hát, những uyển chuyển dáng đi khi dâng ly rượu, những cái thẹn thùng khép nép bên tường khi chàng dạo bước ngang qua, những cái lặng lẽ không lời chỉ còn tiếng lao xao tơ lụa, rộn rã xiêm y... vẫn mang nặng niềm riêng mà dưỡng phụ cứ tưởng vì quốc sự. Cái nhìn chàng luôn luôn là một ánh lửa nhen nhúm từ trời... Rồi giờ trà chiều hè nào trong căn nhà mát qua tấm màn tơ lung lay trước gió, một người con gái nằm nghiêng bên kia say ngủ, còn chàng thì lồ lộ tấm thân sơ sinh trên nền chăn lụa trắng... Giọng dưỡng phụ thì thầm rồi hét vào tai bảo thiếp cúi xuống, đi ra. Nhưng những sợi tóc trên người chàng kéo cằm thiếp lên, siết chân thiếp lại, chặt đến nỗi từng lỗ chân lông nứt máu và tim đau buốt. Thiếp cứ đứng đó, cứ nhìn trân trối vào chàng... đã một giây phút trôi qua hay đã một đời? Hai gối thiếp mềm nhũn và đôi hài thêu căng phồng sứt chỉ... những hạt cườm lao xao run rẩy khiến chàng hé mắt. Chàng và thiếp nhìn nhau. Ánh lửa hôm nao biến thành ngọn đuốc. Thiếp đi ra, lặng lẽ, và biết là có chàng nhìn theo...

... Ngồi bệt xuống bực thềm, thiếp tê dại, hai chân không ngừng run rẩy, hình ảnh chàng và ngọn đuốc đốt cháy thịt da đàn bà-con gái. Thân thể thiếp chìm trong biển lửa ngộp người và hơi thở dồn dập đứt nghẹn. Ngoài vườn hoa đùa trong gió, trên trời mây đuổi mây, tay thiếp mơn trớn ngực mình... Từng tảng đá ngoài sân như bật tung lên đập vào người đau điếng khiến thiếp lẫn lộn giữa thân thể chàng và những bức hình bằng đất nung cảnh trai gái trên nhau... Những câu hát tả tình gợi dục bỗng dưng văng vẳng. Khi chàng ve vuốt thiếp, khi tay chàng sờ lên... Không phải tay chàng, mà là tay thiếp tự sờ soạng thân mình.... Thiếp gọi Trời, thiếp gọi... thiếp gọi khẩn thiết. Và Trời giáng xuống, tiếng động khẽ khàng ở cửa... Thiếp quay lại... Chàng đứng đó, ngọn lửa dịu dàng cháy lên từ mắt nung đốt chút linh hồn mê muội cuối cùng, cái nhìn ngất ngây âm ỉ cho một người đàn bà sắc nước hương trời. Thiếp bật dậy chạy tới nhào vào tay chàng mặc kệ tất cả, mặc kệ cha già và quan Thừa tướng, mặc kệ cuộc đời... Cho thiếp nằm trong tay chàng một lần rồi chết... Nhưng chút tro tàn xác thân kìm thiếp lại. Không, phải làm kiếp côn trùng cho quốc gia đại sự là chuyện của thân, nhưng chuyện của lòng thì thiếp nhỏ những giọt tình và chính chàng phải rót đầy chiếc ly hạnh phúc. Tim thiếp hoang mang và tim chàng phải thổn thức. Thiếp trằn trọc thâu đêm và chàng phải nôn nao mất ngủ vì yêu. Thiếp không muốn chết chìm trong những cuộc yêu đương, chỉ muốn chết ngộp trong một cuộc tình. Và tình yêu thiếp mãnh liệt điên cuồng hơi hướm tử thần, nó xáo trộn trong tận cùng sâu thẳm con tim mang máng có cái gì vượt lên trên cơ đồ nhà Hán... Nên thiếp vùng chạy biến giữa các luống hoa hăng hắc nhựa đam mê mùa hạ...

Một trong hai người đàn ông tắt lửa, gom những món lỉnh kỉnh bỏ vào túi xách và sắp xếp lại đồ đạc trong phòng rồi ngồi xuống ghế bên cạnh, tủm tỉm nhìn vị trưởng nhóm và người đàn bà với cái nhìn chế riễu ái mộ. Vị trưởng nhóm nâng người đàn bà lên, đeo lại chiếc kiềng. Hai ánh mắt giao hoan trong bóng mờ mờ chiều xuống, nụ cười người đàn bà méo mó khi rướn ngồi lên.

... Chàng đỡ thiếp đứng dậy. Cuộc chiến chinh vương lại trên mặt đá những vết màu sữa loang loáng trăng đêm như chuỗi trân châu các tiểu thư mang ngày ngày trước ngực. Và vết ướt đọng của mông thiếp tựa hai vòng nguyệt quế trên đầu các tiểu công nương ngày đại lễ. Thiếp choàng vào cổ chàng vòng hoa chiến thắng mãn nguyện, và chàng bọc quanh người thiếp vòng hoa âu yếm, nâng thiếp lên điểm cao nhất dục tình. Hai vòng hoa siết chặt, chạm vào ngực chàng mạnh mẽ, đồi thanh tân thiếp cuồn cuộn máu đào để sẽ không bao giờ tạo ra sữa nữa...

Quan khách đầy nghẹt căn phòng, tiếng cười nói dù khẽ cũng tạo thành tiếng ào ào bầy ong vỡ tổ, thỉnh thoảng chen những phút giây im lặng đến dị kỳ. Người ta nhìn phía cửa nôn nao như mỗi phút trôi qua sẽ đưa tới gần một cái gì mới lạ. Họ có cái vẻ nao nức của trẻ con chờ quà. Cuối cùng khi tiếng bánh xe rào rạo nghiến sỏi dừng lại trước hiên, mọi người đứng dậy vỗ tay hoan hỉ chào vị trưởng nhóm không dấu vẻ sung sướng hãnh diện bước vào với người đàn bà quàng tấm khăn màu rượu chát. Nhiều ánh đèn loé sáng giữa ban ngày và tiếng lách tách khô khan chen lẫn tiếng vỗ tay rào rào náo nhiệt.

... Vào đại sảnh sáng trưng rất đông người, thiếp bỡ ngỡ nhìn những khuôn mặt xa lạ, áp sát vào chàng và mỉm nụ cười duyên dáng nhất. Mọi người dõi thiếp cái nhìn cảm tình mà soi mói. Hình như thiên hạ bàn tán gì nhiều lắm, thiếp chỉ nghe rầm rì về sự hiện diện của mình và bao nhiêu thứ nhiêu khê không hiểu hết. Trong chiếc áo lụa nhiều lớp sương khói màu hồng ngày quan đại thần khao mừng tướng công hạ sát Thừa tướng, thiếp đẩy đưa những bước liêu trai. Khuôn mặt trái soan phấn son trang nhã với mái tóc búi cao trâm cài lược giắt để lồ lộ chiếc gáy nõn nà và những sợi tóc mai lao chao bên má, thiếp biết mình rất đẹp. Thiếp ban phát cho mọi người cái liếc khuynh thành, những ngón tay thon dài hững hờ bên chiếc cổ thiên nga bạch ngọc. Chàng đặt thiếp ngồi chỗ trang trọng nhất mà bất cứ góc nào cử toạ cũng có thể quan chiêm. Có lẽ chiếc gáy trần được bao nhiêu cặp mắt chiếu vào khiến thiếp chóng mặt, nên chàng từ trên bục cao, giọng sang sảng cả phòng mà thiếp chỉ nghe loáng thoáng....

- Thưa quý vị, chúng tôi hân hạnh giới thiệu cùng quý vị....xin đưa quý vị.... Á Châu xa xôi... một khám phá... hai trăm năm sau Công nguyên... tư thế lạ lùng... bất thường không hiểu tại sao...

Gì gì nữa rất dài, rất lâu. Thiếp nhìn chàng, ra dấu muốn về vì mệt. Nhưng chàng mải say sưa thuyết giảng điều gì. Đầu óc thiếp vang vang tiếng nhạc, tiếng nói, tiếng cười, tiếng ly vàng đĩa bạc ngày đại lễ... Thiếp đã uyển chuyển ngân nga múa hát, đã yểu điệu dâng rượu dâng trà, đã đon đả cười mời quan khách, đã cố giữ nét diễm kiều đài các khi thân thể chỉ mong đợi tiệc tàn. Giằng xé giữa những thứ đó với đầu óc sôi nổi chỉ hướng về chàng khiến thiếp choáng váng. Chàng ngồi đó đường bệ uy nghi áo gấm tướng quân lóng lánh và giọng nói vang vang lệnh vỡ. Các tiểu thư lộng lẫy mượt mà bên cạnh, sung mãn hạnh phúc đắm đuối nhìn tướng công kể chuyện phục kích sân triều. Những ngọn giáo quân Thừa tướng đâm vào óc thiếp. Những tiếng kêu xung trận xoáy vào tai thiếp. Bụi sa trường mù mịt và máu chiến thương tràn trề mắt thiếp. Và triệu triệu con ong quay mải miết trong đầu. Thiếp mệt quá, mệt quá sức rồi, nhưng chàng vẫn còn nói, hăng say, hùng biện... Và thiếp không cố được nữa, đổ xuống như chiếc bình sứ, tan tành... Mọi người chạy đến bu quanh thiếp. Tai thiếp lao xao ngôn ngữ vừa lạ vừa quen.

Lâu lắm. Rồi thiếp từ từ tỉnh lại bàng hoàng nhìn thiên hạ, mệt mỏi mỉm cười bao dung, cái bao dung của người đang có tình yêu và người yêu bên cạnh. Họ nhìn như một khám phá tìm tòi, sờ nhẹ vào người thiếp vẻ trân trọng rờn rợn. Chỉ vào thiếp, chàng cúi xuống gần với cái nhìn đắm đuối và thiếp có thể sờ được chân những sợi râu mép thơm mùi hoa quế...

- Vâng, như chúng tôi đã trình bày, bộ xương người đàn bà này khoảng mười tám thế kỷ rồi. Đây là một người Trung Hoa. Chiếc kiềng gãy và tư thế nằm khá bất thường, tại sao hai đùi gập lên ngực, và không tìm ra bà ta chết vì bệnh gì... Sau nhiều lần khôi phục điện tử thì đây là một người đàn bà rất đẹp, đẹp đến nỗi chúng tôi cứ tiếc là không có cách nào làm bà ta sống lại được.

... Chàng ơi, đấy là chiếc kiềng án tử. Không còn chàng, thiếp chỉ là chiếc lá bơ vơ gió đuổi. Một quan đại thần lại muốn thiếp làm kiếp tôi đòi hầu hạ trên giường. Nhưng gần gũi chàng rồi thì giao hợp với ai cũng là kinh tởm, thiếp đã trả lời bằng sự lặng thinh kiêu sa thách thức. Vậy là đêm chưa kịp xuống, người nhà quan đại thần đến dẫn thiếp đi. Người ta lột hết vòng vàng trên tấm thân đã yêu, thay bằng chiếc kiềng gang tử tội. Hố đào vội vàng không rộng, người ta đẩy thiếp xuống, gập hai đùi lên ngực, lấp đất, bỏ đi... Từ đó tất cả rơi vào tĩnh lặng... Và thiếp nằm, lại nằm! Nhưng không có chàng. Chỉ độc nỗi thù hận con người bừng bừng nghiền nát xác thân. Rồi khi chính nó cũng vữa theo lòng đất, thiếp chỉ còn mỗi tình chàng làm hành lý tùy thân cho số kiếp hồng nhan, và hình ảnh chàng cho thiếp soi bóng trong đêm. Tiếng côn trùng nỉ non, tiếng nước mưa len lỏi qua lòng đất lúc ẩm lúc khô giúp thiếp đoán qua lại bốn mùa. Và những tiếng tí tách từng cánh hoa khai nụ hay những chiếc rễ con con cỏ mềm bẽn lẽn xuyên vào lòng đất mùa xuân, như những rễ tình dành cho chàng không bao giờ mỏi mệt...

Người ta cười khúc khích và qua lại nhìn thiếp như trong đời chưa hề thấy đàn bà, họ chỉ vào thiếp bàn tán xem kìa, hãy còn răng còn tóc... ghê quá! Thiếp chịu trận nhiều giờ nhiều khắc trôi qua... rồi mọi người ra về. Chàng cũng bỏ đi, một mình, không ôm thiếp bước vào con đường nhỏ bên kia, con đường mà thiếp đã rẽ hoa vạch liễu để đến đòi yêu, cho thiếp được nằm im như con mèo nhỏ áp mặt vào cổ chàng tận hưởng phút giây còn lại. Đêm im phăng phắc. Mọi vật nín thở, kể cả cái im lặng của đêm. Mây hờ hững đẩy đưa và gió cũng kiệm lời. Trăng kiều diễm cao sang, âm thầm rọi ánh sáng trong veo xanh ngắt. Bờ hồ đã xa và lồ lộ dinh thự ngủ say dưới những tàn cây. Chàng đặt thiếp xuống nhưng chưa rời, vòng tay vẫn siết chặt. Và thiếp thì không còn đôi hài nào giúp đứng vững nữa. Xin tạ ơn chàng đã cho thiếp sống những phút giây ân ái, xin tạ ơn chàng đã cho thiếp khám phá ra mình là đàn bà - một người đàn bà biết yêu với tất cả con tim cùng thân xác, quên hẳn dưỡng phụ với kế liên hoàn... Và cùng lúc, thiếp bàng hoàng chợt cảm nhận những phút giây dưới tấm thân nặng nề Thừa tướng là cực hình tủi nhục...

Bây giờ, thiên hạ đã đi ra, đèn đã tắt, các cánh cửa đã khoá, bỏ thiếp chơ vơ trong cái im vắng mênh mông trắng toát, một cái im vắng rợn người mà ngay cả trong lòng huyệt lạnh gần hai ngàn năm thiếp cũng chưa từng cảm thấy. Tĩnh lặng quá. Thiếp dáo dác nhìn quanh, mình sợ chính mình... Một lát, chợt bên kia cửa nhiều tiếng lao xao ly chén... và những hình bóng chập chờn trên tường, trên nóc nhà chỉ trỏ thiếp cười nói, nâng ly đon đả mời chào. Trong đám đông lố nhố, thiếp nhón gót tìm chàng, tìm nghĩa phụ... Nhưng không có ai, không có ai thân quen cả... Chẳng lẽ mọi người đã bỏ thiếp đi, đã quên mất chút nhan sắc bọt bèo? Hay đã xa nhau diệu vợi muôn trùng, thì làm sao thiếp phủ phục trả lại cái lạy cha nuôi : "Con hãy thương lấy sinh linh nhà Hán..." ? Trong cái tĩnh tối dưới lòng đất gần một ngàn tám trăm năm nín thở nghe nỗi lòng mình bộc bạch, thiếp hãi hùng với ý nghĩ sao muốn trả ơn trả nghĩa dưỡng phụ mình mà thiếp phải biến chàng thành kẻ vô nghì? Sao ánh mắt lẳng lơ thiếp quyến rũ đẩy đưa chàng vào con đường vô đạo? Sao lời lẽ xảo quyệt ngọt ngào thiếp khiến ngọn kích chàng lấy đầu Thừa tướng, để rồi bao nhiêu cái đầu khác mọc lên và thịt Hán vẫn rơi, máu Hán vẫn đổ? Vậy thì, vậy thì Trời ơi, giữa thế giới nhiễu nhương của các đấng mày râu, thiếp đã bị con người dùng vào những việc bạc nghĩa vô luân để không sống được trọn vẹn cho tình, và sau đó thì người ta đã vất thân này vào quên lãng... Vậy mà bây giờ người ta tiếc không có cách nào làm thiếp sống lại! Để làm gì khi không còn chàng nữa? Ngày trên đường tưởng đưa con gái đến phòng hoa chúc, chàng đã bước vào bãi chiến trường rồi bỏ thây trên đất Hạ Phì... Và từ đó chàng cũng đã cướp mất đi đời thiếp, từ đó đời cũng chẳng cần ai sắc nước hương trời...

... Trời sụp tối... Thiếp uể oải tháo trâm gỡ lược thả tóc chảy dài theo chiếc lưng ong rồi tựa cửa nhìn trăng. A, chàng đã lấy đi tất cả nhưng không quên để lại cho thiếp mảnh trăng ngàn năm vằng vặc trên cao. Trăng ơi, gượm đã, còn nhớ hôm nào chứng kiến cảnh yêu đương bên Phụng Nghi Đình, hãy mang chàng trở lại, chàng đã thề sẽ tìm thiếp khắp nẻo cho dù cái chết chia cắt nhau thì cũng không là mãi mãi... Và thiếp đã chờ, đã chờ, mỏi mòn gần hai mươi thế kỷ, rồi chàng đã đến và cũng lại bỏ đi... Phải chi chàng ở lại cho thiếp được sống trọn tình, cho thiếp được nâng chén quỳnh với tất cả niềm yêu nỗi thẹn...

Chàng ơi, khuya nay đêm cũng im phăng phắc. Mọi vật cũng nín thở, kể cả cái im lặng của đêm. Mây hờ hững đẩy đưa và gió cũng kiệm lời. Trăng kiều diễm cao sang, âm thầm rọi ánh sáng trong veo xanh ngắt...

Bứt áo lột hài, tấm thân sơ sinh kiều diễm quỳ xuống nền đá lạnh xin tạ lỗi cùng chàng. Trong bóng nhờ nhờ trăng hắt qua cửa sổ, giữa cái cực cùng im vắng, Điêu Thuyền yểu điệu trắng nõn như một cành lan, hai tay nâng chén rượu ngang mày cất giọng ngân nga lảnh lót truyền cảm đến rợn người:

- Trước kính dâng một chén tửu hoàng, xin miễn chấp phận hèn bồ liễu...

MIÊNG

Paris, Nov. 2002.

(Nguồn: Tạp Chí Hợp Lưu 68 / chủ đề YÊU)

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
19 Tháng Ba 200912:00 SA(Xem: 182455)
LTS . ...Dù lịch sử đã sang trang từ lâu, bài ký ức về Tướng Lê Nguyên Vỹ, cố Tư lệnh SĐ 5 BB–người đã chọn chết theo thành, và không nỡ bắt "con em người ta gửi gấm cho mình" chết oan uổng ở những giờ phút tàn cuộc của chiến tranh Việt Nam–là một trong những tài liệu hiếm hoi, có giá trị sử liệu. Hợp Lưu trân trọng giới thiệu tác giả Triệu Vũ với quí độc giả. Tạp Chí Hợp Lưu
10 Tháng Ba 200912:00 SA(Xem: 116309)
Đầu Xuân Kỷ Sửu (25/1/2009) tôi khởi đầu việc hiệu đính phần tư liệu lịch sử Việt từ đời Ngô (938-965) tới đời Nguyễn (1802-1945). Đây có lẽ là lần hiệu đính cuối cùng, và khá tốn thì giờ vì việc chuyển đổi từ lịch Ta qua lịch Tây.
10 Tháng Ba 200912:00 SA(Xem: 115356)
Phần III. G. TÀI LIỆU VIỆT: Ngoài tài liệu Trung Quốc, sử quan Việt cũng sử dụng một số tư liệu trong nước.
10 Tháng Ba 200912:00 SA(Xem: 117401)
Phần II. Cần nhấn mạnh, mang quân xâm chiếm, chia ra quận huyện để đặt dân Việt vào “vòng lễ giáo” Hán tộc [ kiểu cho đào mộ tổ tiên Lê Lợi năm 1418 (Thông sử, 208 [truyện Trịnh Khả]), hay thiến hoạn thiếu niên Việt] , chỉ là hai trong những biện pháp lấn đất giành dân.
10 Tháng Ba 200912:00 SA(Xem: 123823)
Phần IV II. VIỆC NGHIÊN CỨU THỜI CẬN ĐẠI (1800-1975): Giai đoạn trước 1975, việc nghiên cứu sử học đã có nhiều nguồn tư liệu hơn để làm việc. Tài liệu đáng tin cậy nhất, dĩ nhiên, là tài liệu văn khố. Nhiều nhà nghiên cứu sử học chuyên nghiệp đã sử dụng tài liệu văn khố Pháp, Mỹ và Liên Sô. Mới đây, văn khố Hội truyền giáo Hải ngoại cũng đã mở rộng, sau nhiều thập niên “cho người chết ngủ yên.”
23 Tháng Hai 200912:00 SA(Xem: 113644)
Tập tài liệu được nói tới ở đây là một tập hợp những bài viết của “một số lão đồng chí đã từng công tác trong Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc tại Việt Nam đầu những năm 50 của thế kỷ 20” theo lời của Nhóm biên tập sách viết trong Lời Cuối Sách vào tháng 12 năm 2001.
29 Tháng Mười Hai 200812:00 SA(Xem: 101965)
Căn phòng của Jacob ấn tượng tôi đến nỗi, tôi sợ phải đọc lại. Vì tác phẩm vượt mọi khuôn khổ, như có điện, từ trường, đến mức không còn liên quan đến sáng tạo tiểu thuyết. Trên những trang đầu tiên, bằng tất cả ngây thơ, người đọc bước vào tác phẩm không chút ngờ vực.
28 Tháng Mười Hai 200812:00 SA(Xem: 139136)
- Gửi Thức Tối hôm qua từ nơi cửa sổ phòng tôi tuyết xuống tuyết rơi trên những cành tùng có tiếng đập cánh rất khẽ của con chim trốn tuyết
28 Tháng Mười Hai 200812:00 SA(Xem: 132046)
Sao anh lặng im nhìn lên bầu trời Em thành dải mây bối rối Vì tinh tú tròn đêm trẩy hội Vắt xiêm y ngang cành táo trong vườn.
28 Tháng Mười Hai 200812:00 SA(Xem: 104690)
Lời người dịch:... Có lẽ không gì chính xác bằng nghe chính tác giả "In Cold Blood" trình bầy câu chuyện đằng sau việc thực hiện cuốn tiểu thuyết đã thay đổi bộ mặt văn chương và cả báo chí Mỹ vào giữa thế kỷ trước, đem văn chương (vốn trí thức, "tháp ngà") lại gần với báo chí (vốn bình dân, "trần tục") hơn, và ngược lại. Trùng Dương (12/2008)
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3784)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13205)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19610)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18591)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1533)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1703)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2211)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2320)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1406)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2151)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1888)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1945)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1289)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2318)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2533)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2314)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 183)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 747)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 955)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1027)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6358)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15838)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32091)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38809)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1389)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13863)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6845)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10617)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9812)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9932)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10741)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3418)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11082)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10306)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi