- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,325,366

Cái Chết Của Một Hàng Tướng: Dương Văn Minh (1916 - 2001) - Phần 1

08 Tháng Mười Một 201012:00 SA(Xem: 5343)
Ngày 9/8/2001, vài bằng hữu điện thoại, e-mail hay fax cho tôi bản tin ngắn về cái chết của cựu Đại tướng Dương Văn Minh (1916-2001). Tại Pasadena, tiểu bang California, mà không phải Việt Nam như nhiều người tưởng nghĩ. Theo báo chí Mỹ, Tướng Minh, 86 tuổi, chết tại bệnh viện Huntington Memorial Hospital tối ngày Thứ Hai 8/8/2001, sau khi bị té từ xe lăn xuống đất trong một phòng cho mướn (apartment) chiều hôm trước, Chủ Nhật, 7/8/2001. (Theo một nguồn tin khác, ông Minh chết ngày Thứ Bảy, 6/8/2001. Tin này có lẽ chính xác hơn).

Còn nhớ năm 1982, khi sang Pháp nghiên cứu lần đầu tiên để sửa soạn viết luận án, tôi được tin Tướng Minh mới từ Sài Gòn qua Pháp chữa bệnh. Người cho biết tin này là ký giả Nguyễn Ang Ca, ngày ấy định cư ở Belgium (Bỉ). Anh Ca tiết lộ thêm rằng theo lời thân nhân Tướng Minh, ông ta đã hoàn tất một tập hồi ký dành riêng cho cháu ngoại (con ông bà Nguyễn Hồng Đài và Dương [Thị?] Mai), sẽ được ấn hành sau khi Tướng Minh chết. Trong thời gian nghiên cứu lần thứ hai ở Pháp, từ 1985 tới 1988, được tin Tướng Minh đã biến mất ở Paris, “nghe đâu trở lại Việt Nam.” Bây giờ mới rõ tin ấy sai lầm. Tướng Minh đã âm thầm qua Mỹ định cư, sống với vợ chồng người con gái.

Việc Tướng Minh “tuyệt tích giang hồ” cũng dễ hiểu. Từ năm 1963, ông Minh trở thành kẻ thù của nhiều hơn một thế lực chính trị tại Việt Nam.

Nhóm kẻ thù hằn học nhất là những người ủng hộ và còn tưởng nhớ Tổng thống Ngô Đình Diệm (1955-1963). Cuộc đảo chính 1/11/1963 không những chỉ mang lại cái chết cho ba anh em nhà họ Ngô, mà còn khiến nhiều cộng sự viên và nha trảo của chế độ bị tử hình (Phan Quang Đông), tù đày (Dương Văn Hiếu, Nguyễn Văn Y, Trần Kim Tuyến, Nguyễn Văn Hay), tịch thu tài sản, truy nã, săn đuổi, v.. v... Trong khi đó, Giám mục Nguyễn Văn Thuận, cháu ngoại ông Ngô Đình Khả–sau này trở thành Hồng Y ở Vatican, mới chết vì ung thư–cũng muốn khôi phục lại thế giá cho các bậc trưởng thượng của mình, qui tụ tàn dư đảng Cần Lao làm hậu thuẫn chính trị. Tướng Minh, người đào mộ vùi chôn nền Đệ Nhất Cộng Hòa tại miền Nam và gây nên cảnh tang tóc thê lương của họ Ngô, khó thể được yên lành.

Ngay trong hàng ngũ quân đội nhiều người cũng không muốn “huynh đệ chi binh” (đúng ra có lẽ phải là “binh chi huynh đệ”) với Tướng Minh. Trung tướng Nguyễn Khánh tìm mọi cách triệt hạ, khiến Tướng Minh phải lưu vong qua Thái Lan khá lâu. Thủ lãnh nhóm Young Turks là Nguyễn Văn Thiệu (1923-2001) cùng những Nguyễn Cao Kỳ, Cao Văn Viên nhất quyết không cho Tướng Minh hồi hương để tranh cử Tổng thống năm 1967.

Mãi tới năm 1968, do sự can thiệp của Thủ tướng Trần Văn Hương (1904-1982?), và giữa cao trào thanh toán phe “Bắc Kỳ” Nguyễn Cao Kỳ-Nguyễn Ngọc Loan, Tướng Minh mới được về nước. Phía sau đặc ân của ông Hương này là kế hoạch vận động tinh thần bài Bắc Kỳ từ thời Nam Kỳ tự trị của Nguyễn Văn Thinh-Lê Văn Hoạch-Nguyễn Văn Tâm-Trần Văn Hữu (1946-1947), đồng thời chuẩn bị dùng ông Minh làm con cờ thí cho cuộc tranh cử Tổng thống vào năm 1971 của liên danh Thiệu-Hương. Nhưng giờ chót, sau khi Tướng Kỳ bị loại bỏ vì thiếu người giới thiệu, Tướng Minh đột ngột rút lui. Cuộc bầu cử Tổng thống nhiệm kỳ 1971-1975, đứa con “hợp hiến” thứ hai của Đại sứ “Tủ lạnh” Ellsworth Bunker, bỗng trở thành “cậu con nuôi” “trưng cầu dân ý” của liên danh “mồ côi” Thiệu-Hương.

Rồi đến cuộc sụp đổ của miền Nam mùa Xuân 1975 và nhiệm kỳ Tổng thống vừa tròn 40 tiếng đồng hồ của Tướng Minh. Lệnh buông súng đầu hàng của Tướng Minh sáng ngày 30/4/1975 khiến nhiều người, vốn chẳng biết nhiều về những diễn biến tại hậu trường sân khấu chính trị, trút mọi trách nhiệm việc “mất nước” (sic) lên đầu ông “hàng Tướng” này.

[Những lời thở than, khóc lóc “mất nước” cũng chẳng khác gì việc đồng hoá một chế độ chính trị với “Tổ Quốc” trên trình độ hiểu biết chữ Việt!]

Cho tới ngày Tướng Minh nhắm mắt, chẳng mấy ai được nghe Big Minh tâm sự về những tao ngộ đời ông. Tập hồi ký mà anh Nguyễn Ang Ca “tiết lộ” với tôi thực chăng hiện hữu và bao giờ sẽ được ấn hành? Tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Nga, Trung cộng cũng chưa mở ra đầy đủ, nhất là việc Tướng Minh được Quốc Hội cử làm Tổng thống ngày Chủ Nhật, 27/4/1975. Đại sứ Pháp Jean-Marie Mérillon đã thủ diễn vai trò nào trong màn bi kịch chính trị và ngoại giao này? Việc phán định công và tội của Tướng Minh hẳn còn nhiều năm nữa mới đủ sử liệu để suy xét.

Bài này không có ý định phê bình hay đánh giá Tướng Minh. Chỉ ghi lại những dữ kiện lịch sử tương đối khả tín nhất để những người nghiên cứu sau này đỡ mất công tra cứu.

“Big” Minh là ai?

Tướng Dương Văn Minh sinh năm 1916 tại Vĩnh Long (lại có tin sinh ngày 19/2/1916 ở Mỹ Tho). Thường được biết như “Big” Minh, để phân biệt với Minh “nhỏ” (Sylvain Trần Văn Minh, Ki-tô giáo). Ông Minh thuộc loại to lớn so với người Việt bình thường, cao hơn 1 mét 80 (6 feet), và nặng hơn 90 ki-lô.

Năm 1940, ông gia nhập quân đội Pháp, tốt nghiệp khóa Hạ sĩ quan trừ bị Thủ Dầu Một. Nổi danh là một lực sĩ chạy đua nước rút, nên được thăng cấp Thượng sĩ. Năm 1946, lên cấp Thiếu úy. Hai năm sau, lên Trung úy, rồi chuyển qua Quân đội Quốc Gia Việt Nam. Từ đó, thăng tiến rất nhanh vì Quân đội Quốc Gia đang thành lập, thiếu cấp chỉ huy.

Trong hai năm 1954-1955, khi chỉ huy Phân Khu Sài Gòn/Chợ Lớn, Đại tá Minh “lớn” đã giúp Thủ tướng Ngô Đình Diệm bẻ gẫy được cuộc đảo chính của Trung Tướng Nguyễn Văn Hinh cùng các tổ chức vũ trang Bình Xuyên và Hòa Hảo (qua các chiến dịch Thoại Ngọc Hầu Hoàng Diệu, Nguyễn Huệ). Nhờ vậy, ông Minh từng được ca ngợi là “anh hùng rừng Sát [Sác].” Ông Minh cũng là người bắt sống được “Ba Cụt” Lê Quang Vinh (1923-1956), một lãnh chúa Hòa Hảo có giao tình với Trung tướng Nguyễn Văn Hinh, nguyên Tổng Tham Mưu trưởng Quân đội Quốc Gia Việt Nam. Nhờ vậy, ngày 6/11/1955, được phong Thiếu tướng (cùng Lê Văn Nghiêm) và vài năm sau đã lên tới chức Trung tướng

[Vụ bắt giữ Ba Cụt tạo nên nhièu loại tin đồn trong dân gian. Có nguồn tin, Ba Cụt bị bắt giữ khi trên đường phó hội với Nguyễn Ngọc Thơ ở Long Xuyên. Tài liệu văn khố Việt Nam Cộng Hòa không đề cập gì đến việc này. Theo Báo cáo ngày 27/4/1956, của Thiếu tướng Dương Văn Minh gửi Ban Tham Mưu Biệt Bộ Phủ Tổng thống, từ thượng tuần tháng 4/1956, có nhiều tin tức tình báo dân gian về lộ trình di chuyển của Ba Cụt. Một chủ hãng xe đò mật báo rằng Ba Cụt và một nhóm thân cận xuất hiện gần Long Xuyên. Ngày 13/4/1956, một toán Bảo An, do Trung sĩ Trần Văn Giàu chỉ huy, và Công An lưu động, dưới quyền Phó thẩm sát viên tập sự Trần Tấn Tập, bắt giữ Ba Cụt tại Chắc Cà Đao và 6 hộ vệ. (Trung tâm Lưu trữ Quốc Gia II (TP/HCM), Phủ Tổng thống Đệ I Cộng Hòa, HS 4322)

Chưa đầy hai tháng sau, lúc 12G30 ngày 11/6/1956, Tòa Sơ thẩm đại hình Cần Thơ kết án tử hình Ba Cụt vì các tội tòng phạm cố sát, gian nhơn hiệp đảng, cố ý gây thương tích, cố ý đốt nhà, tòng phạm cưỡng đoạt, cướp của và cố sát.

Hai ngày sau, 13/6, Trung sĩ Bùi Văn Giàu bị giết tại làng Bình Hòa, cách trung tâm châu thành Long Xuyên 15 cây số. Một tự vệ bị bắt giữ vì tình nghi có dính líu.

Ngày 26/6/1956, Ba Cụt ra tòa đại hình. Có 4 luật sư Đinh Văn Các, Phạm Ngọc Thu, Lê Ngọc Chấn, Vương Quang Nhường. Công tố viên: Lê Văn Tuấn. Chánh án: Lê Văn Thu. Phụ thẩm: Nguyễn Hữu Đẩu, Trần Văn Thuận; Phụ thẩm nhân dân: Nguyễn Công Linh, Nguyễn Văn Đắc. 19G30 tối hôm sau, 27/6, Tòa thượng thẩm Sài Gòn họp ở Cần Thơ kết án tử hình Ba Cụt, vì tòng phạm cố sát đả thương. Tha bổng các tội gian nhân hiệp đảng, tòng phạm giết chết Huỳnh Văn Y, tống tiền 12,000 đồng, cố sát Cao Văn Cung và Cao Văn Phát.

Ngày 4/7/1956, Tòa Quân sự đặc biệt Cần Thơ lại kết án tử hình Ba Cụt, tước đoạt binh quyền, tịch thu tài sản. Ngày 6/7, Hội đồng ân xá bác đơn của Ba Cụt. [Chủ tịch: Vũ Tiến Tuân; UVCP: Mai Hữu Xuân; Bồi thẩm [assesseur]: Tướng Nguyễn Ngọc Lễ, Đại tá Linh Quang Viên, Trung tá Nguyễn Văn Ra và Bùi Văn Tư. (VP, 27/6/1956) Hai ngày sau nữa, 8/7, Diệm bác đơn xin ân xá của Ba Cụt. Ngày 9/7, Tòa Phá án Sài Gòn cũng bác đơn xin ân xá của Ba Cụt. 5G40 sáng ngày 13/7/1956, Ba Cụt bị xử chém ở Cần Thơ. Theo một công điện mật, linh mục Hoàn đã thuyết phục được Ba Cụt chịu rửa tội trước khi bị hành hình. (TTLTQG II, PTT/ĐICH, HS 4322)

Vì Ba Cụt rất nổi danh ở miền Tây, có tin Diệm đã giao cho người thân cận là Nguyễn Hữu Châu lo vụ án Ba Cụt. Phụ tá của Châu, Lâm Lễ Trinh, đóng góp lớn vào vụ án này. Nhờ vậy, khi Châu từ chức, Trinh được đôn lên làm Thứ trưởng Nội vụ, và rồi Bộ trưởng.

Lại cũng có tin Nguyễn Văn Nhung, cận vệ của Tướng Minh, đã chặt thi hài Ba Cụt làm nhiều khúc để không thể hồi sinh–như sát thủ Cộng Sản từng đối xử với Đức Thày Huỳnh Phú Sổ năm 1947. Tuy nhiên, chúng tôi chưa tìm được những sử liệu cụ thể nào].

Từ năm 1956, sau khi đã dẹp xong mối hiểm họa giáo phái, Tướng Minh bị thất sủng. Có tin hai anh em ông Diệm-Nhu nghi Tướng Minh dấu đi một phuy (fut hay thùng) vàng cùng quí kim tịch thu được của Lê Văn “Bảy” Viễn, thủ lĩnh Bình Xuyên, ở mật khu Rừng Sác mà không giao nạp cho chính phủ. Nhưng nguyên cớ chính là Tướng Minh chống việc chính trị hóa quân đội theo kiểu Cộng Sản Bắc Việt (hay, Đài Loan, nếu muốn)–tức bắt các cấp chỉ huy quân đội phải gia nhập Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng, thường gọi tắt là Cần Lao. Bởi thế ông Minh chỉ được giao nắm những chức vị không có quân như Thanh tra quân đoàn, rồi Tư lệnh Bộ Tư lệnh Hành quân, v.. v... Lòng ghét bỏ ông Minh của anh em ông Diệm-Nhu càng tăng khi Tướng Minh giữ lập trường “trung lập” trong cuộc đảo chính hụt 11/11/1960 của nhóm Đại tá Nguyễn Chánh Thi, Trung tá Nguyễn Triệu Hồng, v.. v... (Xem Chính Đạo [ed.], et al., Nhìn lại biến cố 11/11/1960 [Houston: Văn Hóa, 1996]) Uy tín Tướng Minh với chế độ cũng khó thể gia tăng khi Trung tá Vương Văn Đông, người tự nhận cầm đầu cuộc đảo chính, khi thảo luận một giải pháp chính trị đề nghị Tướng Lê Văn Tÿ, rồi đến Tướng Minh làm Bộ trưởng Quốc Phòng chính phủ quân sự chuyển tiếp.( Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu, I-C: 1955-1963, tr. 202)

Từ tháng 10/1961, Tướng Minh được một số viên chức ngoại giao Mỹ đánh giá như có khả năng tạm thay Tổng thống Diệm, hoặc phụ giúp Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ nắm quyền miền Nam nếu xảy ra việc gì chẳng may cho ông Diệm.(FRUS, 1961-1963, I:409-10) Nhưng ông Minh cũng có khá nhiều kẻ thù. Tướng Raymond Nguyễn Khánh, Tham Mưu Trưởng Liên Quân, nuôi hiềm khích cá nhân với ông Minh từ lâu.(Ibid., I:710) Hiềm khích này có thể bắt nguồn từ xuất thân binh nghiệp, danh lợi, và sự chia chác không đều chiến lợi phẩm, khi ông Khánh làm Chỉ huy phó chiến dịch đánh Bình Xuyên.(Xem Phạm Văn Liễu, Trả Ta Sông Núi, [Văn Hóa: 2002] tập I, chương IX) Bộ trưởng Quốc Phòng Nguyễn Đình Thuần thì cho rằng Tướng Minh “chỉ ưa than phiền,” bỏ qua nhiều cơ hội chiến thắng, hoặc làm những việc kỳ quái như đưa Nhảy dù vào mặt trận bằng quân xa thay vì thả máy bay, v.. v... (FRUS, 1961-1963, I:530)

Sau khi tuyên bố tình trạng “lâm nguy” vào mùa Thu 1961, ông Diệm không thay đổi thái độ với Tướng Minh. Khi một số viên chức Mỹ, kể cả Tướng Maxwell D. Taylor, Tổng Tham Mưu trưởng Liên Quân, đề nghị Tướng Minh lên chỉ huy quân đội (Ibid., I:80, 372), Tướng Edward G. Lansdale cực lực phản đối. Theo Lansdale–người tự nhận là bạn của Ngô Đình Diệm, nhiệt thành ủng hộ họ Ngô từ năm 1954, và mùa Thu 1961 được ông Diệm xin đích danh làm cố vấn riêng, nhưng Tổng thống John F. Kennedy (1961-1963) không chấp thuận–Tướng Minh từng tuyên bố muốn đảo chính.(Báo cáo ngày 27/12/1961; US-Vietnam Relations, 1945-1967, Bk 11, tr. 427; FRUS, 1961-1963, I:719n2) Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần hay Tướng Paul Harkins, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Quân Viện [MACV], cũng nghi ông Minh mưu làm đảo chính từ năm 1960.

Ông Diệm luôn luôn nghi ngờ Tướng Minh. Khi người Mỹ yêu cầu Tướng Minh soạn thảo kế hoạch tấn công chiến khu D (ở Tây Ninh) để tạo một chiến thắng nào đó, hầu vận động dư luận Mỹ, ông Diệm ra sức bắt bẻ từng chi tiết. Thí dụ như ông Minh muốn thành lập các chiến đoàn với cấp tiểu đoàn, ông Diệm chẳng những không chấp thuận mà còn cho người điều tra phải chăng ông Minh muốn đảo chính. Rồi sai Tướng Lê Văn Tÿ, Tổng Tham Mưu trưởng, thông báo cho ông Minh biết chỉ đồng ý việc sử dụng các đơn vị cấp đại đội.(FRUS, 1961-1963, II:9-10, 24-5) Cuối cùng, ngày 18/7/1962, ông Diệm tiết lộ với Tướng Harkins quyết định hủy bỏ chức Tư lệnh Bộ Tư lệnh Hành quân của Tướng Minh vì “thiếu khả năng.”(Ibid., II:536) Chẳng hiểu quyết định này liên hệ gì đến kế hoạch tìm giải-pháp-khác-Diệm bắt đầu manh nha từ năm 1960, và được nghiên cứu ở Oat-shinh-tân từ cuối năm 1961 hay chăng.(Ibid., II:64, 232, 459-60, 598-600) Do áp lực của Mỹ, Tướng Minh vẫn còn được tước “Cố vấn quân sự.”

I. CUỘC ĐẢO CHÍNH 1/11/1963:

Năm 1963, ông Minh cùng một số tướng tá làm đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Vài ba người cho rằng ông Minh đã “nhận lệnh Mỹ để làm đảo chính.” Tướng Minh còn bị cáo buộc đã ra lệnh thảm sát anh em ông Diệm-Nhu vào sáng ngày 2/11, trên đường dẫn giải từ nhà thờ “cha Tam,” Chợ Lớn, về Bộ Tổng Tham Mưu, sau khi họ đã xin đầu hàng.

Tôi sẽ tự hạn chế trong hai vấn đề trên; và, tránh thảo luận nên hay không nên đảo chính, đảo chính hay cách mạng, vì những tra vấn này khó vượt qua khuôn khổ suy luận và phê phán, thuần là trò chơi của trí tuệ và xúc động.

A. “BIG” MINH CÓ NHẬN LỆNH NGƯỜI MỸ ĐỂ ĐẢO CHÍNH HAY KHÔNG?

Để tìm hiểu thực chăng Tướng Minh nhận lệnh Mỹ lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, cần lược xét vài dữ kiện sau:

1. “Big” Minh thù ghét chế độ từ lâu:

Trước hết, từ lâu, “Big” Minh hơn một lần muốn giết hai ông Nhu-Cẩn hoặc đảo chính ông Diệm. Không đợi tới ngày Ngoại trưởng Dean Rusk muốn vợ chồng Nhu, và nếu cần, chính ông Diệm, “đi nghỉ mát dài hạn” (từ khoảng ngày 13/7/1963; VNNB, I-C: 1955-1963, tr. 298, 315), hoặc Đại sứ Henry Cabot Lodge nhận lệnh Tổng thống Kennedy giải quyết cuộc khủng hoảng Phật Giáo ở Nam Việt Nam (tháng 6/1963). Từ tháng 11/1960, tình báo Không quân Mỹ đã ghi nhận có tin đồn Tướng Minh cùng Đại tá Đỗ Cao Trí, Thiếu tá Lộc sẽ đảo chính ngày 19/11/1960. Tháng 11/1961, ông Minh cùng các Tướng Lê Văn Kim, Lê Văn Nghiêm và Đại tá Phạm Văn Đổng cũng ít nhiều dính líu đến một dự định đảo chính.(FRUS, 1961-1963, I:682; Báo cáo ngày 27/12/1961; US-Vietnam Relations, 1945-1967, Bk 11, tr. 427) Chính anh em ông Diệm cũng biết điều này, và cử người điều tra, theo dõi, rồi tước đoạt binh quyền của ông Minh.

Cho tới năm 1963, sở dĩ ông Minh chưa ra tay vì màng lưới bảo vệ ông Diệm của người Mỹ–sự bảo vệ mà cựu hoàng Bảo Đại từng cay đắng gọi là “mù lòa.” Tướng Minh và các chiến hữu chỉ muốn người Mỹ đừng ngăn cản, hay không mật báo cho anh em ông Diệm-Nhu biết kế hoạch đảo chính của mình. Việc Kennedy cho phép Đại sứ Lodge toàn quyền hành động, và ông Lodge quyết định không thể làm việc với ông Diệm được nữa, chỉ mở ra cho Tướng Minh và những người muốn thay đổi chế độ cơ hội để hành động.

Hơn nữa, là một Phật tử, Tướng Minh (cũng như các ông Lê Văn Nghiêm, Đỗ Mậu, v.. v...) không thể buông xuôi hai tay làm ngơ trước cảnh anh em ông Diệm ngược đãi Phật Giáo, lùng bắt sinh viên học sinh, vu cáo đối lập là Cộng Sản. Bề ngoài, ông Diệm ra vẻ rất công bình, tuyên bố “sau lưng Hiến Pháp còn có tôi,” đồng ý thỏa đáp các nguyện vọng của Phật giáo (Tuyên cáo chung ngày 16/6/1963 giữa ông Diệm và Hòa thượng Thích Tịnh Khiết), nhưng không thực thi những điều hứa hẹn. Ngược lại, ngầm thả lỏng cho (hoặc không kiểm soát nổi) hai vợ chồng Ngô Đình Nhu-Trần Thị Lệ Xuân đẩy Phật Giáo đến chân tường. Trong những buổi đàm thoại với viên chức Mỹ và Pháp thì đặt điều vu cáo Phật giáo bằng những luận cứ mà một người có óc suy luận trung bình và lương thiện tối thiểu cũng không dám phát biểu.(VNNB, I-C: 1955-1963) Nên chẳng phải ngẫu nhiên mà đầu năm 1973, khi sắp lìa đời tại bệnh viện Grall, Thượng tọa Thích Thiện Hoa ân cần trối trăng với hàng tăng lữ đừng bao giờ quên công đức của Tướng Minh với Phật giáo trong mùa pháp nạn 1963! (Tôi nghĩ Hòa thượng Thích Tâm Châu, một lãnh tụ tranh đấu đầu tiên ở Sài Gòn, cũng đồng ý với nhận xét trên).

Tóm lại, ghép tội (đúng hơn là vu cáo) ông Minh “nhận lệnh Mỹ” để làm đảo chính không đúng, hoặc do thiếu hiểu biết, hoặc, bất chấp sự thực lịch sử: Giữa anh em ông Diệm-Nhu và Tướng Minh chẳng còn chút thiện cảm nào để mất.

2. Liên hệ giữa Tướng Minh và ông Diệm:

Có người còn lên án ông Minh và phe nhóm đã “phản bội” ông Diệm. Cáo buộc này quá vội vã, không đúng sự thực, nếu chẳng phải bất chấp sự thực. Giữa ông Diệm và ông Minh chẳng hề có tình đồng chí cũ, hay nghĩa thày-trò, hiểu theo nghĩa cấp chỉ huy và thuộc hạ. Liên hệ giữa Thủ tướng Diệm và Tướng Minh chỉ khởi sự từ ngày ông Diệm về nước vào hạ tuần tháng 6/1954. Nó là sự nối kết quyền lợi, do Mỹ dàn xếp, để loại bỏ Tướng Nguyễn Văn Hinh cùng phe thân Pháp. Hai người là cộng sự viên, hơn cấp chỉ huy và người tùy tùng. Ông Diệm là lá bài chính trị của Mỹ, trong khi Tướng Minh là một trong những lá bài quân sự. Nói cách khác, hai ông Diệm và Minh cùng “làm quan” cho Mỹ, hầu biến miền Nam vĩ tuyến 17 thành một “nước” (không hề qui định hay dự trù trong Hiệp ước Geneva ngày 20-21/7/1954). Văn hoa hơn, miền Nam trở thành “tiền đồn chống Cộng của Thế giới Tự do,” dù dân miền Nam (cũng như miền Bắc) chỉ có quyền “tự do” duy nhất là được đói khổ, đàn áp, tù đầy, tra tấn dã man, đẩy ra mặt trận, và chết chóc.

Bản hiệu triệu của ba ký giả Chu Tử, Hiếu Chân và Từ Chung trên tờ Ngôn Luận, số đặc biệt chào mừng cách mạng thành công ra ngày 4/11/1963–trích lại trên bán nguyệt san Bách Khoa (số 165, ngày 15/11/1963, tr. 93) của ông Huỳnh Văn Lang, một cựu lãnh tụ Cần Lao–phần nào nói lên sự thực này: Ba nhà báo Chu Tử, Hiếu Chân và Từ Chung tự trách đã “đánh đĩ tâm hồn, cam tâm làm gia nô cho họ Ngô trong chín năm qua.” Ngay đến báo Sài Gòn Mới của Bà Bút Trà, có liên hệ với Bộ trưởng Canh Nông Lê Văn Đồng, cũng than phiền rằng “luôn luôn bị áp bức, khủng bố,” “[h]àng ngày phải chịu trăm chiều tủi nhục, bắt buộc phải viết những điều trái ngược với lòng mình, để hoan hô những cái điêu ngoa, giả dối, tàn ác, bất nhơn của gia đình họ Ngô.” (Bách Khoa, số 165 [15/11/1963], tr. 93-4; trích trong VNNB, IC: 1955-1963 [2000], tr. 391)

3. Bản chất sự liên hệ giữa Mỹ và chế độ Ngô Đình Diệm.

Cho tới hiện nay, vì lý do nào đó, vẫn chưa ai nói lên được bản chất sự liên hệ giữa Mỹ và chế độ Ngô Đình Diệm. Sự im lặng hay thiếu hiểu biết này gây ra nhiều ngộ nhận trong việc diễn giải các biến cố lịch sử.

Phe Cộng Sản thường dùng chiêu bài tuyên truyền quen thuộc, lên án chính sách Mỹ ở Việt Nam là “tân thực dân” [Neo-colonialism], và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa là “bù nhìn” [puppet regime]. Lối gọi tên này không chỉnh. Tài liệu Liên sô Nga, Trung Cộng, và ngay chính tài liệu Cộng Sản Việt Nam đã tiết lộ rằng vị thế chiến lược quốc tế của chế độ “cách mạng xã hội chủ nghĩa” tại miền Bắc Việt Nam trong giai đoạn 1945-1975 chẳng sáng sủa gì hơn miền Nam. Thực ra, Hà Nội còn chịu cảnh một cổ hai tròng: chẳng những nằm trong quĩ đạo quốc tế Cộng Sản của Nga, mà còn bị bóp cổ, chẹn họng bởi điều mà sử quan Cộng Sản Việt Nam có thời gian gọi là “chủ nghĩa bành trướng và bá quyền nước lớn” của Trung Cộng.

[Xem, chẳng hạn, “Sách Trắng” ngày 25/9/1979 của Hà Nội; Trung Quốc từ Mao đến Đặng, Văn Trọng chủ biên (Hà Nội: 1984); Phê phán chủ nghĩa bành trướng và bá quyền nước lớn của giới cầm quyền phản động Bắc Kinh, do Phạm Như Cương chủ biên (Hà Nội: 1979); Chống chủ nghĩa bành trướng bá quyền nước lớn (Hà Nội: Tạp chí Cộng Sản, 1982); hay, những tựa sách khác in trong thập niên 1980.

Xem thư nhìn nhận lãnh hải của Trung Cộng do Phạm Văn Đồng gửi cho Chu Ân Lai do chúng tôi công bố năm 1987 trong 55 Ngày & 55 Đêm: Cuộc sụp đổ của VNCH, ấn bản đầu tiên]

Phần Việt Nam Cộng Hòa thích gọi Liên bang Mỹ là “Đồng Minh” và ngược lại. Nhưng danh xưng chính xác hơn là quốc gia bảo trợ và chế độ vệ tinh. Mối liên hệ ông chủ- đầy tớ này phản ảnh rõ ràng qua tài liệu văn khố Mỹ, hàng trăm tác phẩm nghiên cứu và hàng ngàn bài báo xuất bản tại Mỹ từ năm 1956 tới 1975, nếu chẳng phải còn kéo dài tới ngày nay. Người Mỹ, và cả người Pháp trước đó, chỉ coi người bản xứ Đông Dương như công cụ chống Cộng hay lính đánh thuê, trong một cuộc chiến “ủy thác” [proxy wars] để tiết kiệm xương máu công dân Mỹ.

Với vị thế bảo trợ, từng khai sinh và nuôi dưỡng chế độ Việt Nam Cộng Hòa, chính phủ Mỹ thường bị kết tội, dù đúng hay sai, là đã đứng sau mọi biến cố quan trọng tại Việt Nam, từ những cuộc tranh đấu của các đảng phái, tôn giáo, phe nhóm, tới “thay ngựa giữa dòng” v.. v... Thực ra, người nghiên cứu sử nghiêm túc về sự can thiệp của Mỹ không thể không liên tưởng đến chính sách “cơ mi” mà các triều đình phong kiến Trung Quốc khi xưa đã áp dụng: Cho tới năm 1960, người Mỹ chỉ muốn đưa ra những chính sách đại cương, và cử cố vấn theo dõi việc thực hành của giai tầng trung gian bản xứ. Bởi thế, người Pháp và rồi anh em ông Diệm được chính phủ Dwight D. “Ike” Eisenhower (1953-1961) cho hưởng những quyền hành rộng rãi trong khi thực thi chiến lược hoàn cầu chống Cộng và ngăn chặn sự bành trướng ảnh hưởng của Trung Cộng xuống vùng Đông Nam A. Nhưng cơ quan tuyên truyền của Mỹ, do nhu cầu chính trị, tô hồng chuốt lục cho ông Diệm thành “Chí Sĩ,” “lãnh tụ,” “bao năm từng lê gót quê người” nên ông Diệm ngỡ tưởng mình quả thực là Chí Sĩ, lãnh tụ vĩ đại–quên đi cái dĩ vãng của một gia đình ba thế hệ trung gian bản xứ phục vụ quân xâm lược Pháp từ buổi đầu cho tới phút chót; bản thân từng man khai lý lịch để làm quan cho Pháp càng sớm càng tốt (nếu tin được lời ông Ngô Đình Luyện giải thích với tác giả); ngoài mặt “chống Pháp” mà bề trong thú nhận Bảo hộ Pháp là “bát cơm [“bol de riz”] dòng họ Ngô”; ngụy tạo thành tích “từ quan chống Pháp” mà thực chất chỉ là cuộc tranh giành quyền lực với nhóm trung gian bản xứ khác, đang lên, tiêu biểu bằng ông Phạm Quỳnh.(Xem Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối nhà Nguyễn, 1883-1945, 3 tập [Houston: Văn Hóa, 1999-2000], tập III).

[Tôi vẫn nghĩ nếu gọi ông Diệm là người yêu nước, phải tôn xưng ông Phạm Quỳnh làm nhà đại ái quốc. Sự đóng góp của ông Phạm Quỳnh cho đất nước Việt Nam về giáo dục và văn học vượt xa tội hợp tác với Pháp. Riêng gia đình họ Ngô, ngoài các tội hình sự của Ngô Đình Khả, Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Thục, Ngô Đình Nhu, còn vi phạm nhiều tội ác chống nhân quyền, mà chẳng có đóng góp gì ngoài hành động biến Ki-tô giáo thành kẻ thù của các tôn giáo khác như Phật Giáo, Hòa Hảo, Cao Đài, v.. v... trong một thời gian dài. (Xem, chẳng hạn, Nguyễn Mạnh Quang, Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư, tái bản lần 1 (Houston: Văn Hóa, 2000).]

Nhưng từ năm 1957, chế độ Diệm bắt đầu bộc lộ nhược điểm căn bản của nó. Chống đối nổi lên khắp nơi, trong mọi giai tầng xã hội. Cuộc ám sát hụt ông Diệm tại Hội chợ Ban Mê Thuột năm 1957 mới chỉ là dấu hiệu tiên khởi. Trong khi đó, anh em ông Diệm ngày thêm kiêu ngạo, tự cô lập với quần chúng, xa lánh dần cộng sự viên cũ, tự coi mình như “cứu tinh” của những người Việt chống Cộng. Bất cứ một chống đối nào–dù chỉ trong khuôn khổ muốn chân thành hợp tác–đều bị coi như nguy hiểm cho chế độ, và bị anh em ông Diệm-Nhu coi như chống đối chính cá nhân mình. Trường hợp Y sĩ Trần Văn Đỗ (chú ruột Trần Thị Lệ Xuân, vợ ông Nhu), Nguyễn Tăng Nguyên (người theo ông Diệm về nước năm 1954), Luật sư Nguyễn Hữu Châu (anh rể Lệ Xuân), hay ông Vũ Văn Thái (Tổng Giám đốc Ngoại viện), cựu Thủ hiến Trần Văn Lý, Luật sư Lê Quang Luật, Y sĩ Phạm Hữu Chương chỉ là dăm thí dụ được nhiều người biết đến. Bản tuyên cáo tháng 4/1960 của 18 trí thức, nhân sĩ (thường được biết như Tuyên cáo Caravelle; Gravel, I:316-21), hay cuộc đảo chính hụt ngày 11/11/1960 của nhóm Đại tá Nguyễn Chánh Thi cho thấy sự bất mãn chế độ đã lan tràn từ giới trí thức thành thị tới hàng ngũ quân đội, xương sống của chế độ.

Trong khi đó, Cộng Sản Bắc Việt ngày một ưu thắng trong kế hoạch nhuộm đỏ (“giải phóng”) miền Nam. Nguyên từ năm 1956, dưới áp lực của chiến dịch Diệt Cọng và Tố Cọng (phát động từ ngày 7/7/1955), nhiều cán bộ Cộng Sản được gài lại miền Nam đã phải rút ra chiến khu, công khai chống lại chế độ Diệm bằng vũ lực. Do nhu cầu sinh tồn, cán bộ Cộng Sản liên kết với một số tàn quân giáo phái và Bình Xuyên–với sự trợ giúp của vài tổ chức lưu vong ở Pháp như Trần Văn Hữu, Trần Đình Lan, Lê Văn Thu, Hồ Thông Minh, Phạm Huy Cơ, v.. v...– dưới chiêu bài giải phóng miền Nam. Tới năm 1959, sau khi đã đồng ý cắt đất cho Bắc Kinh để xin quân viện, Hồ Chí Minh và Lê Duẩn gửi quân xâm nhập miền Nam. Khởi đầu là tái tổ chức căn cứ, rồi khủng bố, ám sát ở vùng nông thôn hẻo lánh, sau đó tiến lên cấp xã, cấp quận, cấp tỉnh.

[Năm 1958, 193 viên chức hành chính và cảm tình viên bị VC giết hại; năm 1959, 239 nạn nhân; trong sáu tháng đầu năm 1960, tổng số nạn nhân lên tới 780 người. Số người bị bắt cóc tăng từ 236 người năm 1958, lên 344 người năm 1959, và 282 người trong 6 tháng đầu năm 1960. (FRUS, 1958-1960, I:539n5). Nhưng cho tới thập niên 1970, nhiều chuyên viên thế giới vẫn khẳng quyết rằng cuộc chiến tại miền Nam là “nội chiến” giữa các phe phái đối nghịch nhau. Mãi tới thập niên 1980-1990, một số tư liệu về MT/GPMN mới được công bố để chứng minh “bản lĩnh vô địch” của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Một số tư liệu về việc Cộng Sản xâm nhập các lực lượng giáo phái tại Trung tâm Lưu trữ Quốc Gia 2 (Thành phố Hồ Chí Minh) cũng bắt đầu mở ra cho người nghiên cứu].

Mùa Thu năm 1961–phần vì tình hình hỗn loạn ở Lào, quân CSBV chiếm cứ Tchépone và củng cố tuyến chuyển vận chiến lược Tây Trường Sơn, thường được biết như “đường mòn Hồ Chí Minh”; phần vì một chuỗi thiệt hại về quân sự trong hai tháng 9-10/1961, đặc biệt là cuộc thất thủ tỉnh lÿ Phước Thành ngày 18/9/1961 (khiến tỉnh trưởng bị “tòa án nhân dân” treo cổ, phó tỉnh trưởng và 10 công chức khác thiệt mạng); tiếp nối bằng cái chết bí mật ngày 1/10/1961 của Đại tá Hoàng Thụy Năm, đại diện VNCH trong Ủy Ban Quốc tế Kiểm soát Đình chiến [ICC]–ông Diệm ban hành tình trạng “lâm nguy” (Luật 54/21 ngày 18/10/1961), tập trung mọi quyền hành còn sót lại vào dinh Độc Lập, biến cơ quan dân cử và tư pháp thành vật trang sức cho chế độ.

[Cũng trong dịp này, ông Diệm gửi thư cho hơn 90 chính phủ thuộc “thế giới tự do” yêu cầu trợ giúp. Trong dip thảo luận với Đại sứ Pháp Roger Lalouette ngày 7/11/1961, ông Diệm tiết lộ là cần cả việc trợ giúp của quân chiến đấu Đồng Minh lẫn yểm trợ chính trị. Ông Diệm còn khẳng định dân chúng miền Nam sẽ vui vẻ đón nhận quân chiến đấu Mỹ, vì Nam Việt Nam đã biến thành một Triều Tiên thứ hai; CĐ số 1094/101, Sàigòn gửi Paris; AMAE (Paris), CLV, carton 14. Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ cũng tuyên bố với Lalouette là tình hình cực kỳ nguy cập, mọi cải tổ chính trị đều quá chậm, chỉ còn cách đưa quân chiến đấu vào miền Nam; CĐ số 1074/76, Sàigòn gửi Paris; Ibid.]

Từ năm 1962, tình hình thêm tồi tệ. Ngoài mặt trận, vào giữa năm 1962, an ninh đã ở mức báo động đỏ. Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam [MT/GPMN] đã chính thức khai sinh trên danh nghĩa giữa cuộc binh biến 11/11/1960, và tích cực hoạt động từ khoảng mùa Xuân 1962, như một cánh tay chính trị ngoại vi của Bắc Việt, để cuộc chiến có cái bề ngoài “nội chiến” mà cơ quan tuyên truyền của khối Cộng Sản và các chuyên viên thế giới ưa thích diễn tả. (VNNB, I-C: 1955-1963, tr. 248-50) Trong nội bộ, tin đồn đảo chính lưu truyền khắp nơi. Ngày 27/2/1962, hai phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử đánh bom Dinh Độc Lập, nhưng không thành công trong việc tiêu diệt họ Ngô.

Nguy hiểm hơn nữa là giao tình giữa ông Diệm và Mỹ ngày một xấu đi. Những lời khen ngợi ông Diệm như “người của phép lạ” đã lạnh tắt dư âm. Từ năm 1957-1958, viên chức Mỹ bắt đầu tố cáo chế độ “Cảnh sát trị” [police state], cùng những vi phạm nhân quyền khác ở miền Nam –những cáo buộc với chứng cớ quá hiển nhiên đến độ Lansdale phải vụng về bào chữa: Đảng Cần Lao cũng như chế độ miền Nam là sản phẩm của Mỹ; tự lúc khai sinh nó đã độc tài, cách nào trách nó không dân chủ! Trong khi đó, anh em ông Diệm không còn hoàn toàn tin tưởng vào Mỹ nữa. Những lời chỉ trích trên báo chí Tây phương, rồi đến lời bàn tán “Họ Ngô phải ra đi” [The Ngos must go] của các viên chức Mỹ trẻ, và nhất là cuộc đảo chính hụt ngày 11/11/1960 khiến anh em ông Diệm hoài nghi sự ủng hộ của Mỹ. Chỉ một việc xin đưa Thủy Quân Lục Chiến Mỹ vào chiếm phi trường Tân Sơn Nhất để dẹp đảo chính mà Đại sứ Elbridge Durbrow cũng không chấp thuận. Lại còn áp lực hai bên phải hòa giải, thương thuyết. Nên ông Diệm chẳng cần bận tâm đến công lao của Durbrow và trưởng lưới CIA “Bill” Colby–ngăn chặn quân Nhảy Dù đánh thẳng vào Dinh Độc Lập, hay pháo của phe đảo chính nã vào Dinh Độc Lập và thành Cộng Hòa–mà chúi mũi dùi vào những nhân vật như Miller, Carver, v.. v... bên cạnh nhóm đảo chính. Họ Ngô công khai tuyên bố “có bàn tay lông lá” phía sau cuộc đảo chính trên. (Một trong những bằng cớ là nhân viên CIA Carver cho Luật sư Hoàng Cơ Thụy vào bao đựng văn thư để trốn khỏi nước)

Thực ra, từ năm 1959 người Mỹ mới bắt đầu chú ý nhiều hơn đến Việt Nam. Một trong những lý do là tình hình Lào ngày thêm rối loạn, phe Pathet Lào chiếm được một vùng tự trị quanh Sầm Nưa nhờ sự trợ giúp của quân Bắc Việt dưới quyền Chu Huy Mân (1913-2006) và Trần Văn Trà. Trong khi đó, Hà Nội công khai tuyên bố chủ trương “thống nhất đất nước” bằng võ lực, tìm cách xâm nhập cán bộ và vũ khí vào miền Nam qua vĩ tuyến 17 cũng như hành lang trên đất Lào. Dẫu vậy, phải tới thời John F. Kennedy, Mỹ mới bắt đầu leo thang sự can thiệp. Chiến lược hoàn cầu của Kennedy phần nào thay đổi so với chính sách của người tiền nhiệm: Kennedy muốn giành lại ưu thế về quân sự, chính trị và ngoại giao với Liên Sô Nga sau các biến cố phi thuyền Sputnik, phi cơ thám thính U-2, hay Cuba. Kennedy quyết định đương đầu với sách lược “chiến tranh giải phóng quốc gia” của điện Krem-li bằng mọi giá. Xương sống của chủ thuyết Kennedy là kế hoạch chống phản loạn (Counter-Insurgency Plan, viết tắt là CIP; thường được các tác giả Cộng Sản gọi là chiến tranh đặc biệt).

Trước viễn ảnh suy sụp của chế độ Ngô Đình Diệm, chính phủ Mỹ bỏ chính sách cơ mi cũ, muốn can thiệp mạnh hơn. Ngày 14/12/1960, Đại sứ Durbrow nhận lệnh Ngoại trưởng Christian A. Herter chính thức yêu cầu Diệm cải tổ nội các và thực thi một chính sách cởi mở hơn. Chín ngày sau, Durbrow nói rõ là nên đưa Ngô Đình Nhu đi làm Đại sứ và Trần Kim Tuyến cũng phải rời nước. Cũng cần giới hạn hoạt động của Đảng Cần Lao, và nếu cần giải tán tổ chức này. Chưa làm lễ nhiệm chức, tân Tổng thống Kennedy đã phái Tướng Lansdale qua Sài Gòn từ ngày 2 tới 14/1/1961 để dò xét tâm ý ông Diệm hầu thiết lập một kế hoạch riêng cho Việt Nam. Tiếp đó là các chuyến viếng thăm của Phó Tổng thống Lyndon B. Johnson, Tướng Maxwell D. Taylor, kinh tế gia Eugene E. Staley. Ngày 22/11/1961, Hội Đồng An Ninh Quốc Gia [HĐ/ANQG] Mỹ phê chuẩn Nghị quyết NSAM 111 về Việt Nam. Nghị quyết mang tên “Giai đoạn đầu của Kế hoạch Việt Nam” này dựa trên tờ trình của Bộ trưởng Quốc Phòng Robert S. McNamara và Ngoại trưởng Dean Rusk ngày 11/11/1961–chỉ gạch bỏ lời cam đoan rằng Mỹ sẽ can thiệp cho tới chiến thắng cuối cùng. Mỹ quyết định sẽ giúp Việt Nam Cộng Hòa đánh bại cuộc nổi dạy của “Việt Cộng” bằng mọi cách, ngoại trừ việc đưa quân chiến đấu vào đây. Kế hoạch này gồm nhiều điểm, từ quân sự tới kinh tế, chính trị, và bình định. Về quân sự, Mỹ sẽ tăng cường số cố vấn, thử nghiệm những kỹ thuật chiến tranh mới (như trực thăng vận, thiết vận xa, thuốc khai quang), v.. v... Sau đó sẽ nghiên cứu việc đưa quân chiến đấu vào miền Nam, nếu cần.

[Tháng 9/1963, Ngoại trưởng Rusk vẫn khẳng định Mỹ không muốn đưa quân chiến đấu vào miền Nam để tránh rơi vào tình trạng tương tự như Pháp trước đó, dù Mỹ cũng không muốn bỏ rơi miền Nam.( FRUS, 1961-1963, IV:185)]

Về phương diện quân sự, ông Diệm rất vui vẻ đón nhận quân viện và chính sách mới của Mỹ. Chẳng hạn như từ ngày 15/6/1961, ông Diệm luôn thúc dục Mỹ phải thực hiện càng sớm càng tốt việc sử dụng thuốc khai quang để phá hoại mùa màng trong mật khu Việt Cộng. Chỉ có hai trở ngại là vấn đề lập một Bộ Tư lệnh hỗn hợp Mỹ-Việt (sau Mỹ bỏ qua); và vấn đề cho quân đội được quyền tự trị.

Về phương diện hành chính và chính trị, Mỹ ra sức khuyến khích ông Diệm thay đổi lề lối cai trị, cho phép những người ngoài đảng Cần Lao tham gia sinh hoạt chính trị để tạo thế đoàn kết quốc gia. Anh em ông Diệm-Nhu cương quyết chống việc mở rộng chính phủ. Thái độ ông Diệm với cố vấn dân sự Mỹ ở các tỉnh cũng rất lạnh nhạt (như không cho cố vấn ở chung với Tỉnh trưởng; ngầm khuyến khích bất hợp tác).

Về phương diện bình định nông thôn–một lãnh vực ông Diệm không mấy chú tâm trước năm 1960–ông Nhu đưa ra hai kế hoạch Khu Trù Mật và ấp Chiến lược. Tự hào đây là quốc sách cứu vãn miền Nam, anh em ông Diệm-Nhu thường không hài lòng khi thấy báo chí Mỹ chỉ trích chiến lược này nói riêng, và chế độ độc tài, gia đình trị của họ Ngô nói chung. (Báo chí và chuyên viên về Việt Nam thỉnh thoảng nhắc đến hai tiếng “giáo phiệt Ki-tô”–tức dùng thiểu số Ki-tô cai trị một quốc gia đại đa số dân chúng [92-93%] không theo đạo này)

4. “Phiến Cộng” trong Dinh Gia Long:

Đáng ngại hơn nữa, và đây là thảm kịch của họ Ngô nói riêng, toàn dân quân miền Nam nói chung, qua kế hoạch “chiêu hồi,” anh em ông Diệm bị lôi cuốn dần vào cái bẫy sập “hòa bình, thống nhất, trung lập” của Hà Nội, với sự cổ võ của chính phủ Charles de Gaulle. Bẫy sập này bắt đầu mở ra trước hoặc sau bài chúc Tết của Hồ Chí Minh vào dịp đầu năm 1962–Hồ ngỏ ý mong mỏi thương thuyết “để hòa bình thống nhất Tổ quốc, trên cơ sở độc lập, dân chủ như Hiệp định Giơ-ne-vơ [Geneva, 20-21/7/1954] qui định.” (Báo cáo số 41/AS, Roger Lalouette gửi Couve de Murville; AMAE [Paris], CLV, SVN, hộp 91; Nhân Dân, 1/1/1962; Hồ Chí Minh Toàn Tập, 1989, 9:272) Vì thế, có tin ông Hồ đã gửi cho ông Diệm một chậu đào “vui Xuân” Nhâm Dần (1962)–chậu đào rồi sẽ tưới bằng máu họ Ngô.

[Theo Tướng Đỗ Mậu, ông Diệm khoe chậu đào này do bà con ngoài Bắc gửi tặng. Một nhân chứng khác, ông Cao Xuân Vỹ, cho rằng Hồ gửi chậu đào trên vào dịp Tết Quí Mão, 1963]

Trọn năm 1962 và đầu năm 1963, Hà Nội tiếp tục tung ra những màn hỏa mù ngoại giao “hòa bình, thống nhất trên cơ sở Hiệp định Geneva,” qua bài viết của Trung tướng Nguyễn Văn Vịnh, chuyến viếng thăm India của Y sĩ Phạm Ngọc Thạch (từng tiếp xúc mật với Mỹ từ năm 1946-1947), và đặc biệt, những cuộc “đi đêm” với anh em ông Diệm-Nhu. Vào tháng 5/1963, trong bài phỏng vấn của Alfred Burchett trên tờ báo chuyên về ngoại giao của Liên Sô Nga, New Times [Tân Thời Báo], Hồ Chí Minh còn lập lại đề nghị này như để khuyến khích họ Ngô.

Đại sứ Pháp Lalouette–qua thư riêng của ông Diệm xin Paris cứu nguy vào mùa Thu 1961, và kế hoạch “trung lập hóa” Đông Dương của Tổng thống Charles de Gaulle–đã hướng dẫn anh em ông Diệm lạc dần khỏi vòng quĩ đạo che chở và dung dưỡng của Mỹ. Giáo hoàng John XXIII (1958-1963), người từng trao đổi quà tặng với Nikita Khrushchev nhân dịp Giáng Sinh, cũng ít nhiều tiếp tay anh em ông Diệm-Nhu trong việc “ve vãn” [flirting] Cộng Sản này (với niềm tin rằng Hồ Chí Minh chủ hòa, và Trung Cộng chủ chiến). Ngoài ra, cũng cần đề cập đến không khí hòa hoãn đặc biệt giữa Mỹ và Nga vào cuối năm 1962, đầu năm 1963. Tháng 12/1962, Khrushchev đề nghị hai siêu cường nên hạn chế cuộc chạy đua vũ trang nguyên tử. Ngày 10/6/1963, Kennedy đáp ứng bằng bài diễn văn tại Đại học American ở Kentucky, kêu gọi tiến về một nền hòa bình thế giới. Khrushchev hết lời ca ngợi, và ngay sau đó, đại diện Mỹ, Bri-tên cùng Nga bắt đầu thương thuyết về vấn đề hạn chế thí nghiệm bom nguyên tử. Ngày 5/8/1963, Hiệp ước ngưng thí nghiệm nguyên tử trên không gian, trong khí quyển và dưới nước ký tại Mat-scơ-va.

Chính ông Nhu không dấu diếm người Mỹ những cuộc tiếp xúc bí mật với cán bộ Cộng Sản trong khuôn khổ quốc sách “chiêu hồi” (như ý định xin về hàng của một Đại tá Cộng Sản và 3 tiểu đoàn ở Lào). Có lần, ông Nhu đã kiêu hãnh chỉ vào chiếc ghế trước mặt, khoe với viên chức tình báo Mỹ rằng một cán bộ cao cấp Việt Cộng vừa ngồi ở đó.

[Cho tới nay vẫn chưa có tài liệu rõ ràng về những đầu mối bản xứ giúp ông Nhu ve vãn Việt Cộng. Có người cho rằng Mã Tuyên, một lãnh tụ Hoa kiều ở Chợ Lớn, là đầu mối quan trọng. Lại có tin Albert Phạm Ngọc Thuần [sau đổi thành Thảo], cựu Giám đốc Mật vụ của Ủy Ban Hành Chính Kháng chiến Nam Bộ (1947-1949), và lúc đó giữ chức Thanh tra ấp Chiến lược, với cấp Trung tá, là đầu mối khác. Ngoài ra, phải kể Vũ Ngọc Nhạ của cụm tình báo chiến lược A-22, và các ổ trí vận ở Sài Gòn dưới quyền Trần Bạch Đằng, kể cả em gái Bộ trưởng Trần Lê Quang, v.. v...]

Đây có lẽ là lỗi lầm chiến lược lớn nhất của anh em ông Diệm. Sở dĩ ông Diệm được đưa về làm Thủ tướng vào tháng 6/1954, hay viện trợ và ảnh hưởng chính trị Mỹ giúp khai sinh và dung dưỡng chế độ Việt Nam Cộng Hòa suốt hơn 8 năm sau Hiệp định Geneva, không nhắm mục đích cho ông Nhu bắt tay với Cộng Sản Hà Nội, hoặc, theo lời Ngoại trưởng Rusk, không để bà Nhu “vỗ tay reo hò” khuyến khích việc “nướng thịt sư.” Dù Đại sứ Frederick E. Nolting và Trưởng lưới Tình báo Trung ương (CIA) tại Sài Gòn, John H. Richardson, ngoảnh mặt làm ngơ–với hy vọng ông Nhu không bán đứng miền Nam cho Hồ–nhiều viên chức ở Oat-shinh-tân không dấu bất bình. Họ lo ngại rằng một ngày nào đó vợ chồng ông Nhu, mà ảnh hưởng đang khiến ông Diệm lu mờ dần, sẽ đòi hỏi Mỹ triệt thoái khỏi miền Nam, thành lập một chính phủ liên hiệp với Hà Nội hay MT/GPMN. Hai viên chức ngoại giao có tiếng nói mạnh nhất là W. Averell Harriman và George W. Ball của Bộ Ngoại Giao, từng nổi danh về lập trường chống Cộng. Họ nỗ lực vận động bắt vợ chồng ông Nhu cùng Tổng Giám mục Thục rời nước.


5. Thái độ giới truyền thông Mỹ:

Trong khi đó một nhóm ký giả trẻ như Neil Sheehan, Malcom Brown, David Halberstam, v.. v... được Trung tá Paul Vann, cùng viên chức trong Dinh Gia Long (Trần Kim Tuyến, Nguyễn Đình Thuần), và cán bộ tình báo chiến lược Bắc Việt (như Vũ Ngọc Nhạ, Pham Xuân ẩn) cung cấp tin tức mật–do những lý do và mục đích khác nhau–tìm cách trình bày chiến cuộc ở miền Nam và gia đình họ Ngô dưới những góc cạnh bi quan nhất. Sợi giây xuyên suốt qua những bài tường thuật của họ là trận chiến đang thua và Mỹ không thể thắng trận với anh em họ Ngô. Theo họ, Nam Việt Nam đang trở thành một thứ “bãi lầy” hay “cát lún,” nghĩa địa của uy tín và danh dự của siêu cường Mỹ.(“ Chiến thắng” Ấp Bắc vào đầu năm 1963 chỉ là một thí dụ) Qua những cuộc phỏng vấn Ngô Đình Nhu và nhất là Lệ Xuân, họ biến vợ chồng Nhu-Lệ Xuân thành một thứ quái vật đen của chế độ.

Vì không thích bị chỉ trích, họ Ngô tìm đủ cách phản ứng. Lệ Xuân từng ví các phóng viên Mỹ như “Cộng Sản” hoặc “tệ hơn cả Cộng Sản.” (Báo cáo của Manning; FRUS, 1961-1963, III:535) Ngô Đình Nhu cũng tâm sự với viên chức Mỹ: “Những ký giả trẻ đó chẳng mong muốn gì hơn lập một chính phủ mới” [These young reporters want nothing less than to make a new government. This is an exalting ambition, a stimulating pastime for three or four of them to get together to overthrow a government and create another].( Ibid. Nhu không để ý đến những ký giả CS nằm vùng như Phạm Xuân Ẩn, v.. v...) Từ áp lực Tòa Đại sứ Mỹ can thiệp, tới sử dụng tờ nhật báo Mỹ ngữ ở Sài Gòn, Times of Vietnam [Việt Nam Thời Báo], hay vài ký giả nổi danh như Margueritte Higgins, Joseph Alsop, v.. v... để trả đũa. Rồi dần dần đến những biện pháp kiểm duyệt, trục xuất, và ngay cả bạo động. (Xem David Halberstam, The Making of A Quagmire (New York: Random House, 1965; Neil Sheehan, The Bright Shining Lie (New York: Vintage Books, 1988), tr. 269-371)

6. Ông Diệm mất dần bạn cũ:

Từ năm 1962, nếu không phải sớm hơn, người Mỹ bắt đầu nghiên cứu một giải-pháp-khác-Diệm.( VNNB, I-C: 1955-1963, tr. 256-8) Ngay những người thân cận cũ của ông Diệm trong nhóm Bạn Mỹ của Việt Nam [American Friends of Vietnam] như Giáo sư Wesley Fishel, Joseph Buttinger, Thượng nghị sĩ Mike Mansfield (1903-2001), Lãnh tụ Khối đa số Thượng viện, không dấu sự hoài nghi khả năng của anh em ông Diệm. Cuối năm 1962, Mansfield còn yêu cầu Kennedy tái duyệt xét chính sách của Mỹ, tức nghiên cứu việc rút khỏi miền Nam trước khi quá trễ. (Báo cáo ngày 18/12/1962, FRUS, 1961-1963, II:Tài liệu 330; VNNB, I-C: 1955-1963, tr. 239-40, 268-9)

7. Chiến dịch chống Mỹ của Ngô Đình Nhu:

Như một phản ứng giây chuyền, hai anh em ông Diệm-Nhu bèn vận hết sức lực tự cứu. Một mặt, ông Nhu xúc tiến mạnh hơn việc móc nối Cộng Sản, qua trung gian của Pháp và Khâm sứ Vatican Salvatore d’Asta. Có tin, trong bóng tối, ông Nhu bí mật gặp Phạm Hùng, Phó Thủ tướng đặc trách vấn đề thống nhất, ở vùng Bà Rịa.( William Colby, Lost Victory, 1989, tr.103; Chính Đạo, Tôn Giáo & Chính Trị: Phật Giáo, 1963-1967 [1994], tr. 50-53) Mặt khác, ông Nhu và vợ (Lệ Xuân) mở chiến dịch bài Mỹ. Chua ngoa nhất, dĩ nhiên, là Lệ Xuân. Ngay Đại sứ Nolting–người nhiệt thành ủng hộ ông Diệm–từng đe dọa sẽ rời khán đài danh dự trong Lễ Hai Bà Trưng năm 1963, nếu Lệ Xuân đả kích Mansfield. Hoặc, từ chối lên Đà Lạt nghỉ mát với Bà Nhu vào dịp cuối tuần vì những lời tuyên bố vô trách nhiệm của Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới do Lệ Xuân làm chủ tịch.

[Lệ Xuân, tưởng cũng nên thêm, trở thành đối tượng của một chiến dịch đả kích cực kỳ tinh vi. Người ta tung tin kiểu Lệ Xuân ngày ngày tắm bằng sữa tươi trong khi trẻ em Việt không có sữa mà bú. Đời tư của Lệ Xuân cũng bị thêu dệt đủ thứ chuyện. Nào là loạn luân với Bảo Đại (cháu họ), hay ngoại tình với Tướng Nguyễn Văn Hinh, dùng thân xác cho đủ loại tham vọng. Đài phát thanh Quân đội Quốc Gia cũng từng ra rả câu “đồng dao”: “Nực cười thay họ Ngô Đình, Trai không có vợ, mượn tình em dâu.” Nguòi ta còn tung tin đồn Lệ Xuân là người tình của Trần Văn Đôn, v.. v...]

8. Mùa Phật Đản đẫm máu:

Tiếp đó, một chuỗi biến cố trầm trọng xảy ra. Nẩy lửa nhất là cuộc nổi dạy của Phật giáo trong dịp lễ Phật đản 8/5/1963. Khởi đi từ “khẩu lệnh” cấm treo cờ Phật giáo của ông Diệm, cuộc chống đối của tăng ni, Phật tử và quyết định đàn áp của chế độ đưa đến cuộc thảm sát man rợ trước đài phát thanh Huế (khiến 9 người thiệt mạng, kể cả hai thiếu nhi–một thứ tội sát nhân (murder), vi phạm luật chiến tranh (war crimes) và vi phạm nhân quyền (crimes against human rights) mà Liên Hiệp Quốc lên án.

[Thoạt tiên ông Diệm biện bạch với viên chức Mỹ rằng có bàn tay khủng bố của Cộng Sản ném lựu đạn.( Chính Đạo, VNNB, I-C: 1955-1963, tr. 285, 286) Lời biện bạch này có lẽ do một công điện mật gửi đi từ Tòa Đại biểu Trung Nguyên Trung Phần sáng ngày 9/5/1963. Theo Mật điện của Văn phòng Đại biểu chính phủ tại TNTP ngày 9/5/1963, trong lúc Đậng Sỹ đàn áp đám đông, “một quả lựu đạn MK-2 đã từ trong đoàn người phóng ra làm cho 7 thường dân chết, 1 thường dân và 5 binh sĩ bị thương. Cơ quan an ninh đã phải xử dụng lựu đạn cay mắt để giải tán đoàn người và tình hình đã trở lại tương đối yên tịnh vào lúc 24G00.” VP/ĐBCP/TNTP cũng qui tội cho Việt Cộng, và xin được tổ chức biểu tình ngày 9/5/1963. (CĐ số 100/MM, ngày 9/5/1963, ĐBCP/TNTP gửi PTT; TTLTQG 2 [TP/HCM], PTT/1CH, HS 8523) Mãi đến chiều ngày 8/6/1963, ông Diệm mới chịu nhìn nhận rằng cấp dưới đã báo cáo sai lạc là Cộng Sản ném lựu đạn.( VNNB, I-C: 1955-1963, tr. 293) Nhưng những người muốn phong thánh họ Ngô vẫn khăng khăng rằng các nạn nhân đã chết vì một trái lựu đạn “bí mật” của Cộng Sản. Có tác giả nói đến một trái mìn đặc biệt của nhân viên tình báo Mỹ đã chết nào đó.

Cho tới năm 2002, vài người còn nhắm mắt lại mà nguyền rủa quả lựu đạn hay trái mìn của “Cộng Sản” hoặc “tình báo Mỹ” không hề hiện hữu trên!] [Xem Phụ Bản I]

Dù biết và thú nhận thuộc hạ báo cáo sai lạc, ông Diệm vẫn cho lệnh Đại tá Đỗ Cao Trí “tái lập trật tự” ở Huế, và Đại tá Lâm Văn Phát “ổn định tình hình” ở Đà Nẵng. Sau đó, phong tướng cho Đại tá Trí để thay Tướng Lê Văn Nghiêm chỉ huy vùng I. Thuộc hạ các ông Cẩn-Thục tự do sử dụng cảnh sát, công an, mật vụ, Nhảy Dù, cảnh sát, xe tăng, khói độc (blister gas) và quân khuyển để đàn áp biểu tình. Họ bắt giữ bừa bãi (arbitrary detention) và tra tấn (torture) hàng ngàn người vô tội theo phương cách Trung cổ.

Tại Sài Gòn, các lãnh tụ Phật giáo nổi danh chống Cộng như Thượng tọa Thích Tâm Châu, Thích Quảng Độ đều đứng lên bảo vệ Phật giáo. Điều khiến đại đa số thầm lặng và ngay cả người thân cận với ông Diệm xa lánh dần chế độ là phe tranh đấu Phật giáo chỉ đưa ra những nguyện vọng rất ôn hòa–bình đẳng tôn giáo và hủy bỏ Dụ số 10 đặt Ki-tô giáo lên hàng tôn giáo duy nhất được công nhận.( Phỏng vấn điện thoại ông Đỗ Mậu, 1/2002)

Không muốn làm mất vui ngày lễ mừng 25 năm thụ phong Giám mục (Tae Deum) của ông Thục (từ 25 tới 27/6/1963)– được tổ chức như quốc lễ tại nhà thờ Kỳ Đồng ngày 5/5/1963, tức một ngày trước khi Diệm ra lệnh cho Quách Tòng Đức, Đổng lý Văn Phòng Phủ Tổng Thống, gửi đi Công điện số 9195, ngày 6/5/1963, “chỉ thị cho các cơ sở phụng sự bất câu tôn giáo nào, trên các cơ sở phụng tự (nhà thờ, chùa chiền, v.. v...) chỉ treo cờ quốc gia mà thôi. . . Sự treo cờ, ảnh phía trong thì tùy nghi. . . .” (CĐ số 9195, ngày 6/5/1963, Quách Tòng Đức gửi Đô trưởng Sài Gòn, Tỉnh trưởng, Thị trưởng, các Đại biểu CP; TTLTQG 2, PTT/1CH, HS 8501) –ông Diệm lại ra tay “tái lập trật tự” theo đúng phương cách ở miền Trung. Dùi cui, vòi rồng, khói ngạt, quân khuyển, mật vụ, công an, rồi đến Lực lượng Đặc biệt, Nhảy Dù. Thái độ cứng rắn của anh em ông Diệm-Nhu, với nữ phát ngôn viên bán chính thức Lệ Xuân, đưa đến cuộc tự thiêu vì đạo pháp của Thượng tọa Thích Quảng Đức ngày 11/6/1963, mồi lửa đầu tiên thiêu hủy chế độ. Rồi đến cuộc tự sát bằng thuốc độc của nhà văn Nhất Linh ngày 6/7/1963–để phản đối thứ “cong lý” của chế độ, khi ông Diệm đưa nhóm liên hệ đến cuộc đảo chính 11/11/1960 ra tòa xét xử hầu răn đe những người chống đối–cái chết đẩy giới trí thức, học sinh, sinh viên nhập cuộc.

Nhưng đáng sợ hơn là hậu quả của chính sách bàn tay sắt trên, tức sự bất mãn trong giới quân đội và công chức. Ngay những người thân thiết với chế độ cũng xa lánh, hay tích cực hơn, tìm cách tổ chức lật đổ họ Ngô. Quân đội có các Tướng Nguyễn Khánh, Trần Thiện Khiêm, Trần Văn Đôn, Lê Văn Nghiêm, Phạm Xuân Chiểu, v.. v... Dân sự có Y sĩ Trần Kim Tuyến (với sự yểm trợ của Thượng tọa Tâm Châu, Thiện Minh, Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình). Ngoài ra, còn nhóm Ki-tô miền Nam, cựu Cần Lao, của các ông Huỳnh Văn Lang, Phạm Ngọc Thảo, v.. v...

Như đổ dầu vào lửa, suốt mùa Hè 1963, thái độ vợ chồng Nhu-Lệ Xuân thêm hung hăng, khiêu khích. Hai vợ chồng Nhu công khai vu cáo cuộc tranh đấu của Phật giáo do “Cộng Sản” chủ trương hay xúi dục (trong khi chính ông Nhu đang móc nối với Cộng Sản); nhục mạ những cuộc tự thiêu là “nướng thịt sư”; v.. v... Ngày Thứ Năm, 1/8, trong cuộc phỏng vấn với đài truyền hình Mỹ CBS, Lệ Xuân tố cáo các lãnh tụ Phật giáo đang âm mưu lật đổ chính phủ. Theo Lệ Xuân, tất cả những gì Phật tử đã làm chỉ có “nướng thịt sư” (barbecue a bonze) với xăng nhập cảng. Hai ngày sau, 3/8, trong lễ mãn khóa huấn luyện bán quân sự cho Thanh Nữ Cộng Hoà, Lệ Xuân lên án Phật tử là phản loạn đang sử dụng các thủ thuật Cộng sản phá hoại quốc gia. Đại sứ Trần Văn Chương, cha của Lệ Xuân, mượn đài V.O.A. [Đài Tiếng nói Hoa Kỳ] lên án con gái là vô lễ và hỗn láo [impertinent and disrespectful] trong buổi phát thanh ngày Thứ Ba, 6/8/1963. Lệ Xuân bèn sai báo Times of Vietnam (số ra ngày Thứ Năm, 8/8/1963) phỏng vấn để trả lời, khẳng định chỉ nói lên sự thực, và các lãnh tụ tranh đấu không đại diện cho Phật giáo hay dân tộc Việt Nam.

Để trả lời Lệ Xuân, ngày Chủ Nhật, 4/8, Đại Đức Nguyên Hương (Huỳnh Văn Lễ) tự thiêu trước Dinh Tỉnh trưởng Phan Thiết. Sau đó Phật tử tranh đấu biểu tình đòi lại xác. Hôm sau, 5/8, một tăng sĩ khác tự thiêu ở Sài-Gòn để đòi bình quyền tôn giáo.

Ông Nhu ra sức bênh vực Lệ Xuân. Khi Đại sứ Nolting than phiền, Nhu biện hộ rằng Lệ Xuân có quyền phát biểu ý kiến riêng của một công dân. Cá nhân ông Nhu cũng tuyên bố với hãng thông tấn Reuters rằng sẽ xuống tay với chùa Xá Lợi vì các tăng sĩ đang âm mưu đảo chính. Rồi đe dọa rằng nếu không giải quyết được vấn đề Phật giáo, sẽ có một cuộc đảo chính chống Mỹ và Phật giáo.( Ngày 5/8, New York Times đăng lại tin này của Reuters).

Lối chụp mũ “Cộng Sản” và “âm mưu lật đổ chính quyền hợp pháp” này, được ông Diệm và Bộ trưởng Nội vụ Bùi Văn Lương “làm phép lành,” không chỉ có tính cách mạ lÿ vu vơ như ở hải ngoại hiện nay. Chúng mang sức mạnh của bạo lực man rợ hôn ám các ngục tù và cơ quan cảnh sát, an ninh của chế độ: Đêm đêm, mật vụ lùng bắt học sinh, sinh viên, cùng Phật tử, và đối xử với họ như những nghi can Cộng Sản khác. Nước xà-phòng (còn gọi là sà-bông, do chữ savon) đổ vào cuống họng, rồi cho đi “tàu ngầm,” “tàu bay;” quay điện vào tai, hay bộ phận sinh dục; dùng đèn tụ quang hàng ngàn watts (oắt) chiếu vào mắt; học sinh, sinh viên bị nhốt vào những phuy [fut] chứa nước phơi giữa trời nắng, cho điều tra viên cầm dùi cui gõ bên ngoài. Và bất cứ thứ đòn tra tấn dã man nào khác mà nha trảo chế độ có thể sáng chế ra. Hai chữ “dã man” phải dùng vì không còn tĩnh từ nào đủ diễn tả cảnh người hành hạ người như nha trảo chế độ Diệm khủng bố dân chúng miền Nam, chỉ vì quyết tâm đòi hỏi tự do, dân chủ hay khác niềm tin tôn giáo. (Trong số thân hữu của tôi có quí ông Phạm Mộng Chương, Vũ Văn Lê, Nguyễn Văn Năng, hiện đang cư ngụ tại Houston, từng nếm mùi ngục tù và tra tấn của chế độ họ Ngô) Phần những lời đả kích Mỹ của vợ chồng Nhu-Lệ Xuân–chẳng hiểu do muốn chứng minh với Bắc Việt thành tâm hòa hợp, hòa giải, hay để trả đũa báo chí Mỹ–biến thành những chiếc đinh, từng chiếc, từng chiếc, đóng dần lên quan tài của chế độ.

Ngày Thứ Năm, 8/8, báo New York Times đăng trên trang nhất bài của ký giả David Halberstam, từ Sài Gòn, với tựa “Bà Nhu Tố Cáo Mỹ Bắt Chẹt ở Việt Nam” [Mrs. Nhu Denounces U.S. for “Blackmail” in Vietnam]. Theo Halberstam, Lệ Xuân tuyên bố rằng Tổng thống Diệm không có dân chúng ủng hộ, phải dựa vào vợ chồng Nhu. Song song với bài trên có bài của Tad Szulc ở Oat-shinh-tân, tiết lộ mối quan tâm ngày một gia tăng của chính phủ Kennedy về việc chính phủ Diệm khó sống còn nếu không hòa hoãn với Phật giáo. Trong khi đó, tuần báo Newsweek, số đề ngày 9/8/1963, đăng một bài đặc biệt về “Rồng Cái” [Dragon Lady] Lệ Xuân.

Tại Oat-shinh-tân, ngày 9/8, Michael Forrestal thuộc Ban Tham mưu HĐ/ANQG làm phiếu trình lên Kennedy về thái độ của vợ chồng Nhu. Báo cáo này cũng nhắc đến việc ba quốc gia Cao Miên, Ceylon [Sri Lanka ngày nay], Nepal đã đưa vấn đề Phật giáo ra trước văn phòng Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc; và, Liên Hiệp Quốc có thể sẽ họp Đại Hội Đồng để thảo luận.

Ngày 10/8, Nolting gặp ông Diệm về Lệ Xuân. Khi ông Diệm lập lại lối biện hộ rằng Lệ Xuân có quyền phát biểu ý kiến riêng, Nolting bảo thẳng Diệm rằng nếu không đích thân giải quyết, ủng hộ Đại sứ Trần Văn Chương, và chấm dứt tình trạng “động kinh” [schizophrenia] hiện tại, thì đừng trông đợi sẽ duy trì được liên hệ tốt với chính phủ Mỹ. Ông Diệm đành hứa là sẽ cứu xét các biện pháp đối với Lệ Xuân, và đã nghĩ đến việc cho Lệ Xuân “nghỉ.” Trong báo cáo về Oat-shinh-tân, Nolting đề nghị cho Lệ Xuân đi “nghỉ dài hạn” vì vượt ngoài sự kiểm soát của cha mẹ và anh chồng. Tổng Giám Mục Thục cũng được thăng cấp [về Vatican]. Phó Tổng thống Thơ, Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần, Ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu, Bửu Hội, và chính Ngô Đình Nhu đều đồng ý.( FRUS, 1961-1963, III:560-1)

Ngày Thứ Hai, 12/8–sau khi được chỉ thị phải áp lực ông Diệm tái xác định chủ trương hòa hoãn với Phật Giáo (FRUS, 1961-1963, III:537-8)–Nolting lại gặp ông Diệm. Vì họ Ngô đã có quyết tâm từ sau buổi họp mật tại Huế vào cuối tháng 6/1963, ông Diệm trút tội cho các tăng ni thiếu thành thực, và trách thế giới không biết đến việc các sư giả muốn lật đổ chế độ.

[“Sư giả” là sáng chế của họ Ngô–mùa Hè 1963, người ta thấy xuất hiện trên đường phố, rạp hát, tiệm ăn nhiều thanh niên cạo đầu trọc, mặc áo tu sĩ Phật Giáo, chửi thề, ăn nói tục tĩu. Ai cũng biết đây là sáng kiến của nha trảo họ Ngô].

Ông Diệm cũng phủ nhận nguồn tin mật mà Bộ trưởng Thuần tiết lộ với viên chức Mỹ tối hôm trước là Lệ Xuân cùng em ruột, Trần Văn Khiêm, với sự quay mặt làm ngơ của Nhu, đang tổ chức một toán cảnh sát đặc biệt để bắt cóc đối thủ. (Ít tuần sau, Khiêm khoe với một ký giả Ôs-tra-li-a [Australia] danh sách những người cần bị tiêu diệt)

Nhưng vì Nolting sắp hết nhiệm kỳ, ông Diệm hứa sẽ cho Nolting biết quyết định vào tối đó, khi gặp nhau tại dạ tiệc tiễn biệt–lời hứa ông Diệm không giữ. Câu trả lời đích thực của ông Diệm được Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ phát biểu trong buổi họp báo ngày hôm sau, 13/8. Ông Thơ tuyên bố sẽ truy tố một số người tham dự biểu tình ngày 8/5/1963; và những người bị bắt sau ngày ra Tuyên cáo chung 16/6/1963 có thể không được khoan hồng. Trong phần hỏi đáp, ông Thơ so sánh trường hợp Lệ Xuân với những lời chỉ trích chính phủ VNCH của TNS Mansfield. Ngày này, như để trả lời ông Thơ, Đại đức Thanh Tuệ, 17 tuổi, tự thiêu tại chùa Phước Duyên.

Bạch Cung và Bộ Ngoại Giao Mỹ không dấu được bực dọc. Trong công điện ngày 13/8 gửi Nolting, Bộ Ngoại Giao Mỹ cho rằng buổi họp báo của Thơ khó thể kết luận là “hoà hoãn.” Và đặt câu hỏi liệu ông Diệm có chịu đi nghỉ mát chung với vợ chồng Nhu một thời gian, để Phó Tổng thống Thơ làm Quyền Tổng thống, và ông Ngô Đình Luyện làm cố vấn hay Thủ tướng? (FRUS, 1961-1963, III:564-5)

Trọn ngày Thứ Tư, 14/8, Nolting cố thuyết phục, nhưng ông Diệm quyết không chịu ra thêm một bản tuyên bố nào về chính sách hòa hoãn với Phật Giáo. Khi vào chào từ biệt lúc 11G00, Nolting chỉ được nghe ông Diệm ca ngợi công lao ông Nhu đóng góp vào quốc sách chống Cộng. Tới phút chót, sau khi Nolting lại đe rằng liên hệ giữa Mỹ và VNCH sẽ bị tổn thương nếu Diệm không tuyên bố rõ ràng ai đang thực sự cai trị miền Nam, cải thiện dư luận về những lời tuyên bố của Lệ Xuân, ông Diệm mới hứa sẽ ra tuyên cáo trước khi Nolting rời Sài Gòn.(FRUS, 1961-1963, III:565-6)

“Tuyên cáo” của ông Diệm thực ra là bài phỏng vấn của Marguerite Higgins đăng trên The New York Herald Tribune ngày 15/8. Ông Diệm tuyên bố vẫn theo chính sách ôn hoà với Phật giáo, và ngầm đả kích những lời tuyên bố lỗ mãng của vợ Nhu. Ông Diệm và gia đình cũng rất vui lòng về việc bổ nhiệm tân Đại sứ Henry Cabot Lodge. Nhưng đây chỉ là món quà chia tay với Nolting, và để trấn an dư luận Mỹ. Các viên chức Mỹ không thỏa mãn với thứ “Tuyên ngôn” qua phỏng vấn báo chí này: Nó không những bán chính thức mà Diệm có thể phủ nhận hay cải chính bất cứ lúc nào.

Trong khi đó, phong trào tranh đấu của Phật Giáo ngày một lớn mạnh. Tại Huế, ngày Thứ Tư, 14/8, một thợ mộc Phật tử phụ trách việc treo biểu ngữ và cờ bị bắn chết. Hôm sau, 15/8, ni cô Diệu Quang tự thiêu tại chùa Ninh Hoà. Sinh viên Huế cũng bắt đầu xao động. Từ giữa tháng 8/1963, họ công khai chống đối việc thay thế Viện trưởng Đại học Huế Linh mục Cao Văn Luận bằng Giáo sư Trần Hữu Thế.

Giọt nước làm tràn ly, và cũng chiếc đinh đầu tiên đóng lên nắp quan tài VNCH, là cuộc tấn công hầu hết các chùa chiền trên toàn quốc vào nửa đêm ngày 20, rạng ngày 21/8/1963.

Đây là một tội ác vi phạm nhân quyền khác, nặng nề gấp trăm lần cách dùng đèn cầy [nến] đốt hậu môn tù nhân mà có nhân chứng tiết lộ rằng Tri huyện Ngô Đình Diệm sính dùng để khảo cung nghi can ngày còn làm quan cho Pháp hơn 30 năm trước. Cuộc tấn công này và những thủ thuật bưng bít, xuyên tạc của anh em ông Diệm-Nhu trong những ngày kế tiếp–như ông Diệm cả quyết rằng chỉ lục soát vài chục ngôi chùa lớn trong số 4,700 chùa khắp miền Nam–gỡ xuống chiếc mặt nạ “tiết trực tâm hư” của ông Diệm, và gột sạch bất cứ thiện cảm nào còn sót lại với ông ta trong đám đông thầm lặng cũng như viên chức Mỹ.

Cho đến nay, vẫn còn người cố tình xuyên tạc về biến cố tấn công các chùa chiền đêm 20 rạng 21/8. Bởi thế tưởng nên thuật lại tóm lược biến cố trên.

9. Cuộc tảo thanh chùa chiền:

Ý định tấn công các chùa chiền và ban hành thiết quân luật từ nửa đêm ngày 20/8 không được giữ bí mật hoàn toàn như người ta thường nghĩ. Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần đã cho nhân viên Tòa Đại sứ Mỹ biết về Thiết quân luật trước nhiều giờ.( FRUS, 1961-1963, III:595n2) Một ký giả Mỹ cũng tự nhận được “mật báo” từ một viên chức nào đó tại Dinh Gia Long, nên đã tới chùa Xá Lợi trước khi xảy ra cuộc tấn công. Và, thực ra, từ hơn nửa tháng trước, đích thân ông Nhu đã răn đe trong cuộc phỏng vấn của hãng thông tấn Reuters là sẽ phá tan chùa Xá Lợi, nhưng khi bị Nolting chất vấn đã qui trách cho ký giả Mỹ dẫn không đúng lời mình. Từ ngày 7/8/1963, Hòa thượng Tịnh Khiết cũng đã báo động với Tổng thống Diệm về ”Kế hoạch Nước Lũ,” nhằm cô lập và phân hoá các chùa, đồng thời đàn áp cuộc đấu tranh của Phật Giáo. (KLTQG II, PTT/Đ1CH, HS 8541) [Xem Phu Bản II]

Người đưa ra đề nghị thiết quân luật là các Tướng, do André Đôn cầm đầu. Nhưng không hiểu các Tướng có biết đến kế hoạch mật của ông Nhu. Người được giao trách nhiệm tổng quát ở Sài Gòn là Thiếu tướng Tôn Thất Đính, Tư lệnh Quân Đoàn III, kiêm Tổng trấn thủ đô. Đại tá Lê Quang Tung chỉ huy Lực Lượng Đặc Biệt, và Trần Văn Tư, Giám đốc Cảnh sát Đô thành, chỉ huy Cảnh sát mặc giả quân phục. Tại chùa Xá Lợi (Sài Gòn), cuộc tấn công khởi sự vào khoảng 1 giờ sáng. Binh sĩ LLĐB và Cảnh Sát sử dụng cả lựu đạn khi lục soát. Hòa thượng Tịnh Khiết và Thượng tọa Tâm Châu cùng Ủy ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo đều bị bắt. Hơn 30 người bị thương. Chỉ có hai tăng sĩ chạy được qua cơ quan USOM, gần chùa Xá Lợi xin tị nạn (Thượng tọa Trí Quang xin tị nạn vài ngày sau). Mặc dù các giới chức Việt Nam áp lực phải trao trả hai tăng sĩ trên, nhưng XLTV Đại sứ Trueheart từ chối. Ông Nhu bèn cho lệnh đặt kẽm gai cô lập cơ sở USOM, ngoại bất nhập, nội bất xuất.( Gravel, II:210; Tâm Châu 1994:19; FRUS, 1961-1963, III:595-7; Xem thêm Phạm Trọng Nhân, “Cuốn sổ tay của một nhân viên ngoại giao nhân vụ tấn công chùa Xá Lợi;” Bách Khoa, số 169 (15/1/1964), tr. 31-43, và số 170 (1/2/1964), tr. 21-31).

Chỉ riêng tại Sài-gòn, khoảng 2,000 tăng ni Phật tử bị bắt. Ngoại trừ Hòa thượng Tịnh Khiết được phóng thích ngay, hầu hết các lãnh tụ tăng ni tranh đấu đều bị giam giữ. Nhiều người bị tạm giam trên những sà-lan nổi trên sông Sài-gòn. (Giống như chế độ Decoux giam giữ tù binh Cộng Sản trong cuộc nổi dạy ở miền Nam vào tháng 11/1940)

Tại Huế, khoảng 3 giờ đêm tiếng mõ, tiếng chuông, tiếng kêu cứu vang lên khắp nơi. Đồng bào quanh chùa đánh mõ, gõ thùng thiếc báo nguy. Đợt tấn công đầu, Cảnh sát Dã chiến của Tỉnh trưởng Nguyễn Mâu bị đẩy lui. Sau đó, Đỗ Cao Trí cho lệnh nổ súng. Giáo sư, sinh viên và học sinh tranh đấu trong vụ cách chức Linh mục Viện trưởng Cao Văn Luận trong hai ngày 17-18/8 cũng bị bắt giữ tại tư gia.

Theo Đại sứ Pháp, người có mặt bên ông Nhu suốt thời gian tấn công chùa chiền, viên chức Việt còn bỏ vũ khí, truyền đơn vào các chùa để vu cáo Phật giáo âm mưu lật đổ chính phủ. Anh em ông Diệm-Nhu cũng cắt hết điện thoại của các cơ quan Mỹ hầu mong bưng bít sự thực. Các phi vụ bị tạm ngưng. Báo chí bị kiểm duyệt gắt gao.( CLV, SV, 17:28; FRUS, 1961-1963, III:598-9)

Ngày 6/9, ông Nhu biện bạch với một viên chức CIA Mỹ rằng ngày 8/5 đang đi nghỉ mát với gia đình. Nhu cũng không liên quan gì đến việc ban hành thiết quân luật hay tấn công chùa chiền. Tối ngày 18/8, các Tướng đã yêu cầu Diệm ban hành thiết quân luật. Ngày 19 hay 20/8, Đỗ Cao Trí cũng vào gặp Nhu trình bày một kế hoạch tấn công các chùa và danh sách những người cần bắt mà Trí đã chuẩn bị từ một tháng trước. Nhu chỉ là con dê tế thần trong cuộc khủng hoảng này. Từ sau ngày 21/8, Nhu vẫn theo đuổi chính sách hòa hoãn. Nhân viên CIA có cảm tưởng Nhu dấu diếm sự thực [deception]. (FRUS, 1961-1963, IV, Tài liệu 69)

Để che đậy cho tội ác có thể bị truy tố ra trước Tòa Hình sự Quốc tế này, trong buổi họp chính phủ đặc biệt vào 5 giờ rưỡi sáng ngày 21/8, ông Diệm hoàn toàn im lặng về cuộc đánh chùa, bắt tăng ni, mà chỉ nói nhiều đơn vị Cộng Sản đang xâm nhập một số tỉnh lÿ, quận lÿ gần thủ đô nên phải thiết quân luật để tảo thanh theo điều 44 Hiến pháp. Ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu và Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ phản đối nhưng không kết quả.

Đúng 6G00 sáng, Tổng thống Diệm chính thức tuyên bố thiết quân luật qua đài phát thanh. Đồng thời tiết lộ vì Tướng Lê Văn Tÿ bị bệnh nặng đã cử Trung tướng Trần Văn Đôạn làm Quyền Tổng Tham Mưu Trưởng, và Tướng Tôn Thất Đính được phong làm Tổng trấn. Sau đó, ra lệnh giới nghiêm từ 9 giờ tối đến 5 giờ sáng.( AFP) Đài phát thanh quân đội cũng đọc một nhật lệnh dài của ông Nhu, kêu gọi Thanh Niên Cộng Hòa phải ủng hộ chính quyền.

Ngay trong ngày 21/8, Tướng Đôạn báo cáo qua điện thoại với Tướng Harkins rằng chính ông Diệm ra lệnh Thiết quân luật để chống lại Phật giáo. Hiện mới chỉ sử dụng một tiểu đoàn Dù, 1 tiểu đoàn TQLC, và quân cảnh ở Sài-gòn. Tuy nhiên, các đơn vị ven đô đều đặt trong tình trạng báo động. Thiết giáp cũng xuất hiện trên đường phố Sài-gòn, Chợ-lớn và Huế.

Cuộc tổng tấn công chùa chiền xảy ra khi Đại sứ Lodge mới từ Honolulu qua Tokyo, và dự định ghé thăm Hong kong ít ngày, trước khi tới Sài Gòn để trình ủy nhiệm thư vào ngày 26/8. Oat-shinh-tân vội gửi một chuyến phi cơ quân sự đặc biệt cho Lodge tới ngay Sài Gòn. Khoảng 21G30 ngày 22/8, Lodge mới có mặt tại thủ đô miền Nam.

Đại sứ Lodge là một lãnh tụ quan trọng của Đảng Cộng Hòa Mỹ. Năm 1960, Lodge từng đứng chung liên danh với Richard M. Nixon, nhưng bị liên danh Kennedy-Johnson của Đảng Dân Chủ đả bại khít khao. Từ tháng 6/1963, khi Oat-shinh-tân hỏi ý kiến về việc đề cử Lodge, ông Diệm không phản đối, nhưng không dấu sự bất mãn và lo ngại. Ông Nhu mỉa mai Lodge là Toàn quyền [Gouverneur General], trong khi ông Diệm tuyên bố dù có gửi «10 Lodge qua Việt Nam, Mỹ vẫn phải huấn luyện người bắn pháo binh vào Dinh Gia Long. »

Trong buổi tiếp kiến Kennedy vào trưa ngày 15/8, Lodge có cảm tưởng rằng Kennedy đặc biệt lo ngại về tình hình Việt Nam, và hàm ý rằng chế độ Diệm đang đi vào đoạn kết. Cuộc tấn công chùa ngày 21/8 đặt Lodge trước một việc đã rồi. Một cái tát xiếc, như một ký giả Mỹ nhận định, nếu xét kỹ những áp lực và đòi hỏi “hòa hoãn với Phật giáo” của Oat-shinh-tân.

Ngay trong ngày 23/8, Lodge cho nhân viên đi tiếp xúc hầu hết các nhân vật cao cấp Việt để có được một hình ảnh rõ ràng về tình hình. Lodge còn mời các ký giả Mỹ tới tham khảo hầu cải thiện liên hệ giữa Tòa Đại sứ với các ký giả. Không kém quan trọng, Lodge cho người đi tháo gỡ dây kẽm gai mà Cảnh sát giăng kín trụ sở USOM, đích thân tiếp xúc hai nhà sư xin tị nạn, và gặp đại diện nhóm Caravelle. Lodge còn tiếp xúc với Đại sứ Italia Giovanni d’Orlandi và Khâm sứ Vatican Salvatore d’Asta. Chỉ trong vòng 24 giờ, Lodge đã nắm vững được tình hình. Trước hết, quân đội không dính líu gì đến cuộc tấn công chùa chiền, và nhóm Tướng Dương Văn Minh, André Đôn, Lê Văn Kim muốn làm đảo chính.

Hai biến cố khác chấn động dư luận là việc Ngoại trưởng Mẫu đột ngột từ chức chiều ngày 22/8, và cạo đầu phản đối chính sách đàn áp Phật giáo. Hôm sau, ông Diệm không chấp thuận cho ông Mẫu từ chức, chỉ cho nghỉ dài hạn ba tháng, qua Nepal hành hương. Ngày Thứ Bảy, 24/8, ông Mẫu tới Đại học Luật khoa nói chuyện với sinh viên, và trước khi ra về hẹn sẽ gặp lại vào ngày hôm sau. Nhưng từ ngày này, ông Mẫu bị giam lỏng tại gia. Hai ngày sau, 26/8, trên đường ra phi trường để qua India, ông Mẫu bị Tướng Đính cản lại tịch thu thông hành theo lệnh của ông Diệm. (Nhân 1964a:39) Mãi tới ngày 29/8, ông Mẫu mới được rời nước.

Biến cố thứ hai là ngày 22/8 sinh viên kỹ thuật Phú Thọ bãi khoá, và hôm sau, 23/8, sinh viên Y-Dược Sài Gòn xuống đường ủng hộ cuộc tranh đấu của Phật tử và sinh viên, giáo chức tại miền Trung. Việc sinh viên Y-Dược, được coi là cốt cán của chế độ và những thành phần bảo thủ nhất trong xã hội, nghiêng về phe Phật Giáo cho thấy uy tín chế độ đã suy tàn. Anh em ông Diệm-Nhu tìm cách vuốt ve, nhưng không thành công. Sáng Chủ Nhật 25/8, hàng chục ngàn sinh viên học sinh biểu tình tại Chợ Bến Thành và nhiều địa điểm khác trong thủ đô. Hai anh em ông Diệm-Nhu thẳng tay đàn áp. Nhiều người chết, bị thương, hay bị bắt giữ. Vì dám chống đối chế độ, sinh viên, học sinh được chụp ngay cho cái mũ “Cộng Sản.”

Chưa hết. Cuộc tấn công chùa chiền ngày 21/8 gây nên những phản ứng sâu đậm khắp thế giới. Từ ngày 11/6, bức hình tự thiêu của Thượng tọa Quảng Đức đã trở thành biểu tượng của cuộc tranh đấu của Phật giáo và chính sách giáo phiệt Ki-tô của anh em ông Diệm. Vào thượng tuần tháng 8/1963, một số nước Phật giáo chính thức yêu cầu triệu tập Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc thảo luận. Ngày 22/8, từ Nam Vang, chính phủ Cao Miên ra tuyên cáo:

“Chính phủ Hoàng gia Căm-bốt kinh hoàng đón nhận tin chính phủ Sài-gòn đàn áp man rợ các tăng ni và Phật tử Nam Việt Nam vào rạng sáng ngày 21/8/1963. Việc tấn công các chùa bằng lực lượng tinh nhuệ của chính phủ, việc tàn sát tăng ni, việc bắt giữ, việc phong tỏa các nơi thờ tự đang diễn ra tại thủ đô Việt Nam là một thách thức thế giới văn minh. Trong lịch sử hiện đại chỉ có chế độ Hitler mới dám vi phạm những tội ác chống lại quyền tối thượng của con người như thế.”

Tiếp đó, chính phủ Sihanouk kêu gọi các quốc gia tố cáo và ngăn chặn tội ác đàn áp Phật giáo của chính phủ Diệm. Nam Vang còn kêu gọi Vatican cho lệnh chính quyền Diệm và tín đồ Ki-tô phải theo đúng nguyên tắc cao cả của Ki-tô giáo. (CĐ số 896, ngày 23/8/1963, Phnom Penh gửi Paris; CLV, SV, d. 17)

Ngay đến Vatican, điểm tựa vững chắc nhất của chế độ Diệm, cũng bất bình. Khâm sứ Vatican d’Asta từng bảo thẳng ông Diệm rằng việc tấn công chùa chiền và đàn áp Phật Giáo làm hại cho uy tín Vatican và đi ngược lại quyền lợi của quốc gia Việt Nam.

Tại Mỹ, dư luận báo chí cực kỳ sôi nổi. Hầu hết các cơ quan ngôn luận đều yêu cầu chính phủ Mỹ có thái độ tức khắc. Tờ New York Times kịch liệt lên án chính phủ Diệm, mà sự mất lòng dân, độc tài và tàn bạo biểu lộ qua cuộc đàn áp Phật giáo. Báo này cũng chỉ trích chính phủ Kennedy đã không sử dụng áp lực thích đáng với ông Diệm và chậm trễ trong việc minh định thái độ. (CĐ số 4879/83, Đại sứ ở Mỹ gửi BNG; CLV, SV, 17:29) Những báo khác gọi chế độ Diệm là độc tài, cảnh sát trị, làm mất giá trị sự tham chiến của lính Mỹ trong cuộc chiến chống Cộng. (CLV, SV, 17:33) Chỉ riêng tờ New York Herald Tribune muốn chính phủ Kennedy tiếp tục yểm trợ chính phủ Diệm trước hiểm họa Cộng Sản. Marguerite Higgins, trong loạt bài viết về chế độ Diệm trên New York Herald Tribune, lập lại hầu như nguyên văn lời tuyên truyền của chế độ Diệm: không hề có kỳ thị tôn giáo mà những biến động ở Việt Nam thuần có tính cách chính trị, do Cộng Sản giật dây, với sự hỗ trợ của báo chí ngoại quốc, đặc biệt là Mỹ.

Trong khi đó, việc Đại sứ Trần Văn Chương từ chức (hoặc bị ông Diệm cách chức, nếu muốn) cũng gây bối rối cho chế độ. Rồi ngày 24/8, ông Vũ Văn Thái–cựu Giám đốc Ngân sách và Ngoại viện, hiện đang làm cho cơ quan LHQ tại Lome, Togo– cũng viết thư cho Harriman, đề nghị Tổng thống Diệm và gia đình phải ra đi. Nội dung thư ông Thái cũng tương tự như thư riêng của ông Vũ Văn Mẫu gửi Chester Bowles từ New Dehli.( FRUS, 1961-1963, IV:114-5. Ngày 5/9/1963, Harriman mới chuyển thư này cho Bundy, Cố vấn ANQG của Kennedy).

Chính phủ Kennedy bồn chồn theo dõi những phản ứng bất lợi này. Các viên chức cao cấp Mỹ không muốn cuộc tranh đấu của Phật Giáo khiến tình hình quân sự và chính trị miền Nam thêm suy thoái. Bởi thế, Oat-shinh-tân đẩy mạnh kế hoạch bắt vợ chồng ông Nhu và Tổng Giám Mục Thục ra đi. Mối quan tâm duy nhất của người Mỹ chỉ còn là số phận ông Diệm. Đa số vẫn muốn giữ ông Diệm; nhưng vấn nạn là thật khó tách rời ông Diệm khỏi các anh em. [Tối ngày 22/8/1963, tức khoảng 8G56 ngày 23/8/1963, Roger Hilsman chỉ thị cho Lodge: Chính sách về Phật giáo không thay đổi; tìm cách giảm quyền lực Nhu]. (FRUS, 1961-1963, III:605)

Vận mệnh nhà Ngô rơi gọn vào bàn tay tân Đại sứ Lodge. Những tiết lộ của Tướng André Đôn, Quyền Tổng Tham Mưu trưởng, trong buổi nói chuyện với Trung tá Lucien Conein tại Bộ Tổng Tham Mưu ngày Thứ Sáu, 23/8, cung cấp cho Lodge những viên đạn đầu tiên để bắn vào phe bênh vực ông Diệm quanh Kennedy. Trước hết, André Đôn yêu cầu đài V.O.A. cải chính là Cảnh sát đặc biệt của ông Nhu mà không phải quân đội đã tham gia cuộc đàn áp, tấn công chùa chiền. Tướng Đôn cũng khẳng định khoảng 1,420 tăng ni bị bắt giữ khắp miền Nam trong đêm 21/8 không phải cán binh Cộng Sản.

Nhận định về anh em họ Ngô, Tướng Đôn cho rằng ông Nhu là “khối óc” [thinker] của ông Diệm; nhưng ông Diệm có quyền quyết định tối hậu. Vẫn theo Tướng Đôn, Lệ Xuân hành xử như “vợ” [platonic wife] của ông Diệm. Ông Diệm chưa bao giờ lấy vợ và không quen có đàn bà bao quanh. Chín năm qua, Lệ Xuân lo chăm sóc ông Diệm sau mỗi ngày làm việc mệt nhọc. Lệ Xuân săn sóc, nói chuyện, giúp ông Diệm giải tỏa áp lực, và giống như bất cứ người vợ Việt Nam nào, thống trị gia đình. Giữa ông Diệm và Lệ Xuân không có liên hệ tình dục. Ông Diệm chưa hề trải qua mùi vị tình dục. Tình trạng giữa ông Diệm và Lệ Xuân, theo Tướng Đôn, giống như Hitler và Eva Braun.

Tướng Đôn còn tiết lộ ông Diệm rất thích những thanh niên đẹp trai. Một Trung sĩ làm vườn, nhờ đẹp trai, đã được ông Diệm cất nhắc lên hàng Trung tá, trông coi dinh điền quân đội. Theo Tướng Đôn, không thể tách rời ông Diệm với vợ chồng Nhu. Nếu phải chọn giữa hai anh em ông Diệm và Nhu, Đôn muốn thấy ông Nhu ra đi. (FRUS, 1961-1963, III, tài liệu 275)

[Xin đừng vội trách ông Đôn bịa đặt. Tối ngày 26/8, ông Diệm (dù đã 66 tuổi) nói với Đại sứ Lodge là ông ta từng cảnh cáo Lệ Xuân rằng “sẽ lấy vợ,” nếu Lệ Xuân không ngừng phát ngôn bừa bãi.(VNNB, I-C: 1955-1963, tr. 326) Trong hồi ký của McNamara, đoạn nói về Lệ Xuân, cũng tương tự như nhận định này. McNamara còn gọi Lệ Xuân là “một mụ phù thủy.”

Vài Tướng lãnh Việt còn đi xa hơn, cả quyết từng thấy bà Lệ Xuân lả lơi, tình tứ bên ông Diệm. Tướng Nguyễn Chánh Thi thường gọi Lệ Xuân là “đĩ điếm,” làm ô uế Dinh Độc Lập.]

Đêm Thứ Bảy 24/8, sau khi nhân viên Mỹ tiếp xúc với các Tướng Lê Văn Kim, Nguyễn Khánh, v.. v... Lodge gửi công điện báo cáo về những Tướng muốn xin yểm trợ làm đảo chính. Tuy nhiên, theo Lodge, thực trạng Sài-gòn cho thấy một âm mưu đảo chính chẳng khác gì “viên đạn bắn trong đêm.”

Tại Oat-shinh-tân, tối ngày 24/8 [sáng Chủ Nhật, 25/8 VN], XLTV Ngoại trưởng George W. Ball chỉ thị cho Cabot-Lodge:

Phải áp lực cho vợ chồng Nhu ra đi; nếu Diệm không đồng ý, sẽ phải tái xét lại vấn đề ủng hộ Diệm. Lodge được quyền nói với các Tướng đang âm mưu đảo chính rằng Mỹ sẽ tuyên bố cắt quân và kinh viện để chứng tỏ việc ngưng yểm trợ Diệm. Ngoài ra, Lodge cũng được quyền cho VOA cải chính rằng quân đội không dính líu gì đến cuộc tấn công các chùa chiền. (CD số 243; FRUS, 1961-1963, III, Tài liệu 281).

Xin mở dấu ngoặc nhỏ để bàn thêm về công điện số 243 của Ball vào tối 24/8 nói trên. Công điện này chấp thuận trên nguyên tắc đề nghị của Lodge: Phải áp lực vợ chồng Nhu-Lệ Xuân ra đi, nếu ông Diệm không đồng ý, sẽ phải tái xét lại việc ủng hộ ông Diệm. Thật ra, kế hoạch bắt ông Thục và vợ chồng ông Nhu ra đi đã được cựu Đại sứ Nolting dàn xếp từ thượng tuần tháng 8/1963. Nhưng công điện 243 gửi đi khi TT Kennedy, McNamara, Rusk cùng Giám đốc CIA John McCone đều không có mặt tại Oat-shinh-tân. Bởi thế, mặc dù được Kennedy phê chuẩn trước khi gửi đi (Roger Hilsman, To Move A Nation, tr. 487-488), có người chê trách Ball vượt quá quyền hạn (dựa theo luận cứ của Tướng Taylor; Swords and Plowshares, tr. 292-294). Thứ nữa, nếu Ball vượt quá quyền hạn, trong các phiên họp HĐ/ANQG Mỹ kế tiếp phải có ai đó chống lại. Sự thực hoàn toàn trái ngược: Khi được Kennedy hỏi ý kiến, không một ai bài bác công điện tối ngày 24/8 của Ball. Cuối cùng, sau một loạt những cuộc hội họp sôi nổi, ngày 30/8 HĐ/ANQG Mỹ quyết định quay mặt cho các Tướng làm đảo chính (tức rút lại sự bảo vệ chế độ Diệm). Ngoài ra, nếu ông Ball vượt quá quyền hạn, hẳn không thể tiếp tục ngồi ở Bộ Ngoại Giao, và dưới thời chính phủ Lyndon B. Johnson (1963-1969) còn được giao trách nhiệm tìm hòa bình cho miền Nam.

Công điện 243 là hậu quả trực tiếp đầu tiên của cuộc tấn công các chùa chiền. Trước ngày này, cố vấn của Kennedy chia làm hai phe về vấn đề Việt Nam. Phe quân đội, kể cả Bộ trưởng Quốc Phòng McNamara, và CIA muốn tiếp tục ủng hộ ông Diệm. Trong khi đó, phe dân sự, gồm Bộ Ngoại Giao và Cố vấn An Ninh Quốc Gia, muốn tách rời ông Diệm khỏi ảnh hưởng các anh em, nghĩa là phải đưa ông Thục, Nhu và bà Lệ Xuân rời nước. Người đứng sau chủ trương “Diem must go” hay “không thể chiến thắng với anh em ông Diệm” này là Tướng Roger Hilsman, Phụ tá Bộ trưởng Ngoại giao đặc trách Viễn Đông vụ (mới thay W. Averell Harriman vì Harriman được thăng chức Thứ trưởng Ngoại giao đặc trách Chính trị vụ). Hilsman là một cựu chiến binh Thế chiến thứ hai, chuyên viên về du kích chiến. Hilsman đã thảo công điện số 243 nói trên, và được Harriman chấp thuận. Mike Forrestal, một nhân viên Ban Tham mưu HĐ/ANQG tại Bạch Cung, gửi cho Kennedy, đang nghỉ cuối tuần ở Hyannis Port. Trong khi đó, XLTV Ngoại trưởng Ball gọi điện thoại cho Kennedy, trình bày về công điện trên. Kennedy chấp thuận cho gửi qua Sài Gòn nếu các cố vấn cao cấp đồng ý. Ball gọi Rusk ở New York, Rusk đồng ý dù không thích lắm. Harriman gọi CIA, John McCone không có mặt, nên Richard Helms, Phó Giám đốc đặc trách kế hoạch, đồng ý. Forrestal gọi Thứ trưởng Quốc Phòng Gilpatric, cả Gilpatric và McNamara chấp thuận. Gilpatric gửi một bản sao công điện cho Maxwell Taylor, cố vấn quân sự của Kennedy. Taylor chống lại, nhưng McNamara không đồng ý với Taylor. Theo Robert Kennedy, em trai Tổng thống Kennedy, sau này Kennedy hối tiếc, và cho việc gửi công điện trên là một sai lầm.( McNamara, In Retrospect, 52-55)

Ngay trong ngày Chủ Nhật, 25/8, tại Sài Gòn, Lodge triệu tập một phiên họp đặc biệt với Tướng Harkins, Tư lệnh MACV, và John H. Richardson, trưởng lưới CIA. Sau đó, điện về Oat-shinh-tân, đề nghị cho các Tướng xúc tiến việc đảo chính. Lodge cũng tiết lộ đã thông báo cho các Tướng biết rằng Mỹ chỉ muốn loại Nhu, vẫn giữ Diệm; nhưng về ông Diệm, tùy thuộc ở quyết định của các Tướng. (FRUS, 1961-1963, III, tài liệu 285)

Mặc dù các cố vấn của Kennedy không nhất trí, và chính Kennedy không muốn thay ngựa, cuối cùng Oat-shinh-tân cho Lodge toàn quyền quyết định. (Ibid., III: tài liệu 286)]

Tóm lại, cuộc tấn công các chùa chiền đêm 20 rạng 21/8 là một dấu mốc cực kỳ quan trọng trong liên hệ giữa anh em ông Diệm và chính phủ Kennedy. Mặc dù tự nó–và toàn bộ cuộc tranh đấu của Phật giáo nói chung–chưa đủ lật đổ chế độ Diệm, cuộc tấn công đêm 20 rạng 21/8 này chặt đứt mối liên hệ thiết thân suốt hơn 9 năm trời giữa ông Diệm và nước Mỹ. Phản ứng của anh em ông Diệm và Lệ Xuân–qua cách chụp mũ Cộng Sản hay phản loạn để đàn áp, chống Mỹ để tự vệ (đồng hóa tham vọng cá nhân và gia đình với chủ quyền “quốc gia”), hoặc móc ngoặc Hà Nội–đã tạo phản ứng nghịch chiều. Trên con đường độc đạo của mình, anh em ông Diệm sống sót thêm được hơn hai tháng nữa phải được coi như một phép lạ.

Khi không còn thể lấy giấy gói lửa được nữa, trong tháng 10/1963, anh em ông Diệm-Nhu sai thủ hạ (Trần Hữu Duệ, một tay chơi nổi danh Sài Gòn) dùng nữ sắc và rượu thịt gài bẫy quay phim con heo các đại diện “khả kính” trong phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc. Hành động này không những tự nó là một hình tội cản trở công lý, mà còn bộc lộ rõ “đạo đức” của anh em ông Diệm-Nhu.

[Cuốn Nhật ký Đỗ Thọ nhắc đến màn gài bẫy này từ nhiều thập niên trước. Mới đây cựu Đại tá Nguyễn Hữu Duệ, Tham Mưu trưởng Lữ Đoàn Phòng vệ phủ Tổng thống, cũng thú nhận trên báo Văn Nghệ Tiền Phong tiểu xảo trên. Một cựu sĩ quan thông dịch cho phái đoàn Liên Hiệp Quốc hồi đó, hiện ngụ tại Houston, Texas, đã tiết lộ với tác giả thủ đoạn này từ lâu. Vậy mà những người muốn che đậy tội ác cho họ Ngô–dù biết rõ hơn ai hết vụ dàn cảnh quay phim con heo trên–vẫn cố vin vào “báo cáo” của phái đoàn LHQ (danh số A/5360) để ngụy biện cho chính sách kỳ thị tôn giáo của anh em ông Diệm hay vụ tấn công rạng sáng ngày 21/8/1963. Tội nghiệp cho bốn chữ “lương thiện trí thức!”]

(Còn tiếp)

Nguyên Vũ

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 6951)
(Xem: 9254)
(Xem: 10507)
(Xem: 10180)
(Xem: 10444)
(Xem: 10945)
(Xem: 9711)
(Xem: 9479)
(Xem: 9584)
(Xem: 9980)