- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

TÌNH TỰ CHO MỘT QUÊ HƯƠNG

03 Tháng Hai 20254:56 CH(Xem: 14223)
nck- can nha dau tien
Căn nhà đầu tiên 1975. Hình tác giả cung cấp





Nguyễn Công Khanh

TÌNH TỰ CHO MỘT QUÊ HƯƠNG

 



Nhớ lại 50 năm trước, một điều dĩ nhiên là thế giới không phải như ngày hôm nay, nước Mỹ không phải như ngày hôm nay và người Việt ở Mỹ hay ở khắp các nơi cũng không hẳn là người Việt ngày hôm nay. Trong thời gian ấy, ít nhất hai thế hệ mới đã ra đời.

Nhớ lại 50 năm trước, đêm cuối cùng, một phép lạ đã đưa chúng tôi lọt được vào quân cảng Saigon và trèo lên được chiếc chiến hạm cuối cùng đang nằm ụ, bỏ nước ra đi. Những ngày dài chen chúc nhau trong một con tầu chết máy trôi trên biển mãi mới đến được đảo Guam. Những ngày lang bạt, tất tưởi rời trại này qua trại khác, cuối cùng được đưa vào vào đất liền, và tạm trú tại Camp Pendleton trại Thủy Quân Lục Chiến miền Nam Cali. Trại trải dài hàng cây số, với hàng trăm căn lều vải đón nhận hàng trăm ngàn người tị nạn.  

Lúc đó, còn có nhau, ngủ trên ghế bố nhà binh chung lều, ngày ba bữa xếp hàng đi ăn, còn lại ngoài giờ thì đi từ trại này sang trại khác tìm người thân, lo cho những người ở lại, và chờ gọi lên làm thủ tục, đợi xem có ai bảo trợ ra bên ngoài định cư. Nghĩ đến đó, ai cũng cũng có cùng một suy nghĩ vừa mừng vừa lo âu, mừng là mình sẽ có một cuộc đời mới, lo là mình sẽ bị tách rời khỏi đồng bào mình để đưa đi mất hút vào một miền đất mới lục địa mênh mông.

Cuối cùng, sau hơn ba tháng chúng tôi được một nhà thờ Baptist tại một vùng lân cận Seattle bảo trợ.  Vợ chồng ông bà mục sư cùng một vài người của nhà thờ ân cần đón chúng tôi tại phi trường và đưa đến một căn nhà có 4 phòng tại một thành phố nhỏ gần đó. Họ cẩn thận chu đáo lo mọi thứ cho chúng tôi, gần như đủ cả, giường, bàn ghế, chăn gối sạch sẽ, lại có cả máy giặt và máy sấy, tủ lạnh thì đầy thức ăn cả tuần… Hàng ngày, họ đến giúp đỡ và hướng dẫn hội nhập vào đời sống mới. Chúng tôi cám ơn họ suốt đời, nhiều người không còn nữa và nhiều người chúng tôi đã đến dự tang lễ cuối cùng của họ. 

Qua suốt một ngày di chuyển khá mệt, buổi sáng đầu tiên, chúng tôi thức giấc muộn. Đó là một buổi sáng mùa Hè, nhưng vẫn cảm thấy lạnh. Tôi ra khỏi phòng, mở cửa nhìn ra bên ngoài, ngỡ ngàng trong một thinh không không tiếng động, một không gian không một bóng người, không thấy một chiếc xe chạy qua. Cái không gian vắng lặng này tôi nghĩ vẫn không thay đổi trong nhiều khu phố tại Mỹ cho tới ngày hôm nay.

Những người hàng xóm đầu tiên mà chúng tôi tiếp xúc là những đứa trẻ hàng xóm hiếu kỳ lân la đến đứng xa nhìn, nhưng chỉ ít ngày sau, chúng tôi làm quen được và các con chúng tôi ra chơi với chúng.  Tôi còn nhớ một kỷ niệm khó quên, là chúng muốn tôi dậy cách cầm đũa. Tôi tin rằng những trẻ này thời ấy chưa bao giờ được bố mẹ đưa đi ăn cơm Tầu và đây là lần đầu thấy có người dùng đũa để ăn. Bài thi cuối cùng trong lớp huấn luyện đó là, tôi đưa cho mỗi đứa trẻ một đôi đũa và đặt mấy hòn bi ve tròn thủy tinh trên một cái đĩa. Đứa nào gắp được lên hai lần là đỗ. Sau một hồi chật vật, một đứa đầu tiên sung sướng hét lên “I did it, I did it!”. Tôi cũng sung sướng không kém vì đã làm tròn nhiệm vụ. Tôi tặng cho chúng đôi đũa và còn muốn ký trao cho chúng “Chứng Chỉ Cầm Đũa”.  

Tôi còn muốn viết thêm những gì đầu tiên, chân ướt chân ráo trên một miền đất xa lạ, bao la.  Người Việt Nam đầu tiên tôi đã gặp. Chén nước mắn đầu tiên mà mấy tháng trời không có trong bữa ăn đã khiến tôi phải cầm lên húp một hơi và ngồi một lúc lâu để cái chất mặn của quê hương ấy thấm dần vào cơ thể. 

Những bát phở đầu tiên, những bát phở dò dẫm, khám phá ở nhà hay của bạn bè. Mọi người quây quần, vừa ăn vừa khen. Người thì gật gù, giọng khuyến khích: “Cũng gần giống phở”, người thì nhiệt thành hơn, kêu: “Giống quá!  Giống quá!” và ngậm ngùi nhớ đến những bát phở ở nơi mà mình vừa rời bỏ.

Nhớ đến cái Tết đầu tiên, hai vợ chồng chúng tôi làm một bàn thờ nhỏ, thắp hương cúng vọng tổ tiên ở quê hương xa. Tối đó tuyết vừa tan, tôi lái xe đưa gia đình đến họp mặt đầu năm, đồng bào từ các thành phố lân cận tụ họp đông nghẹt cả hội trường lớn. Cô ca sĩ Thanh Thúy được mời từ Cali lên, áo lạnh khoác bên ngoài dầy cộm, lướt mướt từ bên ngoài bước vào.  Những bài cô hát tối nay, nghe rất quen thuộc mà tôi đã được nghe bao nhiêu lần từ bao nhiêu năm qua, sao lần này nghe thấy rưng rưng khôn tả, muốn khóc.

Chiếc xe đầu tiên tôi có là một chiếc xe cũ đời 62, tôi đã lái đi quanh vùng thăm bạn bè, dự các buổi họp cộng đồng và đúng là “Điếc không sợ súng” đã dùng cái xe đó lái hơn ngàn dặm xuống miền Nam Cali thăm bạn bè, khiến nhà thờ phải viết lời cầu nguyện an lành cho chúng tôi trên bản tin của họ. Xe không có máy lạnh chở 7 người, trời Cali nắng gắt, sờ vào thành xe nóng bỏng. Đường thì nhiều đèo, máy nóng khiến bình nước nhiều lần bốc hơi ngùn ngụt, nhưng may mắn chúng tôi cũng đi được đến nơi về đến chốn.

Nhớ đến cái “job” đầu tiên, lúc đó chúng tôi và bạn bè đều nghĩ rằng mình như người đuối nước nên chấp nhân bất cứ một cái gì để tồn tại. Khi người bảo trợ hỏi có muốn đi làm không, ai cũng trả lời là có và “I can do any job”. 

Chúng tôi cũng vừa quen với một gia đình Viêt Nam mới đến.  Chồng vốn là phi công, vợ là thư ký ngân hàng. Bà vợ được giới thiệu làm “Housekeeper”, trong phần công việc lại có vụ lau cầu tiêu, bà ta đi làm về tủi thân, ngồi khóc ấm ức. Tôi cũng không khá gì hơn, được cái job part-time có tên là “Maintenant” trong một khu người già; suốt buổi công việc là “móp” sàn nhà và dùng máy hút bụi nơi có thảm. Tôi đã không nề hà vì công việc, nhưng lương của tôi lúc đó là lương tối thiểu có $2.25 một giờ, nghĩ đến làm sao nuôi nổi một gia đình 7 người và tương lai thì mù mịt. Ít lâu sau, tôi xin nghỉ và tìm cách đi học lại tìm một nghề thích hợp hơn. Phải cám ơn nước Mỹ một lần nữa, lúc nào cũng sẵn sàng cung cấp cơ hội cho mọi người. 

Nói đến những thứ đầu tiên, mà không kể đến căn nhà đầu tiên là một điều thiếu sót. Người Việt thường coi câu “An cư lập nghiệp” làm châm ngôn.  Ba năm sau, chúng tôi đã mua căn nhà đang ở khi người chủ muốn bán. Mua nhà lúc đó quá dễ dàng, giá nhà chỉ chừng trên ba chục ngàn, tiền “down” khoảng ba ngàn, trả hàng tháng dưới ba trăm.  Chúng tôi sửa sang, sơn lại căn nhà giống như “Căn nhà trong mộng”, trong bài học thuộc lòng văn chương Pháp hồi trung học mà khi chúng tôi mới lấy nhau thường mong ước: “Căn nhà mầu trắng có những cửa sổ sơn mầu lá cây”. Chúng tôi làm thêm hàng rào thưa theo kiểu pickle cũng sơn theo mầu trắng và trồng thêm các loại hoa. Nhà chúng tôi ở ngay đầu dẫy nổi bật, nên làm khu phố được sáng sủa thêm, thay vì một căn nhà cho thuê như trước kia. Hàng xóm đi qua thường hay dừng lại cám ơn.  Chúng tôi ở đó sáu năm. Sau khi dọn đị một thời gian, tôi gặp lại vợ chồng ông hàng xóm bên cạnh, thay vì mừng rỡ, ông giơ tay đấm vào bụng tôi, đấm đùa thôi, nhưng giọng đầy trách móc là tôi đã bán nhà cho một tên lười biếng để căn nhà nhếch nhác, lại mang đầy đồ cũ ở đâu về, làm hỏng cả khu phố.

Trong từng năm ấy đến nay, chúng tôi đã đổi đến bốn căn nhà, căn nhà thứ hai là một căn nhà mới, từ trên bao lơn chúng tôi có thể nhìn thấy biển qua ngọn cây và những hoàng hôn rực rỡ, mặt trời tròn đỏ ửng lặn dần. Đây là một thành phố ven biển yên bình, trong cơn gió có mùi rong biển và đêm nào cũng nghe thấy tiếng những con tàu hụ từ xa vọng lại. Tôi còn nhớ có những chiều hè cả gia đình thường hay lội bộ trên bãi biển và đi ra cầu tầu ngắm biển ngoài xa. Chúng tôi ở đó gần hai chục năm, con cái đều xong trung học ở đó. 

Căn nhà thứ ba chúng tôi mua lại, có lẽ vì hàng đào, khoảng mười cây đào Nhật Akibono trồng sau nhà, mùa Xuân hoa nở phủ rợp đầy sân. Con cái chúng tôi lúc đó đã xong cấp Đại học và tung cánh đi các nơi xa. Thay vào đó chúng tôi cần bạn, nên mỗi mùa hoa đào nở lại có dịp mời các bạn đến nhà dự “Hội Hoa Đào”. Cùng các bạn uống trà, ngâm các bài thơ xưa và hát những bài ca của một thời… Nhưng chúng tôi lại chỉ ở căn nhà này có bốn năm.    

Khi gần về hưu, chúng tôi lại đổi nhà lần nữa, đáng lẽ là phải mua một căn nhà trệt nhỏ hơn, không hiểu sao khi chúng tôi đến một khu mới, một khu cũng bình thường, lại chọn một căn nhà phía trên lưng chừng đồi, tầng nào cũng có thể nhìn xuống một vùng thung lũng mà ban đêm đèn sáng như sao sa. Hai bên đường, một bên họ trồng hàng đào Thunder Cloud, bên đối diên họ trồng hàng cây phong nên hai hàng cây đó khi nở hoa, khi lá đổi mầu, khi lá rụng trơ trọi đều báo hiệu cho mọi người biết sự thay đổi của bốn mùa.

nck- can nha thu 4
Căn nhà thứ tư đang ở, 2025. Hình tác giả cung cấp



Trong khu này có 24 căn nhà, gồm nhiều sắc dân. Họ bầu tôi làm chủ tịch của HOA, tạm gọi là ông Trưởng Khóm.

Ai đến thăm nhà cũng kêu, sao đến tưổi này còn chọn căn nhà như thế, đã leo dốc lại còn leo hơn hai chục bậc thang. Nhưng chúng tôi lại thích ở căn nhà khoáng đãng này vì gần đủ các nơi mà chúng tôi cần đến, nhất là nghĩ rằng có đủ phòng ốc để các con của chúng tôi dễ dàng khi từ các tiểu bang khác về thăm, và dù mùa đông có nhiều lần phải bỏ xe dưới đường lội bộ lên đồi. Hai mặt nhà là khu rừng thông cao ngất còn lại, có lần một cơn bão đã thổi ngã luôn ba cây, may quá chiều gió lại về phía rừng, nếu không thì cả nhà sẽ bị sập.

Vườn sau, đi thẳng từ phòng khách ra, tôi thuê trải sỏi và lát gạch nên không phải cắt cỏ chăm sóc thường xuyên. Nhớ lại căn nhà trước tôi trồng sáu cây đào Yoshino, mùa Xuân hoa nở không thấy trời, lúc hoa rụng trắng xóa cả sân.  Tôi chép lại mấy câu thơ hợp cảnh của một người bạn thơ:

Ta về ở ẩn lưng đồi
Rạng đông bắt gặp mây trôi ngang nhà
Tự tay đun nước pha trà
Ngắm đào nở rộ tháng ba quanh vườn

(Thơ Trần Thiện Hiệp)

Tôi dựng thêm một gazebo. Những buổi sáng, buổi chiều ngồi trong đó uống cà phê nhìn lên phía đồi sau, thấy những con chim lạ đến nhẩy nhót trên cành, những con cáo nhỏ vừa ra khỏi rừng đứng ngơ ngác nhìn xuống thung lũng xa. Năm vừa rồi hai mẹ con nai đến vườn ăn cỏ và gặm những quả táo non. Tôi theo rõi, thấy nai con lớn dần và cho đến một hôm chỉ thấy có nai con đến, tôi vừa buồn vừa vui là nai con đã trưởng thành và nai mẹ bao lâu nay đã dẫn con đến những nơi quen thuộc để tự mình kiếm ăn.  Có lần một con công lạc đến và ở lại trong khu vườn của tôi hai tháng trời.  Người ta nói công đến nhà là có tin vui, quả nhiên năm đó hai đứa con tôi lấy vợ lấy chồng mà chúng tôi nhiều năm mong đợi. 

Căn nhà này chúng tôi ở đã hai mươi năm rồi, chắc còn ở nữa cho đến khi phải “Downsize” rời đi một địa chỉ khác. Tôi cũng không hiểu sao, qua nhiều lần dọn nhà như thế chúng tôi lại không nghĩ đó là những dịp giúp tôi dọn về Cali như chúng tôi và các bạn cũ đều mong muốn trong nhiều năm qua, mà chỉ dọn luẩn quẩn quanh vùng. Có những lần, cùng các con ở xa về, lái xe vòng qua thăm những căn nhà xưa, chúng tôi đậu xe bên đường, ngồi bên trong yên lặng ngắm lại căn ngày nào mình ở, biết bao nhiêu kỷ niệm tràn về…

Có phải chúng tôi đã mọc rễ khá sâu ở đây, nhổ đi cũng khó. Có phải chúng tôi đã thấm những gì quá đậm ở nơi này. Cha mẹ chúng tôi đã yên nghỉ ở đây, các con cháu và các thế hệ tiếp theo cũng sẽ ở đây. Năm nay tôi đang đứng ở ngưỡng cửa 90, tôi sinh ra ở Hà nội và rời Hà nội “năm tôi mười tám…”, cả một thời thanh lịch, phong lưu, lãng mạn di cư theo cả thành phố khi đất nước chia đôi.  Sống ở Saigon hơn 20 năm, chào đón, ngọt ngào với những năm hưng thịnh. Và đến nay đã ở Mỹ 50 năm, dài hơn gấp đôi ở Việt Nam rồi.

Chúng tôi cũng chỉ là những người bình thường, không hiểu “Giấc mơ” mà mọi người thường nói đã đạt được chưa? Mỗi lần đi xa lại muốn trở về căn nhà của mình, “Home! Home sweet home!”. Về một miền “Xanh mãi ngàn năm”, về những vũng biển yên bình có những chuyến phà qua đảo, có những cánh hải âu rập rờn trong gió, có những rặng núi tuyết phủ quanh năm, nhất là có những quán cà phê trong chiều mưa… Dù rằng đây là một miền mưa lạnh rỉ rả gần suốt nửa năm, dù rằng ở đây đường xá quanh co, lên đồi xuống dốc …

Các nhà văn, các nhạc sĩ Việt Nam thường viết về tình yêu quê hương mà mọi người cho đó là “Tình tự quê hương. Tình tự dân tộc”, với lũy tre xanh, căn nhà nhỏ bé với vườn rau, con trâu già nằm yên trong ngõ, bến đò với dòng sông hiền hòa, chùm khế ngọt, tiếng võng đưa lẫn với tiếng gà gáy trưa… Những hình ảnh này chắc không còn nữa, đã bị bật gốc xóa nhòa, chỉ còn trong ký ức ảo tưởng, nhưng người ta vẫn hát, cả những người chưa từng sống với những tình tự này, và khi hát lên vẫn tưởng như cô lái đò vẫn còn neo thuyền, cô hàng xóm năm xưa vẫn còn tựa cửa chờ mình…

Một nhà văn quốc tế đã viết “Nơi nào có tự do, nơi đó chính là quê hương”. Không hiểu trong thời gian mình đã sống ở đây nửa thế kỷ, hơn nửa đời người dài hơn gấp đôi nơi mình phải rời bỏ. Trong thời gian ấy đã có bốn thế hệ, với biết bao nhiêu gắn bó, gắn bó với căn nhà mình ở, với bạn bè, với cộng đồng, với một đất nước với biết bao nhiêu là ân tình. Không hiểu như thế mọi người có cho đó là đã đủ cái tình tự quê hương, cái tình tự dân tộc cho một quê hương mới hay chưa? 

Nguyễn Công Khanh

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2049)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 1429)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2036)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1694)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2090)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1893)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 202611:15 CH(Xem: 1763)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 202610:39 CH(Xem: 1583)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2435)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
23 Tháng Tư 20264:50 CH(Xem: 2534)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9505)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16400)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15311)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15698)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2049)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2036)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2090)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2435)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4482)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6292)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 5594)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 6190)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1694)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1893)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 2115)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1962)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1763)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1583)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1778)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1755)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12573)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28741)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35275)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 35141)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 10082)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12104)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1429)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 2036)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 2435)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 2534)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2976)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7188)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6597)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8703)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.