- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

CHUYỆN TRÊN BIỂN CẦN GIỜ

08 Tháng Ba 20235:31 CH(Xem: 33160)

11-09-2022CanGio-06
CHUYỆN TRÊN BIỂN CẦN GIỜ.

Truyện ngắn của Nguyễn Trường

 



Nhân ngày Tết trung thu, trùng với thứ bảy, chủ nhật, Trung phóng xe máy về Cần Giờ. Con đường từ phà Bình Khánh về thị trấn Cần Thạnh được mở rộng, đường vắng, xe cứ phóng thả ga. Hai bên đường, suốt hơn bốn chục cây số chỉ thấy rừng là rừng. Những cây đước vươn thẳng tắp, cành lá xòe ô che kín bầu trời, xe chạy trong màu xanh ngút ngàn của rừng cây như trôi trong không gian huyền thoại.

Trung không ngờ cái thị trấn nhỏ bé, mật độ dân số thưa thớt bỗng đông nghẹt người. Hôm nay ở đây có lễ hội Nghinh Ông. Nhà nào cũng cắm cờ, kết hoa, treo đền lồng sáng trưng đón ngày lễ, không khí rộn ràng như Tết. Trung tìm nhà trọ nghỉ ngơi, tắm giặt rồi mới gọi cho Mỹ Hương, nhưng từ khách sạn đến nhà trọ bình dân, đâu đâu cũng hết phòng. Khách từ thành phố, các vùng lân cận lũ lượt kéo đến, phòng trọ đã được du khách đặt trước cả tuần lễ. Bí quá, Trung đành gọi cho Mỹ Hương, nàng trách chàng, muốn đi lễ hội phải cho biết trước mấy ngày để đặt phòng, giờ thì chỉ còn cách ngủ ngoài đường. Nàng bàn với cha:

-   Con có thầy giáo về Cần Giờ dự lễ hội, hôm nay mới đến, không thuê được phòng trọ, ba cho thầy ở nhà mình được không?

Ông Chế Lan gật đầu:

-  Hôm nay làm sao kiếm được phòng trọ. Con mời thầy về nhà mình.

Mỹ Hương gọi điện và cho Trung, dặn xưng hô là thầy trò. Thời gian qua Trung đã giúp nàng học, cả chương trình văn hóa lẫn nghề nghiệp. Nàng gọi Trung là thầy cũng không sai.

Ông Chế Lan, ngờ ngợ mối quan hệ giữa thầy giáo trẻ tuổi này với con gái mình. Nhưng anh ta là người Việt, cưới con gái mình, anh ta có chịu điều kiện ở rể không đây? Ông tự cười thầm  “Mình nghĩ quá xa, bây giờ chúng nó đi làm nhà nước cả, có ở nhà đâu mà rể với gốc”. Nhìn anh chàng cao ráo, sáng sủa, hẳn là người tử tế đây. Buổi tối ông chỉ kịp nói chuyện với Trung mươi phút rồi xách túi ra đi, hướng dẫn đoàn cán bộ của thành phố dự lễ thả đèn hoa đăng trên biển.

Mỹ Hương tíu tít bên Trung. Họ kéo nhau ra bờ biển xem thả đèn hoa đăng. Ở Huế người ta thả đèn hoa đăng trên sông Hương. Nhưng trên sông không có sóng to gió lớn như trên biển, bởi vậy đèn thả trên biển được thiết kế đặc biệt để không bị sóng gió đánh chìm. Mỹ Hương biết giờ này cha nàng đang ở trên ghe nơi đầu con nước, chỉ huy người thả đèn hoa đăng. Đợi khi con nước lên chảy mạnh vào trong sông, từ hai chiếc ghe ở đầu con nước người ta thả đèn đã được thắp sáng xuống biển. Hàng ngàn ngọn đèn theo con nước trôi thắp sáng mặt biển như sao sa. Đèn kéo thành đoàn như linh hồn Ông Thủy tướng và những anh hùng, liệt sỹ, những người tử nạn lũ lượt kéo về phía Lăng Ông dự hội.

¶¶


Đêm nằm ngủ tại nhà Mỹ Hương lạ lẫm, Trung trằn trọc mãi. Ngôi nhà  nằm  gần bờ biển, thiết kế theo kiểu nhà dân tộc Chăm. Nhà sàn, bốn mái chập lại, có mái hiên tách biệt. Nhà có 5 gian, gian đầu để tiếp khách, gian thứ hai dành cho ông bà, thứ ba là cho khách, thứ tư và thứ năm dành cho các con. Vách nhà được ghép bởi nhiều tấm ván bằng gỗ quý như thau lau... Dùng kỹ thuật ghép mộng, theo kiểu âm dương. Nhà bếp cất riêng, ngang hông nhà chính. Bước vào nhà người Chăm, Trung nhận thấy vẻ giản dị. Nhà không có bàn thờ; gia chủ chỉ thờ chữ Thượng Đế viết trên tấm vải hình chữ nhật lồng trong khung kính treo trang trọng trong phòng khách. Trung được gia chủ dọn cho ngủ gần gian của cha nàng. Mỹ Hương nằm ở gian cuối cùng. Nhờ có cửa vòm, vách gỗ, nằm bên bờ biển, lộng gió, phải khép bớt cửa sổ. Đêm về khuya, biển vẫn rì rầm trò chuyện. Trung nhớ những bữa đi làm sớm chở nàng đến trường, thỉnh thoảng đưa nhau đi uống cà phê. Nàng rất thích cà phê, trong khi Trung uống một ly cà phê là thức sáng đêm. Bởi vậy anh thường kêu nước ép trái cây, còn nàng thì gọi cà phê đen. Và lần nào hai người cũng được bữa cười vì người phục vụ để lộn ly cà phê ở phía Trung và ly nước ép trái cây ở phía nàng. Trung thường nhớ về hương tóc, mùi thơm không phải của nước hoa, không phải của bồ kết, nó là của riêng nàng. Ra ngoài đường hay về nhà, người Chăm thường có khăn trùm đầu, giữ cho mùi hương ấy không phai. Một lần ôm hôn nàng, anh tính vuốt mái tóc xanh mươt mướt của nàng, khéo léo nàng chặn ngay bàn tay của Trung, anh hiểu, người con gái Chăm, theo phong tục không cho ai sờ lên mái tóc của mình. Từ đó Trung càng thích mái tóc với mùi thơm đặc trưng không thể diễn tả được, chỉ biết rằng xa nàng anh nhớ cồn cào hương thơm dịu nhẹ ấy.

 Thời gian bên nhau trôi nhanh, thoắt đã hết bốn năm. Mỹ Hương tiếp thu được nhiều kiến thức về lịch sử âm nhạc dân tộc, kỹ thuật hát và biểu diễn... chuẩn bị thi ra trường. Nàng khoe với Trung được thầy giáo phân công đóng vai chính Huyền Trân trong vở cải lương Huyền Trân Công chúa. Nàng đưa cho Trung vé mời dự đêm diễn báo cáo tốt nghiệp. Trung mua bó hoa thật to, để khi Mỹ Hương diễn xong sẽ lên sân khấu tặng nàng.

Trung không hề biết giông bão đã tràn qua tâm hồn nàng khi nàng đóng vai Huyền Trân Công chúa. Số là để cho hợp với các bạn trong trường, nàng đã đổi thay rất nhiều, không mặc áo dài Chăm đi học, không dùng khăn đội đầu, nàng ăn mặc như người Kinh. Tên họ của nàng lấy theo họ mẹ là Đàng Mỹ Hương, giống như họ tên người Việt. Thầy chủ nhiệm lớp nàng  mới về thay thầy chủ nhiệm cũ nên chưa biết lý lịch của nàng. Thầy cũng như người tiền nhiệm rất cảm mến nàng, bởi nàng có giọng hát khỏe, mùi mẫn, cách diễn xuất tự nhiên, có nhiều đột biến theo xúc cảm...Các bạn nàng người đóng vai Trần Khắc Chung, người thì vai Trần Nhân Tông, Chế Mân... Nàng không thể quên những ngày đêm miệt mài cùng các bạn trong lớp luyện tập vở diễn. Dựng nên tác phẩm này là kết quả của mồ hôi, nước mắt mọi người. Chỉ còn tuần lễ nữa đến đêm diễn chính thức, nàng về thăm nhà vì có lễ người Chăm. Mẹ nàng đã mất cách đây dăm năm. Với Người Chăm, theo chế độ mẫu hệ, người mẹ quán xuyến mọi việc quan trọng trong nhà, là họ nội, con cái mang dòng họ mẹ. Cha là bên ngoại. Nàng rất thương cha, ông phải cáng đáng mọi chuyện trong nhà thay cho người trụ cột. Cụ tổ dòng họ nhà nàng từ Bình Định vào lập nghiệp ở Cần Giờ từ thời vua Gia Long. Đối với nàng, phong tục, tiếng nói, truyền thống dân tộc Chăm  đều do cha mẹ kể lại, nàng không biết tiếng Chăm, càng không biết hát dân ca Chăm. Nàng như người Việt chính hiệu, cũng mê cải lương, rồi tập hát cải lương từ nhỏ. Sẵn có giọng hát hay, nàng tham gia vào đội đờn ca tài tử của thị trấn, cho đến ngày định mệnh, nàng gặp Trung trong đoàn Hội Văn học Nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh đi thực tế ở Cần Giờ. Nàng được giao lưu văn nghệ với các danh ca nổi tiếng của thành phố. Sau khi biểu diễn, nàng nhận hàng tràng vỗ tay không ngớt. Ai cũng khen tài diễn xuất và giọng ca của nàng. Trung vẫn ấn tượng với buổi đầu gặp gỡ ấy. Hôm đó nàng mặc bộ áo dài trắng của người Chăm, dây thắt lưng màu vàng óng, một dây buộc chéo ngang bộ ngực căng cứng, một dây quấn ngang eo. Dây thắt lưng được trang trí nhiều họa tiết hoa văn tinh xảo, hài hòa, nét hiện đại lẫn vào nét cổ xưa. Nàng có cái eo nhỏ của hoa hậu nên cái dây thắt lưng quấn quanh eo càng tôn nên dáng thắt đáy lưng ong của nàng. Cấu tạo chiếc áo dài không mở tà nên nàng chỉ bước đi đúng một khoảng cách, như nhắc nhở người con gái Chăm chớ vội vàng, cũng đừng bước quá xa giới hạn tiết hạnh của mình.

Sau đêm diễn Trung chủ động gặp nàng, khuyên nàng nên đi học để nâng cao nghề nghiệp. Chàng biết trường Đại học Sân khấu và Điện ảnh thành phố đang chuẩn bị tuyển sinh khóa mới, với chất giọng đầy tiềm năng, nhiều khả năng nàng sẽ đậu, vì trường ưu tiên chọn năng khiếu. Đó là lý do vì sao nàng trở thành sinh viên Đại học Sân khấu và Điện ảnh, khoa Kịch hát dân tộc.

¶¶


Mãi khuya ông Chế Lan mới về đến nhà. Là tổng đạo diễn tổ chức lễ hội, những ngày này ông bận túi bụi. Tuy mệt nhưng ông rất vui. Ông kể, hồi còn trẻ ông là dân đánh cá. Bữa đó một cơn bão kéo đến đột ngột, sóng dựng như những tòa nhà đỗ ập xuống thuyền của ông làm con thuyền lật sấp, ông và bốn người còn lại ngoi ngóp giữa biển cả. Ai cũng nghĩ sẽ cầm chắc cái chết thì bỗng thấy có vật gì đỡ mình lên, đẩy vào bờ. Khi đặt chân xuống bờ biển ông mới tin là mình còn sống. Bốn thuyền viên cũng thoát nạn như ông. Ông và các thuyền viên cùng con thuyền đã được mấy con cá voi cứu mạng. Hôm sau ông vào Lăng, quỳ dưới đất hàng giờ. Ông khấn rằng trong vòng 10 ngày, nếu ai mua lại con thuyền đánh cá, ông sẽ bỏ nghề, chí thú vào lễ hội Nghinh Ông để tạ ơn. Quả nhiên ông mới rao bảy ngày đã có người sang lại con thuyền.  Sự hiển linh rõ như ban ngày, từ đó ông sống chết với lăng Ông Thủy tướng.

¶¶


Mỹ Hương thao thức mãi trên giường, cũng tại lần đầu tiên nàng ngủ chung nhà với một chàng trai. Nghĩ vẫn vơ nàng nhớ về những năm tháng lên thành phố đi học, bỏ lại người cha lụi cụi một mình. Cha nàng đã ngoài bảy mươi tuổi, tuy gầy gò, nhỏ người nhưng dẻo dai. Những ngày ở xa nghĩ về cha, nàng lại rớm rớm nước mắt, có dịp nghỉ học, nàng bắt xe về thăm cha. Cách đây chưa lâu, nàng kể cho cha nghe chuyện trường lớp. Về vai chính Huyền Trân Công chúa với giọng tự hào. Cha nàng nghe con chăm chú, cuối cùng ông bảo con diễn lại cho ông nghe. Nàng diễn lại vở cải lương, một mình nàng đóng tất cả các vai, nàng có óc thông minh, nhớ giỏi nên vào các vai thuộc làu làu. Xem xong, cha nàng nhận xét: Vở diễn  có nhiều đổi mới, đã minh oan cho Công chúa Huyền Trân và Thiếu bảo Trần Khắc Chung. Trước đây, các vở cải lương về Huyền Trân Công chúa thường khai thác đoạn tình yêu lâm ly giữa Thiếu bảo Trần Khắc Chung và Huyền Trân Công chúa. Họ phải từ biệt nhau để nàng về làm dâu nước Chiêm Thành. Vở nào đầy đủ thì có đoạn vua Chế Mân chết, Huyền Trân sắp lên giàn hỏa thiêu. Vua nước Việt cử Trần Khắc Chung vào nói rằng để cho hoàng hậu ra bãi biển làm lễ cầu siêu và  bái vọng về Thái Hoàng, Thái hậu, Vua anh cùng đất nước. Khi ra đến bãi biển, Trần Khắc Chung đã đưa Huyền Trân xuống thuyền, dong buồm ra khơi. Họ có một năm vòng vo trên biển và đã tình tự trên quãng đường trở về. Nếu chuyện như thế, nước Đại Việt thất tín. Nàng Huyền Trân đức hạnh cũng chẳng ra gì. Đến vở này, đã bỏ những chi tiết đó. Họ còn cho Huyền Trân yêu chồng, và được quốc vương cũng hết lòng yêu thương chiều chuộng, coi như viên ngọc quý. Chuyện Huyền Trân phải lên giàn hỏa thiêu cùng chồng theo phong tục người Chiêm chỉ là hư cấu. Huyền Trân không phải là vương hậu chính thức, nên không được lên dàn hỏa thiêu cùng quốc vương. Vã lại, khi vua Chế Mân chết, hỏa táng phải thực hiện trong vòng bảy ngày. Với phương tiện đi lại thời đó, người Chiêm Thành ra Thăng Long báo tang, Trần Khắc Chung từ Thăng Long vào, hai bên vừa đi vừa về không thể chỉ trong vòng bảy ngày. Ngừng một lúc cha nàng nhìn con rồi nói:

-  Người Chăm ta coi quốc vương Chế Mân lấy Huyền Trân làm vợ là cuộc hôn nhân chính trị. Lúc đầu  hai bên đều cho rằng nhờ cuộc hôn nhân này mà  hai nước sẽ tránh được việc binh đao. Nhưng đó lại là sai lầm lớn của vua Chiêm, đã dùng châu Ô, châu Lý làm sính lễ, mảnh đất Quảng Trị, Thừa Thiên Huế hiện nay đã rơi vào tay Đại Việt. Nước Chiêm ta cũng có thời hùng mạnh, đã từng 12 lần bắc phạt Đại Việt nhằm chiếm lại châu Ô, châu Lý. Thời vua Chế Bồng Nga đã mang quân ra Bắc, đánh thẳng vào kinh thành Thăng Long làm vua tôi nhà Trần phải run sợ. Chiêm Thành mất nước lại bắt đầu từ việc dâng sính lễ hai châu Ô, Lý, để nước Việt có đà lấn dần về phương Nam cho đến ngày nước Chiêm tan rã hoàn toàn. Chung quy chỉ vì một người đàn bà. Đó là bài học lịch sử, không được lấy đất đai đánh đổi bất cứ cái gì.

Mỹ Hương nhìn cha, nước mắt rưng rưng. Nàng thương cha quá, Người đã  già yếu, tay chân run rẫy rồi vẫn còn ham học, ham nghiên cứu, lòng vẫn không nguôi nỗi nhớ nước Chiêm xưa.

¶¶


Buổi đi rước lễ chính thức bắt đầu từ 5 giờ, trời chưa sáng rõ, thị trấn nhộn nhịp khác thường, mọi người đổ về hướng lăng Ông Thủy tướng nườm nượp. Trước nhà nào cũng có bàn thờ, trên mâm bày trái cây, hương hoa để đón chào. Trung và Mỹ Hương cũng náo nức hòa vào dòng người đi dự lễ hội. Ông Chế Lan, như vị tổng tư lệnh. Lúc ông chỉ bảo nhóm người chuẩn bị đồ cúng lễ, lúc thấy ông dặn dò đội thanh niên đóng quân lính cầm dáo mác đi hộ tống kiệu linh. Lúc lại thấy ông đại diện cho ban tổ chức đón tiếp đoàn khách các địa phương đến dự lễ, dâng quà, cả những phần quà tặng cho các cháu có gia đình nghèo khó. Lúc khác lại thấy ông trả lời phỏng vấn  báo chí, truyền hình. Hội vạn lạch ai cũng tin tưởng vào ông, chỉ ông trả lời báo chí mới bài bản, mới nói được bản chất, lịch sử hội Nghinh Ông.

Ông Chế Lan làm chánh lễ, mặc áo dài màu trắng, vấn khăn kiểu người Chăm. Ông khấn, ông quỳ lạy, và hướng dẫn cho những người dự lễ quỳ lạy đều tăm tắp, nhịp nhàng theo nhịp trống, nhịp nhạc rất bài bản.

 Đội Nghinh Ông lên đường. Đội khiêng kiệu linh đi đầu, ăn mặc như quân lính triều đình nhà Nguyễn. Đội 6 người cầm cờ ngũ hành, 16 quân hầu, 8 quân cầm binh khí đi hộ tống. Một đội lân sư vừa đi vừa múa theo nhịp trống tưng bừng. Các ông, bà mặc áo dài, trang phục cổ truyền dân tộc Việt, Chăm đi sau cùng. Một chiếc xe đặc chủng của cảnh sát hụ còi mở đường. Cả thị trấn ùa ra bên đường đón chào đoàn đi rước. Bên bãi sông hầu hết các tàu thuyền đánh cá trong huyện đã tụ về, cờ hoa lộng lẫy. Một con tàu trang trí đẹp nhất làm Tàu Nghinh.

Sau hồi còi dài, đoàn lên đường. Bắt đầu là tàu Nghinh Ông, sau đến tàu của các xã trong huyện. Một cuộc tiến quân rầm rộ. Tàu tăng dần tốc độ, chạy rẽ sóng trắng xóa trên sông, trên biển, hướng về phía biển Vũng Tàu. Một số tàu có mã lực mạnh muốn áp sát con tàu Nghinh Ông, nhưng bị các tàu cảnh sát có tốc độ cao vượt lên dùng cờ lệnh chặn lai, tất cả phải tuân theo quy ước, không con tàu nào được chạy vượt mặt tàu Nghinh Ông. Có cả tàu của Cảnh sát biển, tàu Hải quan, lấp ló nòng súng. Tàu đã đến đoạn Ba miệng, hợp lưu của ba dòng nước của ba con sông Lòng Tàu, Cần Giờ, Thị Vải thì từ từ dừng lại. Tiếng trống chiêng dồn dập. Hàng trăm con tàu đi rước dừng theo, hướng mũi tàu về phía tàu Nghinh Ông như đang dàn trận. Trong tàu Nghinh, ông Chế Lan làm chánh bái cùng đồng sự làm lễ cúng tế. Ông mặc áo dài màu trắng phủ xuống đầu gối, áo không xẻ thân phía trước. Đầu quấn khăn màu trắng, che kín tóc, buông trùm hai bên tai. Ông thắp ba cây nhang lớn, giơ lên khỏi đầu cất tiếng:

Hoàng đồ Vĩnh cố;

Đế đạo hà xương;

Phật nhựt tăng qui;

Pháp luân thường chuyển;

Phong hòa vũ thuận;

Quốc thái dân an;

Nhân sanh an lạc”

...

Tiếng trống đỗ dồn theo sau lời nguyện cúng của ông. Tất cả các tàu đều hướng mũi về phía tàu Nghinh Ông, bày lễ vật ra trước mũi tàu thắp hương cùng khấn nguyện.

Lạy tạ xong, ông Chế Lan lại sang sảng đọc bài nguyện quay về:

Cung thỉnh chư linh;

Đồng thùy chứng giám;

Nghinh lễ đáo kỳ;

Vạn lạch ngư dân;

Thiết nghinh lễ dã;

Cầu an vạn sự;

Thịnh nước thịnh nhà;

Mưa thuận gió hòa;

Hải bất dương ba;

Ngư dân đắc lợi

...

Phục vị cẩn cáo”.

Tiếng chiêng trống dồn dập kéo dài báo hiệu bài cúng nguyện đã chấm hết. Con tàu Nghinh Ông quay đầu rước linh hồn Ông Thủy tướng và linh hồn các anh hùng, liệt sĩ, những người tử nạn về Lăng Ông để nhân dân cúng bái tri ân.

¶¶


Mãi mấy bữa sau, kể từ ngày ngồi trên tàu Nghinh Ông, Trung mới có dịp đọc bản thảo cuốn “Lễ hội Nghinh Ông Thủy tướng Cần Giờ” do ông Chế Lan biên soạn. Chàng bị cuốn hút bởi cách dẫn chuyện thông minh, uyên bác. Ông lại rành chữ Hán nên đọc được nguyên bản các bộ sách “Đại Nam thực lục”; “ Đại Nam liệt truyện” của Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn. Những tư liệu ông trích dẫn từ sách “Gia Định thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức. Cả sách “Đại Nam nhất thống chí” và hàng pho sách cổ của người Chăm, có lẽ cả huyện Cần Giờ chỉ mình ông biết. Ông dẫn tục thờ cúng cá voi từ thời còn nước Chiêm Thành, gọi là thờ thần Po Kinyak được người Việt tiếp thu thành lễ hội lớn của huyện Cần Giờ ngày nay. Tục thờ cúng cá voi của người Chăm theo dòng người di cư đến cùng chung sống với người Việt và người Việt- chủ yếu là ngư dân cũng ra khơi đánh bắt hải sản, cùng được cá voi cứu sống. Người Việt chấp nhận nghi thức tín ngưỡng này. Tục thờ cá voi xuất phát từ thực tế, dần đi vào tiềm thức con người, trở thành tâm linh. Một cuốn sách nếu in ra phải trên 500 trang, vô cùng công phu và quý giá. Cầm cuốn sách, Trung cứ rưng rưng nghĩ về nghề của mỗi người. Ông Chế Lan được xã hội trọng dụng, ngưỡng mộ vì ông chí thú với nghề, nghiên cứu tường tận văn hóa Chiêm- Việt. Dù ông không học trường lớp, tất cả chỉ tự nghiên cứu mà thành công.

¶¶


Lúc ngồi bên Mỹ Hương trên con tàu Nghinh Ông, Trung nhớ về đêm biểu diễn báo cáo tốt nghiệp của nàng, vì đâu nàng gặp tai nạn?

 Sân khấu Nhà hát Trẻ nằm ngay trong khuôn viên trường Đại học Sân khấu và Điện ảnh. Buổi biểu diễn được nhà trường tổ chức công phu vì có nhiều quan khách, giới văn nghệ sỹ ở thành phố đến dự. Lớp của nàng đã tập đi tập lại vở Huyền Trân Công chúa cả nửa năm nay, đến nỗi các bạn cùng lớp cũng thuộc những vai diễn của người khác. Thầy chủ nhiệm chăm chú vào nhân vật chính Huyền Trân do Mỹ Hương thủ vai, sự thành công của nàng quyết định phần lớn thành công của cả vở diễn. (1)

Màn một là cảnh nàng chia tay cha- đức Thượng Hoàng và mẹ- Thái Hậu để lên xe hoa, đẫm nước mắt. Cả triều đình ngậm ngùi tiễn đưa nàng, đây là lần từ biệt cuối cùng để nàng đi về một nước khác xa lạ, ngàn trùng cách trở, biết có ngày gặp lại?

“Nước non ngàn dặm ra đi;

Mối tình chi;

Mượn màu son phấn;

Đền nợ Ô, Lý;

Xót thay vì;

Đương độ xuân thì;

Số lao đao hay là nợ duyên gì?”

...

Đoạn này nàng hát theo điệu Nam Bình khá xúc động. Cải lương thường lấy nước mắt khán giả ở những tình huống bi lụy. Mỹ Hương bỗng nhớ cha mẹ, nghĩ đến cảnh phải lìa xa gia đình mình để đi lấy chồng về nơi xứ xa, đêm chia tay người con gái nào không rơi lệ. Nàng hát bằng tất cả rung động của tình cảm, trái tim. Nàng sử dụng kỹ thuật “gieo câu, nhả chữ, ngưng lặng, luyến láy”... mà nàng  khổ luyện trong trường khá thành thục. Mỗi lần nàng vô câu vọng cổ dài, cuối cùng vào, tiếng vỗ tay dậy lên như sấm.

Đến màn thứ hai nàng là vợ Chế Mân, hoàng hậu nước Chiêm Thành xa lạ, ngoài người chồng, nàng không biết ai. Nàng bị nhiều thế lực thù ghét và hãm hại, nhất là tể tướng nước Chiêm móc nối với thế lực ngoại bang để cô lập, nhằm tiêu diệt nàng. Màn này khá gây cấn và hồi hộp, nàng thể hiện nhuần nhuyễn tinh tế giữa ca và diễn, nhất là cảnh nàng đứng bên gốc cây thần hát dân ca nước Việt cho Chế Mân nghe. Bài dân ca Cò lả được nàng luyến láy khá hay trong kỹ thuật múa, guộn ngón tay mềm mại:

Con cò cò bay lả lả bay la, bay từ từ chợ phủ, bay ra ra cánh đồng...”.

Quốc vương Chế Mân dù không biết tiếng Việt, nhưng vẫn tỏ ra thích thú làn dân ca có tiết tấu mà theo nhà vua, như  tiếng vó ngựa ngài cưỡi khi ra trận, lại từ miệng người vợ xinh đẹp yêu quý. Họ thật hạnh phúc! Khán giả cũng bị chinh phục bởi giọng ca và tài diễn xuất của nàng. Nhưng đến màn ba, cảnh vua Chế Mân bị sát hại, nàng đang ẳm con thơ còn đỏ hỏn khóc chồng, chuẩn bị lên dàn hỏa thiêu. Lúc dứt nói lối, đàn ngừng lại chờ nàng vô vọng cổ thì lời cha chợt vang lên: Huyền Trân không có vinh dự được lên đàn hỏa thiêu để theo người hùng Chế Mân; việc trả Huyền Trân về Thăng Long là ý nguyện của Chăm Pa con à”. Lập tức cảm xúc tan biến. Lúc đó như có một vị thần nào khuấy đảo tâm trí làm Mỹ Hương không còn là nàng nữa. Tiếng trống trận, tiếng tù và rúc, tiếng súng thần công nổ vang trời bổng lịm tắt; trước mắt nàng cảnh thành Đồ Bàn đẫm máu, xác người Chăm, người Việt nằm ngổn ngang...Lời ca của nàng tắc nghẹn... Nàng cứ đứng trơ trơ như thân cây trụi lá trên sân khấu làm khán giả cũng như bị thôi miên bởi nàng, lặng yên phăng phắc. Thầy chủ nhiệm hốt hoảng, mặt đầm đìa mồ hôi, không hiểu chuyện gì đang diễn ra. Lâu sau thầy bừng tỉnh, cùng học viên dìu nàng vào cánh gà. Đèn sân khấu phụt tắt, màn nhung vội khép lại. Thầy chủ nhiệm cử Nguyễn Hồng Loan thay váy áo của nàng, tiếp tục đóng vai Huyền Trân Công chúa. Màn sân khấu lại kéo lên, đèn lại bừng sáng. Hồng Loan gốc miền Tây, là sinh viên giỏi, cô thuộc vai diễn đã đóng nốt vai Huyền Trân trong đoạn cuối vở diễn.

Vở diễn thành công nên không ai trách Mỹ Hương. Từ đó giọng ca Mỹ Hương không còn âm vang, mùi mẫn như trước. Dù đủ điểm ra trường nhưng Mỹ Hương không còn là ngôi sao sáng trên sân khấu nhà hát Trẻ.

¶¶


Tàu Nghinh kéo một hồi còi dài làm Trung giật mình. Sắp về đến Lăng Ông Thủy tướng, đoàn tàu giảm tốc độ, dồn lại thành đội hình trùng trùng điệp điệp, cờ hoa rợp trời. Ông Chế Lan đứng ở mũi tàu như viên đại tướng, chiếc khăn trùm đầu bay phấp phới trước biển trời bao la xanh lồng lộng. Với đoàn quân của ông có cả người Kinh, người Khme… hòa lẫn với người Chăm thành đội hình vững như đồng hướng về Lăng Ông Thủy tướng, trong tiếng máy nổ rộn ràng vang khúc khải hoàn…


NGUYỄN TRƯỜNG

1,Chú thích: Tác giả dựa vào một số chi tiết của kịch bản “Ni sư Hương Tràng” của TS Bùi Hữu Dược; Hoàng Thế Song chuyển thể cải lương.

 

 

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
23 Tháng Ba 20266:41 CH(Xem: 2318)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
15 Tháng Ba 20261:13 SA(Xem: 2408)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
15 Tháng Ba 202612:47 SA(Xem: 2966)
Một Bài Thơ Dịch, 114 Năm Sau Khi Bài Thơ Gốc Ra Đời. LE PONT MIRABEAU - Tác giả Guillaume Apollinaire -1912 DƯỚI CẦU MIRABEAU – Trần C. Trí chuyển ngữ -2026
14 Tháng Ba 202611:58 CH(Xem: 3428)
. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024. Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.
14 Tháng Ba 202611:11 CH(Xem: 3656)
Xin thưa ngay, “Giáo chủ” đang nói tới đây không nhằm nói về một nhân vật cụ thể, ở một xứ sở cụ thể nào. Và động lực để hắn có đủ lòng dũng cảm (vâng, cần tới lòng dũng cảm) để viết những dòng tạm gọi là “truyện ngắn” cho lành này, chính là tâm sự của một người mẹ - bạn gái hắn, kể với tay nhà báo quèn về chuyện đã “mất” đứa con gái duy nhất tên là MTT cho một đấng “Giáo chủ” cùng hệ thống giáo lý và cái “Thiên đường” của ông ta ra sao…
14 Tháng Ba 202610:45 CH(Xem: 4260)
đưa em về qua chợ / bến đò đầy khách rồi / bữa hôm trời trở gió / tháng giêng hai đến rồi
14 Tháng Ba 202610:34 CH(Xem: 3728)
Ở miền sông nước Hậu Giang, nơi những con rạch nhỏ lặng lẽ chảy qua vườn dừa, vườn khóm, người ta vẫn nhớ về một cô gái có nụ cười “tỏa nắng” như nắng tháng Ba phương Nam. Cô tên là Mai Thị Ngọc Linh.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 4733)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
28 Tháng Hai 20263:32 SA(Xem: 3050)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
28 Tháng Hai 20262:58 SA(Xem: 2981)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 8819)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15794)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14807)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15169)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
23 Tháng Ba 20266:41 CH(Xem: 2318)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
15 Tháng Ba 202612:47 SA(Xem: 2963)
Một Bài Thơ Dịch, 114 Năm Sau Khi Bài Thơ Gốc Ra Đời. LE PONT MIRABEAU - Tác giả Guillaume Apollinaire -1912 DƯỚI CẦU MIRABEAU – Trần C. Trí chuyển ngữ -2026
14 Tháng Ba 202610:45 CH(Xem: 4260)
đưa em về qua chợ / bến đò đầy khách rồi / bữa hôm trời trở gió / tháng giêng hai đến rồi
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 5606)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 3050)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 4567)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 4081)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 4832)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
14 Tháng Ba 202611:58 CH(Xem: 3427)
. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024. Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.
14 Tháng Ba 202611:11 CH(Xem: 3655)
Xin thưa ngay, “Giáo chủ” đang nói tới đây không nhằm nói về một nhân vật cụ thể, ở một xứ sở cụ thể nào. Và động lực để hắn có đủ lòng dũng cảm (vâng, cần tới lòng dũng cảm) để viết những dòng tạm gọi là “truyện ngắn” cho lành này, chính là tâm sự của một người mẹ - bạn gái hắn, kể với tay nhà báo quèn về chuyện đã “mất” đứa con gái duy nhất tên là MTT cho một đấng “Giáo chủ” cùng hệ thống giáo lý và cái “Thiên đường” của ông ta ra sao…
14 Tháng Ba 202610:34 CH(Xem: 3728)
Ở miền sông nước Hậu Giang, nơi những con rạch nhỏ lặng lẽ chảy qua vườn dừa, vườn khóm, người ta vẫn nhớ về một cô gái có nụ cười “tỏa nắng” như nắng tháng Ba phương Nam. Cô tên là Mai Thị Ngọc Linh.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 4733)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
15 Tháng Ba 2026(Xem: 2408)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
28 Tháng Hai 2026(Xem: 2980)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 2026(Xem: 3097)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 3581)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 11663)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28068)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 34478)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 34554)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9220)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 11456)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2318)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
(Xem: 5606)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 5122)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 5182)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 4517)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 6480)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 5732)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 7533)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.