- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

THEO BƯỚC CHÂN LÃNG DU CỦA TRỊNH CÔNG SƠN

01 Tháng Tư 20214:31 CH(Xem: 37085)

TCS

Chân dung NS Trịnh Công Sơn -in trong sách Trịnh Công Sơn, Một người thơ ca, Một cõi đi về

 

Vào một ngày đầu hè năm 2019, tôi ngạc nhiên khi nhận được điện thoại của một người lạ, bạn ấy nói muốn gặp tôi  trò chuyện vì đang làm ký sự Trịnh Công Sơn của Đài truyền hình Việt Nam.

Chúng tôi hẹn gặp ở quán cà phê Trịnh Công Sơn trên đường Xuân Diệu để nghe nhạc và trao đổi cùng vài người bạn. Lúc ấy tôi mới biết bạn là Nguyễn Đức Đệ đạo diễn đang làm phim ký sự “Trịnh Công Sơn nhẹ gót lãng du” gồm 5 tập, kịch bản và cố vấn phim do nhà báo Trần Ngọc Trác ở Đà Lạt một người đam mê nhạc Trịnh đảm nhận. Anh Trác đề nghị cho anh photo tất cả tài liệu mà tôi sưu tầm được khi làm luận văn thạc sĩ Trịnh Công Sơn để làm tư liệu, ngày mai sẽ vào trường Đại học Quy Nhơn quay ngoại cảnh, tìm lại dấu vết cũ nơi Trịnh Công Sơn đã từng học thời gian 1962-1964. Phỏng vấn tôi xoay quanh luận văn thạc sĩ mà tôi đã làm về đề tại Trịnh Công Sơn.

Tôi phân vân không biết có nên nhận lời hay không vì bất ngờ, chỉ có 1 đêm không biết phải chuẩn bị gì, các anh nói không cần phải lo lắng vì đoàn làm phim muốn có một phóng sự thật tự nhiên, chị cứ nói một cách đơn giản không cần phải chuẩn bị trước gì cả. Đêm đó tôi điện thoại cho nhà trường xin phép Đài truyền hình Việt Nam vào quay phim và nhờ bạn phụ trách Hội sinh viên của trường chọn khoảng 10 em sinh viên nữ mặc áo dài để làm nền cho quay ngoại cảnh, các em đang mùa thi nhưng cũng nhiệt tình tham gia. Và ngày hôm sau đoàn làm phim làm việc hết công suất cho đến tối họ về lại Sài  Gòn.

Một tuần sau tôi đi Hà Lan nên cũng bặt tin. Mấy tháng sau, tôi nhận được email báo tin ký sự đã hoàn thành và nhận clip phóng sự.

Tôi lần theo bước chân của Trịnh Công Sơn đi từ Huế vào Quy Nhơn lên Bảo Lộc, Đà Lạt rồi xuống Sài Gòn trong một ngày mùa đông giá lạnh ở Châu Âu, những thước phim đưa tôi về lại quá khứ một Miền Nam Việt Nam trước 1975.

Tập 1: Ký ức quê nhà

Huế trầm mặc cổ kính với những cung điện tường thành rêu phong, tiếng chuông chùa trong sương sớm. Huế đài cát kiêu sa như các cô gái hoàng tộc cung đình xưa. Huế mềm mại như dòng sông Hương lững lờ chảy êm đềm. Có lẽ chính dải Đất Thần Kinh này đã phần nào tạo nên cốt cách của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Theo giáo sư Thái Kim Lan một người bạn học cùng thời với nhạc sĩ đã nhận định:

“ Không gian Huế đã nuôi dưỡng tâm hồn và trí tuệ thiên tài của Trịnh Công Sơn”, nhận xét về ông bà nói “ Sơn là một người con trai Huế thanh tú lại đồng thời rất lãng tử hai đặc tính đó làm cho Trịnh Công Sơn thu hút và anh có một sự mảnh mai nào đó làm cho người phụ nữ xúc động. Trong cuộc sống, mới nhìn thoạt tiên người ta thấy anh thụ động, trong khi người khác sôi nổi, cuồng nộ, Sơn đứng nhìn những người khác, và người ta nghĩ anh chỉ là khách qua đường. Bất ngờ chính người khách qua đường này lại đau hơn tất cả bởi vì anh chạm được con tim, anh đã hát lên nổi lòng của họ.”

“Huế những năm đầu 60, Trịnh Công Sơn hợp cùng Đinh Cường, Bửu Ý, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Kha…thành một băng văn nghệ trẻ rất có thế giá, hiện sinh, à la mode. Họ ăn bận theo lối Tây, pha một chút Parisien…thong thả dạo chơi dưới trời xám gây gây lạnh phố Huế. Đinh Cường, Trịnh Cung đem những nét mới mẻ tây phương vào hội họa, Ngô Kha có tập thơ Hoa Cô ĐộcNgụ Ngôn Của Người Đãng Trí với ngôn ngữ tân kỳ. Hoàng Phủ Ngọc Tường và Ngô Kha là những giáo sư triết có tiếng ở học đường bậc trung học. Bửu Ý uyên bác, giỏi ngoại ngữ. Chỉ riêng Trịnh Công Sơn làm nhạc với những ngôn từ trừu tượng, siêu hình và rất mới mẻ. Người trẻ lúc đó bắt đầu chìm ngợp trong ấn tượng mơ hồ và lãng đãng đó. Trịnh Công Sơn trở thành một hiện tượng độc đáo trong làng âm nhạc Việt Nam”. (7)

Những bài hát của Trịnh len lỏi vào đời sống của người dân nước Việt, ông nói hộ tâm tình của mọi con người. Bà Thái Kim Lan - giáo sư triết học một Việt kiều ở Đức chia xẻ thời gian bà về Huế, bà thường gặp lại các bạn nữ trường Đồng Khánh tụ họp nhau cùng hát nhạc Trịnh. Căn nhà nhỏ ngày xưa của ông trên đường Nguyễn Trường Tộ nay trở thành “Gác Trịnh” nơi thường tổ chức các gala hội họa hay âm nhạc. Chính căn gác nhỏ này ông thường đứng trên lan can ngắm người con gái mà ông thầm yêu ngày hai buổi đến trường đi qua dưới hàng long não lá li ti. Diễm xưa, Diễm của một thời tuổi trẻ, Diễm của “Mưa vẫn hay mưa trên hàng lá nhỏ/ Buổi chiều ngồi ngóng những chuyến mưa qua/Trên bước chân em âm thầm lá đổ/Chợt hồn xanh buốt cho mình xót xa”.

"Thuở ấy có một người con gái rất mong manh, đi qua những hàng cây long não lá li ti xanh mướt để đến Trường Đại học Văn khoa ở Huế. Nhiều ngày, nhiều tháng của thuở ấy, người con gái ấy vẫn đi qua dưới những vòm cây long não. Có rất nhiều mùa nắng và mùa mưa cũng theo qua. Những mùa nắng, ve râm ran mở ra khúc hát mùa hè trong lá. Mùa mưa Huế, người con gái ấy đi qua nhạt nhòa trong mưa giữa hai hàng cây long não mờ mịt...", nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã viết như vậy về Diễm.

Nơi “Gác Trịnh” này, mùa Đông năm 2013 họa sĩ Đinh Cường từ Mỹ trở về đã tổ chức triển lãm tranh cùng với những người bạn ngày trẻ của ông. Ở nơi này, thỉnh thoảng người ta bắt gặp một ông già kéo đàn violin với những ca khúc nhạc Trịnh, đó là ông Trương Văn Thanh người bạn của Trịnh Công Sơn học chung thời Sư Phạm Quy Nhơn. Ông Thanh ít tiếp xúc với mọi người ông sống bình lặng, với ông Trịnh Công Sơn là người bạn tình nghĩa, sau năm 1975 xã hội biến động, Sơn thường đến thăm và động viên bạn mình cố gắng vượt qua hoàn cảnh để nuôi 3 đứa con thành tài. Cũng như bà Thái Kim Lan từng kể anh Sơn là người đầu tiên đến thăm gia đình tôi sau hòa bình lập lại. Ông Thanh kể lại quãng thời gian cùng học với Trịnh Công Sơn ở Quy Nhơn thường cùng bạn ra biển chơi, bản nhạc Dã Tràng Ca nhạc sĩ đã phác họa như thế nào và đó là hợp xướng đầu tiên của Trường Sư Phạm Quy Nhơn biểu diễn ở Rạp Kim Khánh.

Khép lại những ký ức quê nhà là tiếng đàn Violin của người bạn già tấu lên khúc Tình sầu.….trong nắng chiều tím thẫm của dòng sông Hương mênh mang.

Tập 2. Một thời biển nhớ 

Quy Nhơn những năm 1962 là một thị xã miền biển hiền hòa nằm trên rẻo đất Miền Trung, nơi đây vừa mới khánh thành Trường Sư Phạm đầu tiên đào tạo giáo viên tiểu học cho các tỉnh duyên hải Miền Trung và Tây nguyên khóa học 2 năm. Trịnh Công Sơn vào học khóa đầu tiên. Theo ông Nguyễn Thanh Tỵ:“ Để giới thiệu và quảng bá rộng rãi cho nhiều nơi biết tiếng về trường Sư Phạm, Ban Giám Đốc trường cho thành lập Ban văn nghệ, sẽ trình diễn một chương trình độc đáo chưa từng có ở Quy Nhơn từ trước đến giờ. Trịnh Công Sơn được bầu làm trưởng ban chịu trách nhiệm tổng quát, Thanh Hải phó ban thứ nhất chịu trách nhiệm về nhạc, Võ Văn Phòng phó ban thứ hai chịu trách nhiệm một vở kịch thơ nhan đề “Tiếng cười Bao Tự”. Tôi được chọn phụ trách phần thổi sáo đệm thơ trong suốt vở kịch dài hơn 45 phút. Trong dịp này tôi mới biết và quen Trịnh Công Sơn. Buổi trình diễn được dự trù đúng vào ngày Song Thất năm đó (7/7/1962). Trong thời gian này,Trịnh Công Sơn sáng tác trường ca " Tiếng hát Dã Tràng" làm tiết mục mở màn mà cũng là tiết mục đặc sắc nhất, công phu nhất. Nhạc trưởng Trịnh Công Sơn với ban hợp xướng do anh tuyển chọn gần 50 người, khổ công trong ba tháng trời tập luyện đã thành công tuyệt vời trước sự ngac nhiên đầy thích thú của quan khách và khán giả. Ngày ấy, Quy Nhơn còn nghèo lắm. Cả thành phố có mỗi một quán kem duy nhất, vừa bán kem, vừa bán cà phê thuốc lá, bia, trà. Đó là quán Phi Điệp, nằm trên đường Phan Bội Châu, đối diện với hội trường Quy Nhơn, nơi đã trình diễn văn nghệ. Mỗi buổi chiều hoặc tối, anh chị em nào có tiền thì vào quán kêu một bình trà ngồi với nhau nhâm nhi nghe nhạc. Khá một chút nữa thì kêu chai bia với một tô bò viên gân, ngầu pín của ông ba tàu đậu cái xe phở trước cửa quán. Thế là sang lắm rồi. Còn những anh chị nào "bô xu" thì ra biển ngồi ngắm trăng suông. Dọc theo bãi biển là một hàng dương, chạy dài đến bệnh viện Nguyễn Huệ là xóm chài. Tuyệt nhiên không có một lều quán hay kiosque nào bán cà phê, bia rượu gì cả. Trịnh Công Sơn và Tôn Nữ Bích Khê thường ra đó với ông Đinh Cường thì cũng chỉ để ngắm trăng vàng vỡ vụn trên sóng biển mà thôi.” (1) 

Năm 1988, Trịnh Công Sơn từng viết: “Quy Nhơn không hiểu còn thơ mộng như thời tôi những năm hai mươi tuổi? Cái tuổi ấy nhìn gì mà chẳng đẹp. Tôi vốn yêu người và yêu thiên nhiên. Có thể rất gần đây tôi sẽ chuẩn bị một chuyến trở về Quy Nhơn để tần ngần ngồi nhìn một bờ biển của những ngày xưa, lúc một hạt cát cũng đủ làm tôi cảm động”. Đã lâu rồi ông chưa trở về thăm trường cũ, dạo đó ông còn trẻ và yêu biển vô cùng. “Biển nhớ” là bài hát ông viết cho những con đường ở thành phố Quy Nhơn, nơi ấy có một người bạn gái học cùng lớp hằng đêm thường cùng ông ra ngồi ngắm biển. Ông viết : “Tôi soi vào quá khứ và tôi nhìn thấy tôi ở biển trong những ngày biển động và biển lặng. Tôi nhìn thấy tôi lang thang trên đường phố Quy Nhơn một mình. Một mình đánh billard ở đường Võ Tánh. Một mình nằm ngủ trong căn nhà trọ vào giờ giấc mà mọi người sum họp vui vầy với nhau…Có những căn nhà trống gió thổi lùa qua mọi ngõ ngách. Tâm hồn con người cũng có lúc gió lạnh cũng lùa quanh. Đừng nhắc lại dĩ vãng. Nó đẹp nhưng không ích lợi gì cả. Chúng ta sống cho mỗi ngày hôm nay. Hôm nay cũng là quá khứ và chúng ta cố giành giựt với thời gian để biến ngày hôm nay thành một hiện tại vô tận.” (2) 

Nơi thành phố biển hiền hòa, yên tĩnh này, ông đã sáng tác những tình ca nổi tiếng như “Biển nhớ”, “Nhìn những mùa thu đi”, “Nắng thủy tinh”, “Dã tràng ca”…Những tình ca của Trịnh Công Sơn đã gây kinh ngạc cho mọi người thời đó, khi mà cả miền Nam còn quen với dòng nhạc tiền chiến sướt mướt với “Kiếp hoa”, “Nỗi lòng”, “Khúc nhạc tương tư” hay “Lá thư”, “Tạ từ”... thì những hình ảnh mang đậm nét siêu thực, với những ca từ lạ hóa. Lạ từ nhan đề tới hình ảnh tân kỳ trong lời ca mang nhiều màu sắc mới lạ, đã gây sự chú ý và liền chinh phục người nghe. 

Cuối năm 1998, sau 35 năm ra trường, lần đầu tiên ông trở lại Trường Sư phạm Quy Nhơn cùng nhóm “Những người bạn” dịp Quy Nhơn tổ chức kỷ niệm Thành phố 400 năm tuổi. Cùng đi với ông lúc ấy có các nhạc sĩ tên tuổi khác như Trần Long Ẩn, Tôn Thất Lập, Thanh Tùng, Nguyễn Ngọc Thiện, Nguyễn Văn Hiên... Đó là một đêm đầy cảm động. Cả hội trường Đại học Quy Nhơn nghẹt kín sinh viên. Có những bài ông vừa hát, sinh viên phụ họa hát theo như một dàn đồng ca đã được tập dượt trước. 12 giờ đêm chương trình chấm dứt nhưng các sinh viên vẫn quây lấy ông chụp hình kỷ niệm. Ông xúc động kể lại những năm tháng ông học tại Sư phạm Quy Nhơn thời 62-64, và hát say sưa không biết mệt. Và có lẽ ông không ngờ, vào năm 2005 tại ngồi trường này lần đầu tiên ở Việt Nam có một cô gái đã lấy ca từ của ông làm đối tượng nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình.(6) 

Ngày nay, Trường Sư Phạm Quy Nhơn đã đổi thành trường Đại học Quy Nhơn đào tạo đa ngành, năm 2019 thành phố Quy Nhơn có một con đường mang tên Trịnh Công Sơn. 

Và tháng 10.2020 thành phố khánh thành bức tượng Trịnh Công Sơn ngồi ôm đàn bên bờ biển, bức tượng đặt gần ngôi trường Sư Phạm Quy Nhơn ngày xưa ông theo học.

Biển Quy Nhơn, ngày đêm vẫn rì rào vỗ sóng, như bản tình ca da diết của ông: Ngày mai em đi/biển nhớ tên em gọi về/triều sương ướt đẫm cơn mê/trời cao níu bước sơn khê…

 

Tập 3. Những ngày Bảo Lộc 

Năm 1964, sau khi tốt nghiệp trường Sư phạm Quy Nhơn, Trịnh Công Sơn được điều lên Bảo Lộc dạy học. Thời ấy, nghề dạy học là một nghề được trọng vọng và lương cao. “Với chỉ số lương 320 cộng thêm phụ cấp đắt đỏ vùng cao lúc bấy giờ, chúng tôi lĩnh được 5.200 đồng, tương đương 2 lượng rưỡi vàng Kim Thành. Vật giá lại rất rẻ. Tiền ăn, ở mỗi tháng chỉ hết 600 đồng. Chai bia con cọp 3 đồng. Một dĩa thịt bò lúc lắc 4 người ăn giá 7 đồng. Tô phở 3 đồng, cà phê loại ngon 1 đồng. Cơm bữa với ba món 6 đồng. Thời gian từ 64-67 chúng tôi sống sung sướng, tiêu pha rộng rãi mà vẫn còn rủng rỉnh”.(1)

Trịnh Công Sơn vào học Sư Phạm Quy Nhơn cũng vì lý do này, muốn có một việc làm nhanh nhất để giúp gia đình. “Trịnh Công Sơn theo ban Pháp văn, tôi theo ban Anh văn. Những ngày mưa gió ủ ê, không đi ra ngoài được vì đất nhão, chúng tôi nằm khoèo ở nhà, Sơn kể cho tôi nghe về cuộc đời Sơn, nhiều chuyện vui buồn lẫn lộn. Chuyện gia đình Sơn là một trong những chuyện buồn. Cha mất sớm, gia đình khánh kiệt, má Sơn phải chật vật lắm mới nuôi nổi bầy con. Sơn phải bỏ học, về lại Huế, phụ giúp mẹ. Sư phạm Quy Nhơn là con đường ngắn nhất có thể giúp Sơn đạt được ý nguyện này. Đơn giản vậy thôi!” (1) 

Một nhạc sĩ tài hoa vì thời cuộc phải bó buộc cuộc đời mình, với Trịnh Công Sơn là một bất đắc chí. Ông sống cô đơn trong cõi riêng của mình.

B’Lao ngày ấy là một nơi đèo heo hút gió phần nhiều là người Thượng, người Kinh ít hơn hầu hết là con em khu gia binh. Trịnh Công Sơn cùng 3 người bạn thuê 1 villa ở chung với gia đình chủ nhà. Ông ở căn phòng phía ngoài có cửa sổ mở ra hàng hiên nhìn con đường đất đỏ chạy ngang, bên ngoài là rừng bông lau cao vút vàng rực trong nắng chiều. Chính nơi này, ông viết ca khúc “Lời buồn thánh” lấy hình ảnh một cô gái mảnh mai, tóc thề ngang vai, gương mặt như Đức Mẹ Maria, hàng ngày đi lễ nhà thờ ngang qua nhà ông, đầu hơi cúi xuống, bước chân lặng lẽ  ẩn hiện trong đám bông lau.

Chiều chủ nhật buồn/ Nằm trong căn gác đìu hiu/Ôi tiếng hát xanh xao của một buổi chiều/Trời mưa, trời mưa không dứt/ Ô hay mình vẫn cô liêu. Cô nữ sinh ấy tên Ngà là một cô gái ở gần nhà trọ của ông. 

Dạy học được 1 tháng, ngày lãnh lương đầu đời ai cũng vui mừng, riêng Trịnh Công Sơn có phản ứng lạ mà bạn ông không lý giải nổi: “Lãnh lương xong, ra khỏi cửa, Sơn sải chân đi thật lẹ. Sơn vốn cao, chân dài. Tôi thấp, chỉ tới tai Sơn, chân ngắn, nên phải nhảy ba bước một, mới bắt kịp. Vừa thở, vừa kêu Sơn đợi. Sơn không đáp cứ cắm đầu đi thẳng. Vừa vào phòng, Sơn khóa ngay cửa lại. Tôi ngạc nhiên coi anh chàng làm cái trò gì đây. Sơn để nguyên quần áo, giầy vớ nằm vật ngửa ra đi văng, tay rút trong túi quần ra cái phong bì tiền lương lúc nãy, xé phong bì, nắm hết nắm tiền 5200$ gồm giấy 5$, 10$, 50$ tung lên trên trần nhà. Giấy bạc mới tinh, phát ngân viên Thành vừa lãnh từ kho bạc ra, rơi lả tả xuống người Sơn, rơi xuống đi văng. Sơn hốt lên, tung trở lại. Sơn cười sằng sặc. Sơn cười ha hả. Tiếng cười nghe là lạ. Nó pha lẫn niềm vui và nỗi phẫn hận.” (1) 

“Cái cảnh ông Trưởng giáo Trịnh Công Sơn ngồi dạy học ở ngôi trường Sơ cấp Thượng thì thật là vừa bi vừa hài. Đó là một ngôi trường 2 gian, nhà tranh vách ván. Mỗi buổi sáng, cái hoạt cảnh ông đi dạy đã là buồn cười rồi. Sơn phải dậy sớm lúc bảy giờ để đến trường. Những ngày có mặt trời thì nhìn bóng nắng mà đi. Những ngày sương mù hay mưa dầm thì lắng nghe tiếng kèn lính chào cờ ở một đồn lính nào đó rất xa vọng lại văng vẳng. Te te...Tò tí te...Tò tí te... Sơn xỏ vội chiếc áo ka ki màu vàng cụt tay, đôi giầy ba-ta màu nâu, nách trái kẹp cuốn vở soạn bài cuộn tròn, miệng ngậm ống vố, chân sãi bương bã đến trường. Trường không xa lắm, non nửa cây số, Sơn lội bộ hằng ngày, trên con đường đất đỏ, càng lúc càng lên dốc. Ngày nắng thì bụi đỏ mù trời, ngày mưa thì nhèm nhẹp. Có hôm Sơn ngồi chờ mãi mà vẫn không nghe thấy tiếng kèn đồng giục giã tò te, tí te, cứ ngồi ôm đàn tìm nốt nhạc. Đến khi sương tan hết, mặt trời ló ra thì đã gần đứng bóng. Ba chân, bốn cẳng Sơn vội vã như ngựa phi nước đại đến trường”.(1) 

Những năm 1964 – 1967 xã hội Miền Nam nhiều biến động, chiến tranh càng lúc càng leo thang, biến cố một người bạn cùng dạy học ở B’Lao từ Bảo Lộc về Sài Gòn bị mìn nổ chết trên đường đi do Việt Cộng gài mìn khiến Trịnh Công Sơn càng ngày càng rơi vào bi kịch, người ta thấy ông luôn đi đi về về từ Bảo Lộc - Đà Lạt hay từ Bảo Lộc - Sài Gòn trong dịp cuối tuần. Trong thời gian này Sơn nhận rất nhiều thư của bạn bè từ Huế gửi đến, những phong thư dày cộm làm ông bồn chồn, lo lắng, ít đi lang thang vào buổi chiều, thường ngồi thẫn thờ hàng giờ đốt hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác. Ba tháng hè, Sơn ở riết trên Bảo Lộc và tập “Ca Khúc da vàng” được khai sinh từ những đêm mất ngủ đó. Lần đầu tiên, người ta nghe những ca từ  lạ lẫm, không giống như những tình ca trước kia, mà là những ca khúc nói lên nỗi khổ của con người trong chiến tranh “Gia tài của mẹ”,” Đàn bò vào thành phố”, “Người già em bé”, “Người con gái Việt Nam da vàng” v.v...” Lời ca thật xúc động, nó xoáy sâu vào tim người nghe rồi chuyền lên óc làm cho rúng động tâm can, tỏa lan dần khắp cơ thể làm cho bải hoải tứ chi. Nổi gai óc khắp người. “Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu/ một trăm năm đô hộ giặc Tây/ hai mươi năm nội chiến từng ngày/Gia tài của mẹ một bọn lai căng/Gia tài của mẹ một lũ bội tình"(1) 

Mùa hè năm 1967, Sơn cùng các bạn ông đang nghỉ hè, bỗng đồng loạt nhận được điện khẩn của Ty, nhắn lên Bảo Lộc gấp để nhận lệnh nhập ngũ. Phía dưới còn bị chú hàng chữ: Nếu trình diện trễ hạn sẽ bị đưa ra trường hạ sĩ quan Đồng Đế.

Sơn đến trình diện rồi về Sài Gòn, bắt đầu những ngày tháng bôn ba trốn lính.

Ngày nay, căn nhà Trịnh Công Sơn từng ở trọ dạy học nay là Nhà hàng Hồng Phát.

Ngôi trường ông dạy đã bị san bằng, còn chăng là những đám cỏ xanh ngút ngàn.

 

Tập 4. Những góc Trịnh ở Đà Lạt 

Đà Lạt mờ ảo chìm trong sương mờ dày đặc, những năm 1964 – 1967 Trịnh Công Sơn dạy học ở B’Lao cuối tuần ông thường theo xe đò về Đà Lạt gặp gỡ bạn bè, quán cà phê Tùng là chốn thân quen ông hẹn những người bạn trao đổi công việc, rồi đến hát ở phòng trà. Nơi này vẫn còn giữ một góc nhỏ nơi Trịnh Công Sơn thường ngồi đợi bạn. Cô chủ quán kể thường thứ sáu là ông có mặt ở cà phê Tùng.  Theo Bửu Ý, vào năm 1965 tại Đà Lạt tình cờ Trịnh Công Sơn nghe Khánh Ly hát trong một hộp đêm Tulipe Rouge (4) lúc đó ông nhận ra cô ca sĩ này có giọng hát lạ phù hợp với những bài hát của mình, nên mời cô tham gia. Hãy nghe ông nói về cuộc gặp gỡ này: “Gặp gỡ ca sĩ Khánh Ly là một may mắn tình cờ, không phải riêng cho tôi mà còn cho cả Khánh Ly. Lúc gặp Khánh Ly đang hát ở Đà Lạt, lúc đó Khánh Ly chưa nổi tiếng nhưng tôi nghe qua giọng hát thấy phù hợp với những bài hát của mình đang viết và lúc đó tôi chưa tìm ra ca sĩ nào ngoài Khánh Ly. Tôi đã mời Khánh Ly hát và rõ ràng giọng hát của Khánh Ly rất hợp với những bài hát của mình. Từ lúc đó Khánh Ly chỉ hát nhạc của tôi mà không hát nhạc người khác nữa. Đó cũng là lý do cho phép mình tập trung viết cho giọng hát đó và từ đó Khánh Ly không thể tách rời những bài hát của tôi cũng như những bài hát của tôi không thể thiếu Khánh Ly” (3) 

Ngày nay, đến Đà Lạt bạn có thể thấy nhiều quán cà phê hát nhạc Trịnh với phong cách nhẹ nhàng, lãng tử, ca sĩ và người nghe gần gũi giao lưu cùng nhau. Quán “Căn nhà xưa” là một trong số đó. Điêu khắc gia Phạm Văn Hạng một người bạn của Trịnh Công Sơn ở Đà Lạt đã có nhiều tranh vẽ hí họa và tượng điêu khắc nhạc sĩ, họ có nhiều kỷ niệm cùng nhau. Với ông, cái mà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cống hiến cho xã hội đó là cả một sự nghiệp ước vọng cho đất nước hòa bình. Dù nhạc sĩ đã mất gần 20 năm nhưng ông luôn giữ một vị trí quan trọng trong trái tim những người bạn của mình, chính vì vậy nó là sợi dây kết nối cho những ai quen biết Trịnh Công Sơn đến gần với nhau. Nhà sử học Trần Viết Ngạc bạn của Trịnh, thường được cho là “bầu xô”  những đêm nhạc Trịnh Công Sơn, ông kể về việc in ấn các nhạc phẩm của Trịnh và những đêm diễn nhạc Trịnh. Có đêm Sơn hát xong vừa bước xuống sân khấu các cô gái ào tới vây quanh đưa vai cho Sơn ký, ở Đà Lạt xứ lạnh nên các cô thường mặc áo măng tô, nếu không có áo măng tô thì các cô đưa khăn tay cho Sơn ký tặng, với các cô gái đó là niềm vinh dự lớn, những năm thời đó rất vui, thỉnh thoảng Sơn hát cho sinh viên nghe trong hội trường ở Viện Đại học Đà Lạt, và được sinh viên hưởng ứng rất đông. Ngày nay, có thể thấy mọi góc nhỏ Đà Lạt vẫn luôn tồn tại hình bóng Trịnh thông qua những góc phố, con đường, quán cà phê đi đâu chúng ta cũng có thể nghe văng vẳng giọng hát Khánh Ly trong những ca khúc của Trịnh. “Ta thấy em trong tiền kiếp/ Với cọng buồn cỏ khô/Ta thấy em đang ngồi khóc/Khi rừng chiều đổ mưa/Rừng thu lá úa em vẫn chưa về/Rừng đông cuốn gió em đứng bơ vơ”.

 

Tập 5. Người thành phố nhắc tên 

Có lẽ biến cố tổng động viên năm 1967 kể cả những giáo viên đang dạy học là một bước ngoặc trong cuộc đời Trịnh Công Sơn. Chính lúc này là lúc ông thể hiện rỏ quan điểm của mình. Trịnh Công Sơn lên Bảo Lộc trình diện nhận giâý triệu tập nhưng ông đã trốn lính. Thời ấy, trốn lính gần như là một cái “nghề” đầy tính chất phiêu lưu của thanh niên Miền Nam lúc bấy giờ, trong số đó có Trịnh Công Sơn. Thái độ trốn tránh ấy, chứng tỏ quyết tâm không tham chiến của ông, ông từ chối chiến tranh và phản đối nó. 

          Vào những năm 64-67 khi còn dạy học ở Bảo Lộc, Trịnh Công Sơn vẫn thường đi đi về về Sài Gòn tham gia các phong trào ca hát của giới trẻ, đến năm 1967 ông trốn lính và ở hẳn Sài Gòn. 

Sài Gòn những năm 60 sôi sục tinh thần yêu nước của học sinh – sinh viên, tinh thần phản chiến rầm rộ trong giới tri thức. Ca khúc Da vàng của Trịnh Công Sơn xuất hiện đúng thời điểm này nó là tiếng kêu gào ước mơ hòa bình và hạnh phúc cho con người. Từng câu, từng chữ là sự thật của xã hội Miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ, nó lột tả cái thảm cảnh chết chóc của chiến tranh khắp mọi miền đất nước, con người dù phía nào cũng là nạn nhân của sự bắn giết tàn khốc, cùng cất lên tiếng kêu thương bi phẫn, trầm thống của một ước vọng khao khát hòa bình. 

Tụ điểm sinh hoạt văn nghệ tiên phong của thanh niên sinh viên Việt Nam ở Sài Gòn có sức lôi cuốn mạnh mẽ và tạo tiếng vang trong những năm dài biến động lúc bấy giờ xuất phát từ Quán Văn. Chính Quán Văn đã đưa  tên tuổi nhiều nghệ sĩ sáng tác, trình diễn đi sâu vào lòng quần chúng như Trịnh Công Sơn, Khánh Ly, Thanh Lan, Từ Công Phụng... Sinh hoạt văn nghệ từ Quán Văn  như một bàn đạp, dần đi sâu vào các khuôn viên trường đại học, đoàn thể. Đó là một quán cà phê văn nghệ do các sinh viên cùng nhau đóng góp tài chánh mở ra, các bạn cùng tự quản. Quán Văn nằm sau lưng trường Đại học Văn Khoa trên bãi đất trống khu tứ giác rộng lớn quần tụ các hội đoàn đó là trụ sở của CPS viết tắt của chương trình Phát triển Sinh hoạt Thanh Niên học đường, CPS trực thuộc Bộ Quốc Gia Giáo dục được tổ chức thiện nguyện quốc tế tài trợ , chuyên trách về điều hành  và xây dựng các sinh hoạt  thanh niên sinh viên học sinh hướng về phụng sự xã hội do anh Lê Đình Điểu điều hành. Bên cạnh là Hôi nhu đạo của GS Phạm Lợi và Hội Kiếm Thuật do ông Hoàng Việt làm trưởng tràng. Xuống một con dốc là sân bóng chuyền cho sinh viên Văn Khoa sinh hoạt. Gần bên là trụ sở Ca đoàn Nguồn sống, ca sĩ Thanh Lan và nhiều tên tuổi khác xuất phát từ ca đoàn này. Sau cùng là Hội Họa sĩ Trẻ với nhiều khuôn mặt họa sĩ danh tiếng Đinh Cường, Nguyên Khai, Trịnh Cung, Nghiêu Đề...tất cả quần tụ 4 mặt thành khu tứ giác sau lưng Đại học Văn Khoa.(6) 

          Nhưng phải đến khi Trịnh Công Sơn và Khánh Ly cùng xuất hiện một lúc Quán Văn mới trở thành một hiện tượng. Vào cuối năm 1966, buổi ra mắt đầu tiên của ông trước công chúng Sài Sòn là khoảnh sân sau Trường Đại học Văn khoa, với hàng ngàn sinh viên và trí thức. Bằng chiếc ghi ta thùng đơn giản và giọng ca huyền thoại Khánh Ly, những bài tình tự quê hương và thân phận con người được hát vang lên và làm thức tỉnh, say đắm hàng ngàn khán giả sinh viên cuồng nhiệt đêm đó.Tác phẩm đã hòa nhập vào công chúng, là tiếng lòng của công chúng.Trịnh Công Sơn và Khánh Ly trở thành một hiện tượng và rồi trở thành thần tượng của lớp trẻ lúc bấy giờ. 

 “Trịnh Công Sơn, với dáng người mảnh khảnh, cặp kính trắng trí thức, giọng Huế nhỏ nhẹ, với cuộc sống bất định. Đêm đi hát, khuya về kê ghế bố ngủ với bạn bè ở Quán Văn hay Hội Họa Sĩ Trẻ. Bên cạnh đó hình ảnh Khánh Ly, khi hát đi chân đất – nữ hoàng chân đất của một thời – giọng hát da diết sương khói diễn tả nỗi trầm thống vô vọng: “tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người”. Hai người đi với nhau tạo nên hình ảnh “đôi lứa”, một đôi trai-gái trong tình bạn hồn nhiên, trong sáng. Tạo thành một đôi bạn trẻ, một couple ở đây rất mới, đáp lại ước mơ hiện đại của một thế hệ thanh niên muốn phá vỡ quan niệm nam nữ thụ thụ bất thân còn đè nặng lên xã hội Việt Nam. Trong dư luận, họ cũng không bị nghi ngờ hay tai tiếng, dù người đời có kẻ thắc mắc, tò mò... Những tâm hồn phóng khoáng và “hiện đại” thì gạt phăng đi loại “tò mò bệnh hoạn ấy” “.(8)Và đặc biệt, Trịnh Công Sơn là người tăm tiếng mà không tai tiếng. Sơn nói: “Tôi và Khánh Ly chỉ là hai người bạn. Thương nhau vô cùng, trên tình bạn”.(9)Khánh Ly viết: “Một mối liên hệ cao hơn, đẹp đẽ hơn, thánh thiện hơn là những tình cảm đời thường”.(10) 

 Nhưng trên hết, chính hình ảnh Trịnh Công Sơn và Khánh Ly thường đi hát cộng đồng, nghĩa là hát không công, không lấy thù lao, chủ yếu là cho thính giả trẻ, tại các giảng đường, trường học, đã tạo ra một hình ảnh lý tưởng trong nghệ thuật, nhất là nghệ thuật ca hát – mang theo lý tưởng nhân đạo và tình yêu thể hiện sự dấn thân của người nghệ sĩ. 

Năm 1969 nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn nổi tiếng khắp thế giới, ông được xem là một Bob Dylan (nhạc sĩ phản chiến số 1 ở Mỹ) của Việt Nam. Năm 1970 Bài Diễm xưa được vào chung kết cuộc thi các bài hát nước ngoài ở Nhật, bài Ngủ đi con chiếm “đĩa vàng” và đã phát hành trên hai triệu đĩa.(11) 

Trịnh Công Sơn từ đó trở thành thần tượng - kẻ du ca bất khuất - trên đất nước đầy bom đạn. Những sáng tác tiếp theo của ông với những ca từ mạnh mẽ, trong tập Kinh Việt Nam hay Ta phải thấy mặt trờiNhân danh Việt Nam là tiếng kêu gọi hòa bình và thống nhất đất nước. Nhạc phản chiến của ông bị chính phủ của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cấm phát hành. Bản thân ông phải sống trốn tránh. Nhưng ông được nhiều trí thức và quần chúng cưu mang. Trong đó có đại tá Lưu Kim Cương, một sĩ quan cao cấp trong không quân Miền Nam Việt Nam đã che chở và giúp đỡ ông rất nhiều trong thời gian khốn khó ấy. Sau khi đại tá Lưu Kim Cương tử trận, ông viết bài Cho một người nằm xuống để tri ân một người bạn đã từng che chở mình. 

Ngày 30/4/1975 Việt Nam chấm dứt chiến tranh, ngày đầu tiên ngưng tiếng súng Trịnh Công Sơn và những người bạn hộ tống ông lên Đài phát thanh hát “Nối vòng tay lớn”, một bài hát nói lên niềm khao khát hòa bình, thống nhất. Ước mơ hòa hợp dân tộc hai miền Nam-Bắc, được ông viết từ năm 1968.

Thế nhưng, tình hình của Trịnh Công Sơn thật khá tế nhị trong thời kỳ sau 1975. Những ngày đầu sau cuộc chiến Trịnh Công Sơn về lại Huế, với không khí chính trị còn ấu trĩ, tả khuynh quá đà của một số người trong chính quyền mới, ông bị coi là một nghệ sĩ của chế độ “mục nát” của Miền Nam. Có người lên án, nhưng cũng có người bảo vệ. Bên cạnh thực tế ấy, Trịnh Công Sơn lại không đủ sức chống đỡ với những thế lực khác kèn cựa tài năng mình. Hiểu được bi kịch của ông, và biết rõ tài năng, nhân cách của người nhạc sĩ tài hoa này, một nhà lãnh đạo nổi tiếng ở phía Nam đã đánh tiếng, gọi ông về  Sài Gòn. Năm 1979, Trịnh Công Sơn từ giã Huế vào Sài Gòn. Từ những năm 1980, Trịnh Công Sơn bắt đầu sáng tác lại. Tác phẩm của ông sau chiến tranh có những bài nổi tiếng như: Chiều trên quê hương tôi, Em còn nhớ hay em đã quên, Huyền thoại mẹ, Hà Nội mùa thu, Tiến thoái lưỡng nan, Tôi ơi đừng tuyệt vọng, Lặng lẽ nơi này, Xin trả nợ người, Lời thiên thu gọi... Những sáng tác này thường là tình ca, không có bài hát nào liên quan đến chiến tranh, chủ yếu là những tác phẩm viết cho các phim. Nội dung thường nói lên thân phận con người, kiếp người trong cõi tạm, mang đậm chất Thiền. Ca khúc cuối cùng ông sáng tác trên giường bệnh là bài Biển nghìn thu ở lại. Và ngày 01/4/2001 Trịnh Công Sơn qua đời, “con chim nhỏ hát chơi trên đầu ngọn lau” không còn nữa, vết chim hạc để lại trên cõi trần đúng 62 năm. Cái chết của Trịnh Công Sơn làm chấn động những người dân Việt cả trong nước và ngoài nước. Hàng triệu trái tim lặng lẽ khóc thương, hàng ngàn người đi sau linh cữu ông, chưa có một đám tang nào mà mọi người lại yêu thương nhau đến vậy, tất cả cùng nắm tay và hát trong nước mắt bài Cát bụi và Một cõi đi về theo tiếng kèn thống thiết của Trần Mạnh Tuấn.(6)

Người đời tinh lắm, Trịnh Công Sơn đã cho cuộc đời trái tim ông, ngày ông mất người đời đã cho lại ông tất cả. 

Tôi ước mơ một ngày nào đó trên hành tinh này tiếng hát sẽ được trả về với vẻ đẹp thuần khiết của nó. Đó là tiếng hát bay qua các lục địa, các đại dương, mang trong lòng nó tình yêu và tình nhân ái. Cái sứ mệnh huy hoàng nhất của nó là phải mang được cái thông điệp ấy đến với từng con tim. Không những chỉ với những tâm hồn vốn yêu chuộng hòa bình mà cả những con tim đang ngộ độc bởi những ngòi thuốc nổ”.(TCS) 

          Ngày nay ở Sài Gòn, mỗi năm đến ngày giỗ Trịnh Công Sơn, người ta lại tổ chức 1 đêm nhạc tại  Hội quán Hội ngộ ở Bình Quới với nhiều ca sĩ nổi tiếng, đó là chốn đi về của người yêu nhạc Trịnh. 

Thành phố Sài Gòn ồn ào, náo nhiệt nhưng luôn có những quán cà phê tĩnh lặng dành riêng cho nhạc Trịnh, từ những học giả tri thức đến những gã bụi đời, lãng tử, già hay trẻ đều say mê nhạc Trịnh bởi vì ông nói hộ cho con người những âu lo, những vò xé, những thao thức, những đớn đau, những tiếc nuối, những ngỡ ngàng và cả những hoài nghi, những mê đắm... về thân phận con người, về chiến tranh nhân loại, về tình yêu thương gắn bó, về sự tan nát chia xa... ông đi cùng với họ, an ủi, tâm tình bên họ. Có ông cuộc đời như vơi bớt niềm đau, cái chết cũng không còn ghê gớm nữa. Vì ông đã giúp họ hiểu ra sự thật của kiếp người. 

          Khép lại 5 tập ký sự “Trịnh Công Sơn nhẹ gót lãng du” do Đài truyền hình Việt Nam thực hiện, với ekip đạo diễn Nguyễn Đức Đệ, kịch bản và cố vấn Trần Ngọc Trác, quay phim Trần Vũ với tôi là một sự tĩnh lặng trong tâm hồn. 

          Tôi chưa đọc nội dung kịch bản nên không thể đánh giá chính xác. Vì tôi hiểu từ kịch bản đến những thước phim quay dưới con mắt đạo diễn còn là một khoảng cách. Bài viết này chỉ là vài cảm nhận khi xem những thước phim. Ký sự đã phần nào điểm lại một phần đời quan trọng của Trịnh Công Sơn lần theo những địa điểm ông đã đi qua, gặp gỡ những nhân chứng: Nguyễn Đắc Xuân, Thái Kim Lan, Trương Văn Thanh, Trường Sư Phạm Quy Nhơn, Ban Mai, Phạm Ghi chủ quán cà phê Trịnh Công Sơn ở Quy Nhơn, Nguyễn Thanh Tỵ, Cô Ngà trong “Lời buồn thánh” ở Bảo Lộc (13), Phạm Văn Hạng, Trần Viết Ngạc, Cao Thị Quế Hương, Nguyễn Hữu Thái ở Đà Lạt, Nguyệt Mai ở Sài Gòn… Ký sự đã cố gắng cho khán giả thấy một góc nhìn của những nhân chứng, những con người bình thường tình cờ gặp gỡ như người hàng xóm bên gác Trịnh, anh Hải và đôi vợ chồng trẻ mê nhạc Trịnh mở quán cà phê Quán Văn ở Sài Gòn… câu chuyện là những thước phim dung dị đời thường, ekip làm phim đã công phu đi đến nhiều nơi cho ta thấy những mảnh ghép cuộc đời người nhạc sĩ đã đi qua. Tuy nhiên, ký sự chỉ mới đi trên bề mặt của sự việc. Gía như ekip làm phim có thời gian đầu tư hơn nữa để nêu bật hoàn cảnh xã hội Miền Nam lúc bấy giờ, dựng lại bối cảnh chiến tranh, dựng lại không khí sục sôi đầy hào khí của sinh viên học sinh Miền Nam trong phong trào phản chiến, dựng lại Quán Văn ở Sài Gòn bằng những thước phim tư liệu, hình ảnh cũ thì nội dung sẽ thuyết phục hơn. Với tôi, Trịnh Công Sơn chỉ là chứng nhân lịch sử của một thời đại, đừng gán ông đứng về phía bên này hay bên kia. Nhưng không thể không công nhận chính không khí chính trị tự do dân chủ của một Miền Nam Việt Nam ngày đó Trịnh Công Sơn mới có thể sáng tác ra những Ca Khúc Da Vàng làm nên tên tuổi của ông bước ra ngoài biên giới. 

Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ tài hoa của nước Việt mà cuộc đời ông mãi mãi là nguồn cảm hứng cho mọi người sáng tác, tôi tin rằng sau phóng sự này sẽ còn nhiều thước phim khác nói về cuộc đời và những tác phẩm của ông. 

Hình ảnh đôi mắt trong sáng của anh Hải – một gã bụi đời ngày xưa và hai bạn nhỏ (đại diện cho thế hệ trẻ sau này) say sưa đàn hát bên ngôi mộ Trịnh trong một buổi sáng mưa phùn bay lất phất là một hình ảnh đẹp khép lại thiên ký sự, nhạc Trịnh luôn biết cách đi vào trái tim con người như vậy.

Hãy yêu ngày tới dù quá mệt kiếp người

Còn cuộc đời ta cứ vui

Dù vắng bóng ai

Dù vắng bóng ai

Ban Mai

8.11.2020

(Bài viết này lấy cảm hứng từ phim Ký sự “ Trịnh Công Sơn nhẹ gót lãng du” theo cách nhìn của người viết)

---------

Tài liệu tham khảo

(1)Nguyễn Thanh Tỵ - Về một quãng đời của Trịnh Công Sơn, Văn học số đặc biệt tháng 10&11/2001, California, Hoa Kỳ.

(2) Trịnh Công Sơn - Về một thành phố tôi đã xa, trang web: tcs-home-org

(3) Văn xuôi Trịnh Công Sơn (2004), Kiếp sau tôi vẫn là người nghệ sĩ (trả lời phỏng vấn VCH), in trong “Một cõi TCS”, NXB Thuận Hóa.TTVHNNĐT, tr 522.

(4) Đính chính: TCS và Khánh Ly gặp gỡ đầu tiên là tại hộp đêm Tulipe Rouge mà Bửu Ý nhắc là năm 1965. Trong ký sự tập 4 nói TCS và Khánh Ly gặp nhau ở Thương xá Le Tulipe là không đúng vì thương xá này mới xây dựng năm 2003. 2 địa điểm này khác nhau.(https://thanhnien.vn/thoi-su/nhung-sai-pham-o-thuong-xa-la-tulipe-da-lat-195504.html)

(5) Văn xuôi Trịnh Công Sơn (2004), Bài hát đầu tiên bài hát cuối cùng, in trong “Một cõi TCS”, NXB Thuận Hóa,  tr. 180.

(6) Ban Mai – Trịnh Công Sơn vết chân dã tràng – NXB Lao động – Trung tâm văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội 2008

(7) Hoàng Xuân Sơn – Cũng cần có nhau – NXB Nhân Ảnh – Canada 2013

(8)  Đặng Tiến (2001),  “Đời và nhạc Trịnh Công Sơn”, http://www.tcs-home.org

(9),(10) Văn xuôi Trịnh Công Sơn (2004), Kiếp sau tôi vẫn là người nghệ sĩ (trả lời phỏng vấn VCH), in trong “Một cõi TCS”, NXB Thuận Hóa.TTVHNNĐT, tr 529, tr 112.

(11),(12) Bửu Ý (2004),  Một nhạc sĩ thiên tài, NXB Trẻ, tr 27, tr 140.

(13) Đính chính: Theo cô Ngà, người nữ trong ca khúc “Lời buồn Thánh” cô không phải người Thiên chúa giáo mà theo Đạo Phật, hàng ngày cô đi học ngang qua nhà trọ của TCS ở B’Lao, chứ không phải đi lễ nhà thờ như ông Nguyễn Thanh Tỵ viết, TCS đã lấy hình ảnh cô nữ sinh đi ngang qua nhà mỗi buổi chiều làm niềm cảm hứng để viết ca khúc này.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
11 Tháng Bảy 20265:19 CH(Xem: 129)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
11 Tháng Bảy 20262:04 CH(Xem: 190)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 570)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
08 Tháng Bảy 20265:41 CH(Xem: 460)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 549)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1405)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1420)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20264:45 CH(Xem: 1373)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1286)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
26 Tháng Sáu 20263:59 CH(Xem: 1289)
“Là con dân của một đất nước mà lịch sử là một chuỗi tranh đấu không ngừng để được tồn tại, NQ thiết nghĩ “Hội Thề Đông Quan” là một chiến thắng đáng suy ngẫm. Sau 10 năm nếm mật nằm gai, chứng kiến đất nước và dân mình chịu bao tang tóc dưới ách bạo tàn của nhà Minh. Thế mà cha ông chúng ta đã mở đường hiếu sinh cho hàng vạn hàng binh, và còn cấp thuyền, cấp ngựa cho họ trở về nước. Sự bao dung đã biến một chiến thắng quân sự thành khúc khải hoàn của lòng nhân ái và đem lại bình yên cho người dân của đôi bờ bờ cõi.” (Nguyệt Quỳnh)
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10396)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17209)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16251)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16729)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 549)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1420)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1438)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2175)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 129)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 459)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1373)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1230)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 570)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1405)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1286)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
26 Tháng Sáu 20263:59 CH(Xem: 1288)
“Là con dân của một đất nước mà lịch sử là một chuỗi tranh đấu không ngừng để được tồn tại, NQ thiết nghĩ “Hội Thề Đông Quan” là một chiến thắng đáng suy ngẫm. Sau 10 năm nếm mật nằm gai, chứng kiến đất nước và dân mình chịu bao tang tóc dưới ách bạo tàn của nhà Minh. Thế mà cha ông chúng ta đã mở đường hiếu sinh cho hàng vạn hàng binh, và còn cấp thuyền, cấp ngựa cho họ trở về nước. Sự bao dung đã biến một chiến thắng quân sự thành khúc khải hoàn của lòng nhân ái và đem lại bình yên cho người dân của đôi bờ bờ cõi.” (Nguyệt Quỳnh)
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 190)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3019)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2876)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3332)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2095)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13912)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30042)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36096)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11543)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13036)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2803)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 3978)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3961)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4475)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 5008)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8273)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7656)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10604)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.