- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,577,682

Ngô Quốc Phương Những Bài Thơ Tháng Ba

31 Tháng Ba 202111:56 CH(Xem: 1932)
 
THANG BA - photo UL
Tháng Ba - photo UL

ĐÒ

 

Cùng chung một chuyến đò ngang,

Người đà qua cõi, người... dang dở người

 

 

 

VẬY LÀ ANH ĐI

 

Vậy là anh đi rồi,

hay đã thoát?

 

người trước, kẻ sau,

không sau, thì trước

để lại sau lưng thế gian bề bộn

bề bộn với những cảnh người, cảnh đời, cảnh khổ

hay những lẫn lộn sáng tối, buồn vui, hỷ nộ, ái ố

giá có lời nào tả được hết

giá có đời nào thấy hết

 

Cây đàn đứt dây

lạc giữa rừng

niềm an ủi là gió ngàn vi vu

đại ngàn âm sắc

ấy là Bá Nha, Tử Kì bù cho nhau,

tìm nhau

 

Vầng trời nào anh đã vụt qua

hay chưa vượt qua

hay đã đi bằng lối của anh

giờ có còn quan trọng

lời nào anh để lại

khóc, cười

có còn ý nghĩa

kể cả có khi phải làm màu

diễn kịch

đóng vai?

 

Ôi những vinh hoa, phù phiếm

những mượn danh, giả danh, phiếm danh

thói đời đội thịnh, đạp suy

ôi những giả dối, diễn tuồng

nộ nạt

nịnh xu

 

Nhưng còn bài học nào anh để lại

để phủ định chính mình

để các thần tượng tự chặt chân, bẻ tay

vẽ mặt nhọ

để nhắc nhở rằng này hỡi

có thần tượng, có khi là đau khổ

thờ thần tượng có khi là yếu đuối

khi không dám làm chính mình

khi không dám tự tin

 

Ôi vùng trời*, người bay**, trời mây

ôi kiếp đời

kiếp người

 

chỉ có gió cứ vi vu

chỉ có đàn không dây cứ tấu lên hoan hỉ

hay âm ỉ,

thủ thỉ, thở than,

hay cất thành lời ru cho con trẻ sơ sinh bén giấc

để đôi mắt thơ ngây

thành đẹp nhất đời này!

 

(Tiễn một người đi trước hay hãy còn?)

*"Vùng trời nào đó, anh đã bay qua" (Hát cho Người nằm xuống, Trịnh Công Sơn)

** "Tôi khóc những chân trời không có người bay, lại khóc những người bay không có chân trời" (Thơ mini, Trần Dần)

 

 

ĐỪNG TƯỞNG

 

Này kẻ kia,

đừng tưởng mọi người lạ chi trò diễn của các người

có gì mới đâu

đống thối hoắc

toàn là tranh đoạt, chiếm giật

giữ chặt, bấu nát

miệng loe ra

tuyên truyền, bịp bợm

dao trong đầu

đạn trong mắt

súng ống sau lưng

 

này kẻ kia

kẻ không có tim

tưởng mọi người bị ngươi lừa được ư

không, không có chuyện đó

cũng như ngươi chẳng tự lừa mình để nghĩ rằng mọi người tin ngươi, theo ngươi

theo vì ngươi vung dao, dí súng

im vì ngươi có bạo quyền, bạo lực buộc bắt mà thôi

 

nhưng ngươi sẽ trụ được bao lâu?

một thế kỷ nữa?

được không?

chắc không?

 

không chắc chứ gì?

nhưng miệng ngươi cứ cười

cái cười của bạo chúa

giết người trong nháy mắt

dù vừa cười với người ta đấy

vừa nắm tay người ta lắc lắc đấy

tất cả diễn giỏi lắm

nhưng cũng dở lắm

vì trò chơi của bạo chúa, bá đạo bao giờ là cao thượng được đâu

 

này gã tham

không biết tri túc, tri chỉ

cái túi tham quyền lực không đáy

muốn vơ vét khắp thế gian

đến tuổi nào rồi mà vẫn chưa thôi những lời bịp bợm

những trò dối trá, cờ lận, bạc gian?

 

đống lý luận kia, cũng là thứ dỏm, giả

như chính kẻ giả vờ dùng nó

rác dùng rác

bịp dùng bịp

bợm dùng bợm

chỉ súng đạn, máu và tiền của cướp được là thật

vậy thôi

 

nào, nói thế rồi mà vẫn thèm nữa ư

vậy hãy đớp hít nốt đi

cả bè lũ nhà ngươi nữa

hãy xông vào đi

chán

mớ

đời!

 

  

CÓ NHỮNG … VÀ NHƯ…

 

Có những người đi hết một hành trình, có những người như chẳng đi đâu cả, như chẳng được sinh ra, tác thành, và có những người như chẳng về đâu, đến đâu, qua đâu... Ấy là không gian, lại kèm ý tưởng, thứ mông lung, khó sờ, khó nắm, hay gợi vui,  gợi buồn, hay làm dở khóc, dở cười, hay gợi bàn tay giơ lên nhất tâm đắc ý, hoặc tạo nguồn cơn cãi cọ, luận bàn, hoặc âm thầm vô ngôn, chẳng bình, chẳng luận... Nhưng cũng gồm cả thời gian, âu cũng là thứ được đặt ra, tưởng tượng hay cảm nhận bởi ai đó, nhưng  lại là điều đấng nào bởi đâu tùy duyên sáng tạo... Lại nữa, chuyện tự do hay tù túng, có phải đã nói thành lời, như chữ Đạo, là đã đối đãi, mất hay, kém vui, thất ngôn, vô nghĩa... Song thứ giả có, hay thứ giả không, hay cả khởi đầu của ý tưởng đặt lời, đối  đãi, đều nhị nguyên tồn tại, rồi lại nhất nguyên, rồi lại phân chia, rồi lại tương hợp... Chỉ biết một chiều kia, trong khung cửa vô chiều, hay ngoài song cửa hữu chiều, là ai đó thả hồn thơ, là ai đó vung cọ, rồi ai đó cầm cây đũa thần hướng về miền ngũ âm

 kỳ ảo, và nữa, và nữa, và nữa... như cỏ cây, như không khí, như nước chảy, như mây trôi, như mùa màng, vũ trụ, như chính bởi là... như

 

 

ĐOÁI GỌI

 

Em về miền vô tư, cho anh đoái gọi,

nhưng em cứ đi, xin đừng ngoái,

để tiếng gọi anh đặng theo,

để đừng nhận mà nhận,

đừng thương mà thương

đừng nghe mà nghe...

 

Đêm, những mộng mị có khi như bão lũ,

có khi như cáo cú

chắp vá, hư ảo, thị phi

với chính mình

 

Đêm tàn, ngày sang, hoa nở, chim bay

em đà đi,

anh đà say

đời loay hoay

góc đường, cuối phố

bụi phù vân

che lấp biển thời gian...

 

 

Mai rồi mai

em về miền đất hứa

anh loay hoay học đạo

bởi ngộ độc trong miền tăm tối

làm mờ mắt, thất thân thời bấn loạn

 

khi ấy nhớ lời em

tay khẽ đặt lên tim

nghe nhịp đập

nơi mình

nơi cô tịch gọi tên.

 

 

Ngô Quốc Phương, Kent, Anh quốc, 23-27/3/2021

 

(Những ngày tháng trên con đường dài, đượm buồn, đượm bụi...)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 994)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1070)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1779)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5807)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5797)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13156)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 29999)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81098)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20217)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
14 Tháng Chín 20218:20 CH(Xem: 314)
Tay Giắng quờ quạng vơ vào ngực áo chị, miệng khô khốc nhóp nhép như bé con đòi bú. Giắng nhắm nghiền mắt thều thào: “nước ước…”. Chị nhìn quanh, cả phòng chả có cái gì gọi là nước. Cái xô nhựa đựng nước nấu ăn cũng khô rang lăn lóc góc phòng. Chị tắc lưỡi vén áo lên, kề bầu ngực căng mọng sữa vào miệng Giắng bóp nhẹ. Một tia sữa trắng thơm nức phun xuống đôi môi khô nứt. Giắng nhóp nhép nuốt. Rồi nuốt ừng ực. Chị áp cả bầu vú vào miệng Giắng. Nắn. Hết bầu này sang bầu kia. Giắng vẫn nhắm nghiền mắt nuốt. Khuôn mặt dần hồng lên. Chị nhìn xuống, mãn nguyện… / Giắng mở mắt ra. Nhìn. Hồi lâu. Bỗng òa khóc, ôm chầm lấy chị nức nở: “Chị ơiiiiii…”