- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,577,732

ĐẾN MỘT LÚC NÀO ĐÓ

24 Tháng Mười Hai 201812:39 SA(Xem: 8311)

nk 9
tranh Nguyễn Khai



QUÊN

Nhiều thứ chạy qua trước mắt
cô chủ nhỏ dắt con chó nhỏ bướng bỉnh bên vạt cỏ
kẻ li hương cầu thực nôn nao lạ
rũ mát một tâm hồn

 

gặp nó lúc còn rất bé
giờ chống cự không lại
vô định bí ẩn

muỗi

 

say đắm một con trâu
triệu năm nào có cái gì 
làm một đám cỏ cho mi ăn liền.

 

NGỒI IM NGHE DỰ BÁO

 

Nơi đây
chiều nay lượng mưa hai mi li
nhan sắc cười mỉm
phai chút chẳng sao

 

thực ra đời đang nung đốt
ít kẻ can đảm
nhúng tay vào
nghe ngóng cho vui

 

bên lề
tiền vàng mả tự cháy
hồn về giữa nắng
mang đi

 

siêu bụi nhiệt điện rãi khắp miền nam mang về từ trung cộng
không chết già mà chết vì ung thư
bên vách nhà

 

tiết chế vô cảm
chờ họp
đi thăm làm việc và hợp tác
mãi bắt tay

 

thôi
dự báo
chiều nay lượng mưa hai mi li.

 

 

KHÔNG HỒI ĐÁP

 

Hạt mưa cuối cùng sót lại
êm ã bỏ rơi thanh âm
lấp mất mùa vàng xao xác

 

lửng lơ sợi khói cuối trời
ta nghe tiếng ngày gãy rụng
buồn đau còn đọng mắt người

 

ý tưởng quên mình chớp lóe
tuyệt vọng sao mãi lung lay
dưới đống hoang tàn đổ nát

 

tìm ai nhặt dấu chân trần
của người vẫn chưa mười tám
tóc xanh bỗng đổi tóc màu

 

mộng trang hoàng trưa đến
mầm xuân ngủ mãi trên môi
đời say trời luôn mau tối

 

tình ta có gì đáng nhớ
mãi không đồng vọng thề hồi.

 

ĐẾN MỘT LÚC NÀO ĐÓ

 

Ngươi không chạy kịp nữa
thời gian nói
lặng nghe 
rồi chim bỏ đi đâu mất
lần mò vào núi thanh âm

 

ta ăn không nổi trái ớt
cay độc đầy tràn tim gan
vô hình đột nhiên sờ thấy
vẹn nguyên để hạt gieo trồng

 

suối nguồn đầu ta cũng cạn
lệ khô máu cũng lạnh tanh
chắc cần lá khô châm lửa
tự nhiên hôn phối cho mình

 

giờ ta chống cự cái chết
nên phải nhuộm tóc cạo râu
sao mình không thả lỏng
thì ra muốn đẹp mắt trời.

 

 

CÂY

 

Trong hơi thở cây gặp lại tôi năm mươi năm trước
quanh quanh mê man thẳm xa
thật gần trong hiện hữu
mơ sâu

 

ta không thể lê gốc rễ đi thăm anh
thuở bám mòn thân ta
hiền hòa

 

ném trái cho anh trên ấy
chắc chiu chút nhựa cỗi cằn
quên hương

 

không cần gặp gỡ nhau
nghe thấy hơi thở anh
có cơn đau ở ngực
thì phải?

 

TRONG LÚC RƠI

 

Rực rỡ sẵn sàng
hương ngọt ngào kiếp trước
sự cho

 

cú phóng không chướng ngại
đám ấy cán lên nhau nát bấy
tiêu diệt tư duy độc
truyền 
xuống
thế hệ

 

mặt đất không còn bình minh
về nơi sanh ra
ai có ánh sáng
cho xin

 

xác hoa dính trên bàn chân
hình như hơi thở người chết.

 

RẤT LÂU KHÔNG ĐẾN VỚI NHAU

 

Dường mọi ngả đường bị lấp san bí lối
lí trí hỏi con tim mỏi mòn thinh lặng
mạch máu chẳng đập về nhau
cái đẹp xóa đi vĩnh viễn

 

dường mùi hương cây lá thuở ấy đã già 
mãi mãi
đón nhận trong cõi sống
chôn sâu chúng ta
héo hắt không bao giờ đến bình minh.

 

RỖNG

 

Mặt mãi nghe rền vang vực lửa
giọng gió lời chuông rộng
sa mạc thời cúi xuống
giả cháy

 

còi cấp cứu lao lại
trả người nhà
xác chết

 

không ai hiểu lúc sống
vây quanh
xem hạ huyệt

 

bên ngoài túi
chân không.

 

GỌI

 

Thẳng đứng vực âm chiều thanh sâu ý nghĩ
xác xơ chân đá sỏi
ngực triều va đập
ném bóng núi đỉnh không nhìn thấy
miền trôi trời ấm mắt huyền không
vạn cuộc người qua đi sông một mình ngồi lại
đơn chiếc cái nhìn gọi sóng mồi côi

vòng tình xuất lá non bi kịch bướm
vườn người xa ngơ ngác lá về
nát rách bóng tán từ viền kịch tính
lửa cao dâng đâu vào trú trong mình

tiếng gọi vô hình từ mẻ lưới vô thinh
khói tẩy đồng vướng víu
nướng tiếng chim thơm phức bóng người
hạt lúa sót ngọt đau từ vụ trước

nước lên mưa xuống bám gót chân trời
cánh đồng hụp dưới chân người thành phố
no đói thật gần
nỗi nhớ thì xa

gối đầu lên áng mây qua
sọat chân ngoài cõi ta bà lắng nghe…

Nguyễn Đăng Khương

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 994)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1070)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1779)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5814)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5799)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13158)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30002)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81104)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20217)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
14 Tháng Chín 20218:20 CH(Xem: 323)
Tay Giắng quờ quạng vơ vào ngực áo chị, miệng khô khốc nhóp nhép như bé con đòi bú. Giắng nhắm nghiền mắt thều thào: “nước ước…”. Chị nhìn quanh, cả phòng chả có cái gì gọi là nước. Cái xô nhựa đựng nước nấu ăn cũng khô rang lăn lóc góc phòng. Chị tắc lưỡi vén áo lên, kề bầu ngực căng mọng sữa vào miệng Giắng bóp nhẹ. Một tia sữa trắng thơm nức phun xuống đôi môi khô nứt. Giắng nhóp nhép nuốt. Rồi nuốt ừng ực. Chị áp cả bầu vú vào miệng Giắng. Nắn. Hết bầu này sang bầu kia. Giắng vẫn nhắm nghiền mắt nuốt. Khuôn mặt dần hồng lên. Chị nhìn xuống, mãn nguyện… / Giắng mở mắt ra. Nhìn. Hồi lâu. Bỗng òa khóc, ôm chầm lấy chị nức nở: “Chị ơiiiiii…”