- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,585,643

Buôn Làng Buồn, Nướng Vị Giác

02 Tháng Mười Một 201412:01 SA(Xem: 18535)


AnhMat-NguyenHoangNam
Ánh Mắt / ành Nguyễn Hoàng Nam



LTS: Nguyễn Hoàng Anh Thư ngoài làm thơ, còn viết một số truyện ngắn. Thư giới thiệu hai truyện gởi đến Hợp Lưu như sau: " Buôn Làng buồn" đó là men say, thứ men say buồn của núi rừng và đầy sự cảm nghiệm thú vị. "Nướng vị giác" sẽ khiến bạn có cảm giác như cô ấy đang nhai, đang nghiền từng con chữ. Có một điều gì đó như đang nếm, đang trải qua những cảm giác từ thế giới của truyện”. Tuy nhiên, khi đọc chúng tôi có cảm tưởng như đang xem những bức tranh xã hội thật u tối và phiền muộn …Chúng tôi mời quí văn hữu và bạn đọc cùng đi vào không gian truyện của Nguyễn Hoàng Anh Thư.

Tạp Chí Hợp Lưu

 

 

BUÔN LÀNG BUỒN
 

Tôi đã ghé qua một buôn làng đang phiền muộn. Buôn làng này nằm trên rẻo cao của một thị trấn nhỏ. Tất cả gần 100 hộ dân. Điều đặc biệt là họ không mang nỗi buồn theo trong giờ lên rẫy, trong các cuộc hội hè và cả trong giấc ngủ. Chỉ đôi khi có vài đôi mắt trũng sâu không chứa điều gì ở trong đó. Những đôi mắt đen nhánh, đen và to như mắt của trâu rừng. Những đôi mắt tròn xoe cười như nắng khi mặt trời vừa lên. Những nụ cười cũng tròn xoe lấp lánh trắng dưới đôi mắt và làn da đem nhẻm.

Tối nay, câu chuyện của già làng tạm gác lại trong tiếng tù và còn váng vất trên ngọn men. Những hũ rượu đã vơi và những đôi mắt lim dim. Những câu chuyện già làng kể đi kể lại. Những bài hát được hát đi hát lại. Những con người ngồi đấy choàng lên nhau giữa màng đêm những sọc xanh đỏ vàng của những mảnh trang phục thổ cẩm đã thẫm màu. Mùa hè năm nay sông trông buồn rũ rượi, cây cối trong nhà héo úa hết cả. Những bông hoa trắng rã rượi trên vùng núi xứ nhiệt đới này. Hình như tất cả đã hẹn nhau đi xem lễ hội gió mây, ở trên núi ấy. Họ đã đi qua và mắt không nhìn thấy những hạt sương đang xâu chuỗi trên lưới nhện. Họ lướt qua cánh rừng tràm, ở đó nghe nói đang có trận mưa máu.

Một buổi sáng mùa hè trên núi, trong văng vắt.

Đã có rất nhiều tiếng khóc. Họ đang khóc trâu. Một cụ già đang trùm chiếc khăn kín mít gần cả khuôn mặt và một cậu bé đen nhẻm đang dắt trâu đi. Cậu bé có đôi mắt thật đen của núi rừng. Hôm nay cả làng dậy từ sáng sớm để khóc trâu. Con trâu không biết khóc. Đôi mắt của nó lúc nào cũng buồn buồn mơ mơ dại dại giữa núi rừng. Họ thương trâu và tiễn trâu về với giàng. Giàng sẽ cho họ mùa màng bội thu.

Gió sáng sớm lùa trên chóp núi đìu hiu lành lạnh. Tiếng phèng la, tiếng chiêng tiếng trống đã bắt đầu động đậy. Họ chuẩn bị cúng giàng.

Họ cùng quàng tay vào nhau mà đi hứng mưa.

-ọ..ọ…ọ…ọ…tiếng trâu kêu

Họ đi vây tròn. Họ chạy vây tròn. Núi rừng vây tròn. Con trâu đứng ở giữa, ngơ ngác nhìn. Nó không nghe được tiếng người ta hò hét, cả tiếng chiêng tiếng trống đang khuấy sâu vào tận lòng núi. Nó nghe tiếng nứt, núi đang đổ nhào về phía nó. Nó giựt mạnh, sợi dây thừng kéo cái mũi, mũi nó sắp đứt, cái cột đã được người ta đóng bằng bê tông chôn sâu xuống. Những trận mưa lao đang đâm vào nó. Núi đang gần ngã nhào. Những tiếng hò reo đang đâm vào mắt nó. Đùi nó đang bị xả. Tiếp tục mưa lao...bắt đầu một trận mưa máu. Lưng nó đang bị xả. Mưa máu. Người ta hò reo, chiêng trống hò reo, người người đang ngồi trên khán đài bật dậy hò reo. Người ta ngửa cổ uống mưa. Nó thật ngọt. Đám trẻ con cười ngất như đang lên cơn hoang dại của núi rừng. Bốn vó chân trâu đẫm máu. Con trâu đang hứng trận mưa máu. Nó gắng sức chạy vầy quanh. Người vẫn chạy theo vây quanh. Đôi mắt nó gần rớt ra. Nó không còn thấy gì cả. Cả cặp sừng đang bị băm ra. Người ta ngửa cổ hứng máu. Hò reo và cười ngất giữa núi rừng vây quanh.

Và họ đã đi vòng quanh nhau, cùng uống mưa máu. Nó ngọt ngào và lên men rượu máu. Họ tu ừng ực cho đã cơn khát. Họ bảo nhau: “Uống đi”, như người ta uống rượu rắn ấy, những con rắn đang cuộn tròn vào nhau, chúng đang lên men.

-ự..ự…ự…tiếng ngưười vừa nhảy vừa phóng lao

-ự..ự..ự…tiếng trâu đang rên

Phía bên kia, những người khác đã đốt những cụm lửa thật to. Họ chuẩn bị thiêu.

-ọ..ọ…

Con trâu đang thoi thóp chờ giàng đưa về trời. Đôi mắt nó lờ đờ không chịu nhắm nghiền lại. Đôi mắt to và đen thật hiền. Đến khi sắp chết cũng thật hiền. Người ta đang khiêng nó lên.

Cụm lửa bùng lên chờ đợi, bên dãy núi đang nghiêng.

Mặt trời nhuốm đỏ máu. Rừng nhuốm đỏ máu. Một trận mưa máu đã được uống cạn. Con trâu nằm vật xuống giữa một vòng người vẫn đang còn vòng quanh. Trước mắt nó là một thảm cỏ đỏ màu máu. Những ngọn cỏ đang đâm ra từ những lá sách. Chúng mọc băm quanh thân, phủ lên màu bùn đỏ.

Lửa đã bắt đầu, có mấy cái nồi to đặt trên ngọn lửa lớn đang sôi sùng sục. Họ băm nhỏ ruột, gan, lá lách… và từng mảng thịt trâu cho vào đấy. Họ bỏ vào cả những loại lá rừng. Họ đang nấu món tả pín lù. Khói bốc nghi ngút.

Họ ăn xì xoạp, họ tu rượu ừng ực. Những đôi mắt đen tròn xoe nhìn nhau rất hiền tựa mắt trâu. Họ hát và cười vang. Họ gõ chiêng, gõ phèng la và chạy vòng tròn quanh ngọn lửa. Những đôi chân đất, những mái tóc bện rối với sương rừng.

Họ cùng quang vai vào nhau, quàng vai vào núi , chúc tụng nhau. Họ lảo đảo ngả nghiêng. Núi cũng lảo đảo ngả nghiêng.

 

***

Ngày hôm sau, họ chuẩn bị tiếp các món ăn chế biến từ cá: cá gói lá rừng vùi tro, cá nướng, lạp cá, gỏi cá, cá nướng ống, mắm cá; các loại côn trùng nhuyễn thể: ếch, nhái, con sùng, mối, con dế, kiến chua, kiến thơm, kiến đỏ, nhộng ong. Trong những buổi hội làng, họ thường chuẩn bị thật nhiều. Phần thịt của con trâu được chia làm rất nhiều món: thịt nướng tươi, nướng khô,nướng bằng ống tre, xào, lạp thịt, và có rất nhiều loại nấm thật lạ. Những bình rượu cũng độc đáo từ hương vị, đó là những bí mật của rễ cây rừng lên men. Họ chuẩn bị cúng giàng. Họ cúng và cầu nguyện.

 

Họ kể, ngôi làng này như đang bị ma ám. Nhiều người đã ra đi rất bí ẩn. Sự bí ẩn không thể lý giải được khi mà con ma cứ cướp đi thật bất ngờ. Có một gia đình vừa trải qua những ngày buồn đau tột độ khi 2 người con chết chỉ trong vòng 9 ngày. Mới tháng 2 vừa rồi chứ có xa xôi gì, một gia đình đã lần lượt mất đi đứa con gái hơn 20 tuổi và đứa con trai thua chị hai tuổi. Đứa con gái ốm yếu vì bệnh gan chết thì không nói, đứa con trai đang thật mạnh khỏe lại chết thật đột ngột khi đang cày rẫy. Họ kể về nhiều người đang khỏe mạnh, ngày ngày xuống suối bắt cá, lên nương làm rẫy bỗng đổ bệnh rồi mất, phần lớn dưới tuổi 40. Chỉ còn lại những tấm thân mòn mỏi của người già ở lại. Ngày ngày họ ngồi bệt ở bậu cửa và ngước nhìn một nơi rất xa xăm.

Ai ? ai đã lấy đi những đứa con của họ? Dòng sông ngoài kia vẫn chảy, nhưng mùa hè này thật cạn, nó đang trơ dần lớp đáy màu đỏ úa và vô vàn lớp lá rửa mục. Họ vẫn uống nước ở dòng sông này. Nghe nói phía thượng nguồn con sông đang bị cắt bởi những công trình gì đấy. Người ta chắn đập, người ta làm đường gì đó. Bây giờ không còn một con cá dưới sông. Những con suối cũng đã đục một màu đỏ ối, bị khoét bởi những con đường nhựa dang dở. Người ta phải vào tận rừng sâu mới bắt được những con cá trên nguồn.

Bữa tiệc cúng giàng đến ba ngày.

Mình sông đã nghe tiếng rắc. Chúng đang khô và vặn mình qua những ngọn núi rũ ngọn.

 

Họ đã ngưng tiếng phèn la và đã rủ nhau ra về. Còn lại những tán nhà trống hoác, vắng lặng và mùi men rượu chua ủ nồng trên những chiếc chiếu bẩn thỉu. Tôi đi qua một dải gồ ghề, hoang dã bao phủ bởi rừng với những tán tre mọc dày đặc cộng vởi cỏ voi cao ngang thắt lưng. Tôi thấy già làng đang đứng đó một mình khấn vái. Tiếng lầm rầm. Ông ngước mặt lên trời, trước tượng giàng được làm bằng gỗ với những nhát đục đẽo thô sơ. Tôi thấy hai hốc mắt của tượng gỗ như đang nhấp nháy dưới ánh chiều còn sót lại lờ mờ. Một bệ gỗ, trên đấy người ta đặt gà, xôi, cá, thịt, tất cả đều bọc trong những gói lá.

*** 

Tôi  đã thấy tất cả mọi thứ trong màu đen bởi mặt trời ở đây lặn sớm vào buổi sáng. Bức tượng kia thật là đối xứng hoàn hảo: đôi mắt, đôi vú, đôi tay, đôi chân trên một cái cọc gỗ. Tôi nhìn thấy những bông hoa ở đây mọc thẳng đứng, những ngọn núi được cắt đồng đều nhau và một dòng sông không bao giờ đổ. Họ bảo, đó là ý nguyện của giàng, giàng muốn thế. Mọi thứ cần phải hoàn hảo trong một trục đối xứng thật cân bằng. Họ dâng lên giàng tất cả, chỉ cầu xin giàng đừng lấy đi sinh mạng những đức con của họ. Nhưng rồi, dòng sông đã cạn khô, những tiếng thở dài và vặn mình. Nghe tiếng “ rắc”. Chúng đang vỡ vụn ra từ đáy sông. Dòng sông đang chảy ngược về trời. Họ khấn nguyện. Họ sẽ băng rừng vượt suối tìm cái để cúng giàng. Những con trâu đang còn nằm đó chờ họ khóc. Họ lại được nếm món tả pín lù đầy mê hoặc trong tiếng cồng chiêng gọi hồn về núi.

 

Nguyễn Hoàng Anh Thư

 



NƯỚNG VỊ GIÁC

 


Cô muốn ăn một con cà cuống đực nguyên con. Cô yêu cầu chủ quán. Những người bếp lật đật lục tung những ngăn tủ đá để tìm. Họ thấy toàn là những con cà cuống cái. Họ soi thật kĩ từng con. Đây là quán ăn rất nổi tiếng và uy tín của một người chủ quán gốc Hoa. Đó là một ngôi nhà xanh thật thoáng đãng, trước mặt vẫn giữ nguyên phong cảnh hoang sơ của làng quê.
Hôm qua cô đọc một cuốn sách, người ta đã viết rất liêu trai con chữ.Tục truyền rằng Triệu Đà là người đầu tiên ở nước ta ăn cơm với con cà cuống. Thấy thơm một cách lạ lùng, ông ta gửi dâng vua Hán một mớ và gọi là quế đố nghĩa là con sâu cây quế. Vua Hán nếm thử thì nhận rằng nó giống mùi quế thực, khen ngon và phân phát cho quần thần mỗi người một con. Bất ngờ, trong đám có một ông lắm chuyện lại tâu rằng: "Đó không phải là con sâu sống trong cây quế (quế đố), mà chỉ là một con sâu sống dưới nước" (thủy đố). Vua mới phán rằng: "Thử nãi Đà chi cuống dã" (Đó là lời nói láo của Đà). Dần dần chữ Đà Cuống đọc chệch ra thành Cà Cuống. Nó còn có một tên nữa là long sắt nghĩa là "rận rồng" "( Thương nhớ mười hai, Vũ Bằng). Cô muốn nếm bằng vị giác của những điều đó.
Cô ngồi chờ, đã mấy tiếng đồng hồ người ta vẫn chưa kiếm ra một con cà cuống đực. Họ đang lúi húi trong bếp. Tất tả. Những giọt mồ hôi rơi xuống bếp than lèo xèo. Họ tìm trong những cái chảo họ đã nấu.
- Đôi lúc nó núp trong ấy đấy, vừa mới thấy nó đây thôi - cô nghe tiếng họ nói.
Cô nghe thấy tiếng nó lúc nhúc, ở ngoài kia, phía sau nhà thải của khu bếp. Cô thấy nó cắn nhau chí chóe, nhìn xa như một lũ rận. 
Cô lôi cuốn sách ra đọc : "Cà cuống có thể sống trên bờ hoặc nơi hồ, ao, đầm hay các ruộng lúa nước. Chúng có thể bơi lội nhờ các đôi chân bè, kẹp chặt mồi nhờ các móng nhọn. Tuy bay không khỏe nhưng về đêm, cà cuống có thể bay từ dưới ruộng lúa lên bờ đến những nơi có ánh đèn điện vì chúng rất nhạy cảm với kích thích của ánh sáng điện. Cà cuống rất háu ăn, chúng tấn công và hút máu của nhiều động vật thủy sinh như: tôm, tép, trai, nòng nọc, nhái, cá con v.v... . Ở Singapore, fwai fa shim im là một món cà cuống được ưa chuộng. Người Thái Lan gọi cà cuống là mangda. Họ trộn nhuyễn toàn cơ thể, có khi vứt bỏ mắt, cánh và những bộ phận xơ cứng, với hành, kiệu, ớt, đường, thêm vào nước chanh, nước mắm thành một thứ bột nhão gọi là nam prik mangda để ăn với cơm hay rau .Còn người Trung Quốc ăn cà cuống theo kiểu luộc thêm một chút muối ở Quảng Châu, hoặc xào trong dầu mè ở Bắc Kinh "
Cô muốn nếm chúng ngay, nhưng phải là con đực, con cái không có tinh dầu. Cô muốn nếm trực tiếp không qua một món chế biến nào từ nó.
- "Bọng tinh dầu ở gáy cà cuống đực, thoang thoảng mùi hương quế rất khó tả, là gia vị quý giá được pha chế vào nước mắm, không thể thiếu trong các món ăn truyền thống như bún chả, bún thang, chả cá, bánh cuốn, và chính nó làm cho các món ăn nói trên có hương vị nổi tiếng của nghệ thuật ẩm thực Hà Nội truyền thống" - cô đọc tiếp - Cà cuống đi vào ẩm thực tự bao giờ thì không ai biết nhưng khi nhắc đến những món ăn được ưa chuộng như: bún thang ,chả cá, bánh cuốn, bún chả, bún nem, bánh dày thì bí quyết để làm cho món ăn này ngon và thơm đó chính là cho thêm một vài miếng cà cuống tự nhiên cắt nhỏ vào thì lập tức hương vị của món ăn đó dậy mùi thơm đến độ tuyệt vời, khó quên và rất đặc trưng cho món ăn đó. Dùng đầu nhọn của que tre hay mũi dao rạch một đường ngang ở vị trí giữa đôi chân thứ ba. Gấp bụng cà cuống xuống để bộc lộ hai túi tinh dầu, đây chính là phần tinh túy nhất trong con cà cuống. Dùng kẹp khẽ gắp túi và rút ra một cách nhẹ nhàng (tránh làm rách túi), rồi chích túi cho tinh dầu chảy vào lọ khô, sạch, đậy kín. Nếu đựng trong lọ có nút mài thì có thể bảo quản được rất lâu". 
Cô đọc mải miết, người ta vẫn chưa tìm ra con cà cuống đực nguyên con cho cô. Cô muốn món nướng. Cô ngửi thấy mùi tinh dầu Cà cuống nướng thơm phức. Hình như trong cái bếp kia. Nó nằm dưới ngọn lửa ga ấy. 
Cô lại nghe tiếng lúc nhúc, cảm giác nhồn nhột trên từng đốt sống. Chúng đang bò. 
- Đợi đến khi nào đây, thưa ông - cô lên tiếng hỏi vọng vào.
Chủ quán lật đật đi ra. Cô thấy mồ hôi lão nhẫy nhụa, có cái mùi thoang thoảng của tinh dầu quế. 
- Xin cô cho chúng tôi ngày mai, ở chỗ chúng tôi luôn có những loại đặc sản như thế này, đã uy tín mấy chục năm nay, hôm nay chúng tôi sơ sẩy đã để chúng bò đi mất, có lẽ người bếp đã quên buộc miệng cái túi. 
Nhìn ngoài kia, ngoài cái hồ nước, cô thấy một con cò nước khá lớn nằm gục trên bờ do bị một con cà cuống lớn hút cạn máu. 
Cô có cảm giác mằn mặn tanh tanh của vị tinh dầu trôi qua cổ.
- Cảm ơn ông, cô gắng gượng nói, tôi đã thưởng thức vị đó nãy giờ, tôi thấy trên đôi cánh chúng ông đã không tẩy sạch mùi từ ống cống. 

Tối hôm ấy cô vẫn muốn thử lại mùi tinh dầu nướng trong trang sách. Lần này cô ngửi nó có màu nâu huyết dụ như cánh gián. Chúng lúc nhúc trong cuống họng cô. Cô có cảm giác buồn nôn.
Sáng sớm, vị bác sĩ khám cho cô nói :
- Cô bị rối loạn vị giác, có lẽ nó liên quan đến đường tiêu hóa, cô qua phòng siêu âm đợi tôi.
Bác sĩ siêu âm cho cô, quái lạ, trong cái dạ dày của cô đầy những con chữ bò lúc nhúc như những con gián, chúng vẫn còn nguyên con, chưa kịp tiêu hóa. 

 

NGUYỄN HOÀNG ANH THƯ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ý kiến bạn đọc
06 Tháng Mười Một 201412:08 SA
Khách
bạn đã nhận ra Từ Sâm , là câu chuyện của con người hiện đại
02 Tháng Mười Một 20146:19 CH
Khách
Buôn Làng Buồn phác họa tương đối thành công một thế giới siêu thực. Sở dĩ chỉ là tương đối vì trong không gian ma mị ấy còn sót lại 03 dấu vết của con người hiện đại: Khán đài, chiếc nồi to và Tôi.
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1585)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1630)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 2306)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 6328)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 6190)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13569)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30694)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81717)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20525)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
10 Tháng Mười 202111:31 CH(Xem: 397)
Sau khi đưa một cảm ngôn về bức tranh của họa sĩ Lê Sa Long & ý kiến của nhà văn Trần Thùy Linh như một lời kêu gọi các nhà điêu khắc, họa sĩ, nhà văn, nhạc sĩ hôm nay: “DỰNG TƯỢNG ĐÀI NÀY ĐI: CUỘC “THIÊN DI” CỦA NHỮNG ĐỨA TRẺ VÀ BÀ MẸ CHƯA TỪNG CÓ TRONG LỊCH SỬ…”, nhằm góp phần miêu tả “nhân vật chính của Thời Đại, biểu tượng cho cả một dân tộc vượt lên cảnh ngộ bi kịch tìm lối thoát cho quyền sống của mình”, rất nhiều người đã ủng hộ. Nhưng cũng có không ít người lồng lên phản đối như bị “chạm nọc”, thậm chí chửi bới rất tục tĩu (xin lỗi không viết ra vì xấu hổ thay cho họ). Để trả lời họ, với tư cách là một người làm phim, tôi xin có vài suy ngẫm về NHÂN VẬT THỜI ĐẠI giúp họ tham khảo.