- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Truyện Ngắn: Dòng Sông Hủi

25 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 127635)
dongsonghui

ĐỖ HOÀNG DIỆU

LTS: Sau Bóng Đè, Dòng Sông Hủi là truyện ngắn mới nhất của Đỗ Hoàng Diệu được viết với một thông điệp mạnh mẽ hiếm thấy. Không ẩn dụ bí hiểm, nhưng bạch hoá khả năng tẩy xoá ký ức cá nhân của hệ thống chỉ bất lực trước ánh trăng của toàn nhân loại. Lấy bối cảnh xung khắc giữa thiên nhiên với đô thị, Dòng Sông Hủi đặt câu hỏi về chứng bệnh nan y của xã hội, có thật vô phương cứu chữa?

Chồng tôi hành nghề kỳ quặc: Kiểm tra trí nhớ của con người. Lấy anh tôi mới khám phá, anh thường xuyên theo dõi những giấc mơ của mình. "Em có thai phải không?" Sau tháng đầu tiên Công đã dọ hỏi. Tôi lắc đầu tươi tỉnh. Giấc mơ đêm khuya còn sáng hồng bụ bẫm bắp chân hài nhi. Tôi biết chắc tôi chưa có mang, nhưng làm sao Công biết tôi đã nằm mơ thấy đứa trẻ? Sáu tháng hạnh phúc trôi qua như gió hắt mặt hồ.

Sau này, mỗi lần nghe tiếng còi xe cấp cứu, tôi lại rùng mình nhớ tới vẻ mặt khủng khiếp của Công. Buổi chiều nước hồ Gươm áp sát các gốc sấu, Công bước thẳng vào nhà. Đôi mắt Công nhỏ nhưng ngầu lửa, quét lên tấm hình cưới. Cô dâu trong hình giương vầng trán ngây thơ hãy còn khóc e thẹn cúi nhìn xuống phòng khách. Nơi ấy, tôi đứng run rẩy sau lần váy ngủ. Công vẫn quét lửa lên tấm hình cưới, hai bàn tay day day vào nhau tính toán. Rồi bất thần, anh xô ngã tôi xuống thảm. Trước khi tôi kịp ngẩng đầu lên, chiếc váy đã bị bàn tay lạnh lẽo kéo hất. Công lột quần lót vợ tỉ mỉ, nhướng mắt soi mói sợi chỉ may trên vải sa tanh hồng. Mắt Công ngó chăm chăm giữa hai đùi tôi. Từng cọng cỏ cây hoa lá óng ánh cố xù lên chống đỡ. Nhưng cỏ cây mềm quá, mượt quá, không nhấc nổi thân mình, đành yên lặng chịu đựng người đàn ông coi chúng là vật sở hữu. Khi Công tách chúng ra từng cọng xem xét tỷ mẩn, tiếng còi xe cấp cứu hụ rền những tán cây. Giọng Công cất lên khi còi xe cấp cứu đã xa.

"Sao cô ở nhà mặc váy ngủ vào giờ này? Ngoài sân có vệt bánh xe máy không phải chiếc Spacy của cô."

Ơn trời, không có chuyện gì hệ trọng. Tôi trả lời:

"Em nhức đầu, chóng mặt nên xin nghỉ làm sớm. Về nhà chỉ kịp vớ chiếc váy ngủ quàng vào người rồi lăn ra giường đến khi nghe tiếng anh mở cổng."

Khuôn mặt Công giãn ra đột ngột. Như vừa chằng qua đấy một niềm tin, một tín hiệu vui mừng, lại như mầm phôi tội ác. Khuôn mặt, tôi đã nhiều lần trông thấy, thường là nửa đêm khi Công nhận điện thoại ai đó rồi lao ra khỏi giường, vuốt má tôi và ra đi. Ra đi vì công tác kiểm thính lương tri của đồng loại. Chồng tôi làm cái nghề thật kỳ cục. Bây giờ, khuôn mặt ấy ghé sát vào tai tôi, thì thầm:

"Em có thai phải không?"

Tôi lắc đầu như một đứa trẻ. Một đứa trẻ già nua. Công thẳng lưng, khoác áo, bước từng bước chắc nịch khỏi nhà. Sau tiếng Cô rồi tiếng Em là tiếng xe máy làm toạc gió chiều. Công lại đi theo dõi một bộ nhớ khác hay một vụ việc khác. Cho dù vụ việc tôi tự nhiên bỏ sở về nhà giữa ban ngày, diện váy ngủ, đầu tóc rối vẫn còn chưa rõ ràng. Tôi biết Công sẽ ghi vào hồ sơ trong bộ nhớ lạnh lùng của anh, chờ khi đủ chứng cớ. Vầng trán cô dâu trong hình cưới lại thêm nếp nhăn. Nếp nhăn mà khi quyết định kết hôn với một điều tra viên, tôi không lường trước. Tôi nghĩ Công sẽ bảo vệ cho tôi yên ấm suốt đời, đâu ngờ mình lại trở thành một vụ án. Công chưa bao giờ tin tôi. Anh vừa lột váy vợ, sờ nắn, ngửi tìm dấu vết một tội phạm. Hành động của anh ghì chết tàn tích yêu đương cuối cùng. Nhiều ngày sau, tôi mới biết vùng kín của mình đã thành hiện trường của một vụ án nghiêm trọng.

Ngoài trời gió mạnh hơn. Phả qua cánh cửa từng cơn buốt rát mái tóc. Vầng trán cô dâu trong tấm hình nhăn rút lại. Từng khối thủy chung rớt khỏi người tôi. Những cây non nổi loạn, trút hờn trút giận lên tâm trí tôi sôi cháy. Tôi mong có một vụ việc thật rắc rối, để Công sẽ không về đêm nay. Tôi cười tiếng cười thủy tinh nứt nẻ, tôi hát khúc hát tự do trong phòng tắm đầy hương thơm. Như để trả thù sự nghi ngờ, truy nã của chồng bao ngày qua, như để cho Công thấy tôi không sợ Công, không sợ cơn gió đang tốc xoáy mặt hồ ngoài kia.

Tôi sẽ không bao giờ sợ Công nữa. Công hành nghề thanh lý trí nhớ người khác, nhưng tôi là vợ của anh, là người đàn bà đầu gối tay ấp bao nhiêu đêm, sao Công cũng gờm gờm nhìn tôi dò xét mỗi buổi chiều? Công mang về nhiều chiếc phong bì đựng tiền màu xanh, nói đấy là bổng lộc. Tôi không được giữ chúng, anh cất trong đáy tủ, hàng tuần đưa cho vợ một số tiền nhất định, làm như anh sợ tôi mang tiền của anh đi cho. Mỗi chiếc áo tôi mua, mỗi đôi giầy tôi sắm đều phải lấy hoá đơn, điều mà người Hà Nội ít ai làm. Công sẽ xăm xoi từng chữ số trên mỗi tờ hoá đơn ấy. Chồng tôi, tôi biết gọi anh là gì? Tôi nằm im lẩm nhẩm bao điều vô nghĩa.

Vẫn là đêm trăng sáng. Trăng đảo điên gãy gập trên dòng sông hung dữ. Từng gương mặt trăng lặn ngụp giữa dòng nước réo gầm. Khuôn vàng chao đảo nhìn tôi mời gọi, ánh sáng phát ra tiếng cười khanh khách. Khuôn vàng độc ác đẩy đưa ánh mắt cằn cộc của Công, đẩy đưa cả gò má Trí tựa vai tôi hôm nào. Trí cầm tay tôi, hắt hơi thở thơm mùi nắng, mùi sữa tươi lên làn da tôi đang thèm một giọt sữa. "Thân thể em là một nhành hoa sắc màu rực rỡ ngào ngạt hương thơm". Tiếng Trí sát gần vành tai, mùi thân thể nồng ngái từ người chàng làm tôi muốn khuỵu xuống. Nước mát, bàn chân tôi chạm trên lóng lánh trăng vàng. Tôi đạp mạnh, rõ ràng là nước, đang quấn lấy đôi bàn chân mảnh dẻ của mình. Đôi bàn chân mà ai cũng nghĩ là mẹ đã bó cho tôi khi còn thơ. Bởi bàn chân tôi bé tí từ gót đến ngón chân. Nhưng sao chân tôi lại không chạm đáy, chỉ nhẹ hẫng bay trên mặt nước. Hình như tôi đang dẫm lên khuôn trăng, đạp oằn dòng xoáy. Tôi nhìn xuống, có gương mặt chồng tôi với đôi mắt him híp nhìn không chớp vào một con cá đang mắc bẫy. Đôi mắt Công cũng im lìm như dáng ngồi của Trí dưới đáy sông. Sau lưng Công, Trí đang múa Lào. Bước chân oẻ ợt và bàn tay xoè mở vụng về. Đôi chân tôi lướt tới gần Trí, tôi đạp chân mạnh hơn để Công nghe tiếng, để Công quay lại. Tôi muốn chồng tôi nhìn thấy vợ mình hôn một người đàn ông khác đắm đuối dưới lòng sông. Bàn chân nhỏ bé đạp mạnh hơn nữa, có tiếng rớt vỡ. Dòng sông hung dữ cùng vầng trăng biến mất. Chiếc đèn ngủ vỡ tan, một vài mảnh nhọn cắm vào gan bàn chân tôi nhói buốt. Đôi bàn chân ướt và chiếc váy ngủ lạnh ngắt. Tôi chồm dậy bật đèn sáng trưng. Công không về, có lẽ bộ nhớ anh điều tra ít vấn đề nên anh mất hàng giờ tìm tội ác. Bên ngoài cửa kính, mặt hồ u ám giống một vực thẳm đen ngòm. Tôi lặng lẽ kéo rèm. Cúi xuống nhặt mảnh vỡ của chiếc đèn ngủ, tôi bỗng nhận ra vết ướt trên mặt thảm, dấu bàn chân nhỏ như bàn chân một đứa trẻ.

*

Trí không múa điệu múa xứ Lào dưới lòng sông trong giấc mộng của tôi nữa. Trí múa trên da thịt tôi những ngày sau. Người đàn ông trắng trẻo, hình thức hấp dẫn luôn tán tỉnh, săn đón tôi với tác phong đặc biệt lịch sự, đôi mắt lúc nào cũng thông thái mê dại. Chàng là nơi tôi trao trút giấc mơ. Là nơi tôi trốn chạy tiếng còi hụ xe cấp cứu vang rền, vọng đổ căn nhà nép sát hồ Gươm. Căn nhà sóng có thể chồm lên nuốt chửng bất cứ khi nào. Mà năm nay, gió mùa về mạnh sắp sửa quật ngã gốc sấu trăm tuổi, quật ngã căn nhà mang hình dáng hiện trường. Trong tiếng gió, tôi nghe có tiếng máu chảy, tiếng oan hồn rên xiết, tiếng của những sinh linh oan uổng mà Công từng xét hỏi. Lâu lâu, nhất là ban đêm, khi Công mang đôi mắt him híp đi rồi, gió quất vào da tôi qua khe cửa nhỏ, cất giọng u u: "Chồng cô bị bệnh! Chồng cô bị bệnh!" Những khi ấy, tôi sợ hãi vô cùng, sợ gió và sợ cả Công.

Hình ảnh chồng tôi với ánh nhìn vừa như thảng thốt lại vừa tức giận mỗi bận tôi nhắc anh về chuyện lấy nhau đã ba năm mà vẫn chưa có con làm buốt nhức từng đọt xương, gặm đau thân thể tôi. Tôi đã lén đi bác sĩ làm đủ những xét nghiệm cần thiết. Bộ phận sinh sản của tôi hoàn toàn bình thường. Công không làm tình nhiều, nhưng mỗi bận thường rất lâu, và ào ạt xối xả bắn sâu tận cùng. Đến phút cuối, anh luôn nghiến chặt răng. Tôi đinh ninh trong dòng nước đục ấy chắc chắn có những tinh trùng đang bơi lội hung hãn, dữ dằn như ánh mắt của Công. Chẳng vì lý do nào tôi lại không thụ thai được. Có lần tôi nửa đùa nửa thật: "Tinh trùng của anh cũng đã bị thanh lý bộ nhớ nên chẳng còn biết gậm trứng". Anh gầm gừ trong cuống họng như tiếng rít của loài thú. Tôi còn lại trơ trơ một nỗi buồn, một nỗi hoài nghi và một thân thể dẻo thơm. Tôi muốn một bờ vai, muốn một lời nói dịu dàng xoa thương xoa yêu, xoa đi tiếng gừ của Công đã làm tôi run rẩy. Bao giờ Trí cũng đến thật đúng lúc. Điện thoại của Trí thường vào lúc tôi hoảng sợ nhất. Quấn mình trong áo ấm, khăn len, tôi ào đến chỗ hẹn với chàng. Bước chạy của tôi lẫn trong gió rít như cuộc rượt đuổi. Thân thể Trí mát rượi, trơn bóng. Chàng mơn man tôi bằng hơi thở đầy kích động, thì thầm những lời thông thái, cho đến khi tôi chín nhừ đi, không còn sức chống đỡ, chàng mới sôi sục đi vào. Tôi bấu riết làn da trơn mịn của chàng, đu người nấc nghẹn. Thường khi xong xuôi, tôi có thói quen mặc lại áo quần cho Trí. Những khi ấy, tôi thấy chàng in một đứa bé, thôi hùng hổ thúc giục liên hồi mà bẽn lẽn nhìn những vết thít hai bàn tay mình. Tôi đưa môi cắn nhẹ một lời xin lỗi. Chàng cười dịu dàng: "Cả cơ thể của em in chặt anh, em có hôn ngàn lần cũng không xoá hết được đâu". Miệng tôi giả vờ cong lên hờn dỗi: "Những vết xước lâu dần thành vết loét, anh sẽ giống người bị bệnh hủi, lúc ấy còn dám yêu em nữa không?" Chàng bịt miệng tôi bằng một nụ hôn đắm đuối. Nhưng hình ảnh làn da Trí không còn trơn mịn mà đen cháy từng vùng lở loét tự nhiên lởn vởn trong đầu tôi. Đến nỗi, những lần sau gặp chàng, việc đầu tiên là tôi bắt chàng cởi áo đứng như một pho tượng để tôi khám xét những vết cào do tôi gây ra có còn không. Để rồi một giờ sau, tôi lại tặng chàng những vệt móng tay sung sướng tươi nguyên.

Công càng ngày càng vắng nhà nhiều hơn. Đã thành thói quen, việc đầu tiên khi về, chưa kịp cởi áo khoác là anh tụt váy tôi kiểm tra. Mà nào còn sót lại gì. Thân thể tôi vẫn vẹn nguyên, mùi người vẫn nồng ấm, thứ mùi mà Công bảo, vì nó, anh cưới tôi làm vợ. Cỏ cây hoa lá mầu mỡ tươi xanh. Hiện trường vụ án của anh không hề xáo trộn cho đến lúc anh vội vàng nhưng kiểu cách nằm sấp lên tôi. Trong ánh đèn ngủ mờ mờ, đôi mắt anh in hai vệt dài nhòm ngó. Khi ân ái cùng vợ, đôi mắt anh không bao giờ nhắm. Tôi thường thoi thóp với ý nghĩ hân hoan mình đã lừa được điều tra viên giỏi nhất. Đôi khi, bàn tay tôi cố tình cấu rách lưng Công, để cho da thịt anh lở loét, để anh thành hủi. Công không biết, anh nói tôi đã làm anh thoả mãn. Công không hay biết việc tôi cố ý cấu rách người anh. Mà tôi cũng không thể nào đoán chắc. Đôi mắt híp của Công không biểu lộ cảm xúc bao giờ. Tôi cũng không thể hiểu vì sao tôi lại quyết định làm vợ một người đàn ông có đôi mắt như vậy.

Càng ngày tôi càng có cảm giác căn nhà ven hồ của vợ chồng tôi sắp rớt xuống đáy thẳm. Giấc mơ về dòng sông hung dữ và mặt trăng vàng kỳ quái vẫn hiện diện thường xuyên trong giấc ngủ của tôi. Chúng đến những đêm Công đi công tác, những đêm gió mạnh hắt tróc mặt hồ. Nửa đêm tôi hay choàng tỉnh bởi giấc mơ, và dấu của bàn chân nhỏ bé vẫn ướt thành một hàng đều trên thảm. Tấm thảm màu nâu Tây rất đẹp mà người ta tặng Công khi chúng tôi xây nhà. Cho đến một hôm, khi tôi rời chỗ hẹn với Trí, trở về căn nhà ảm đạm, bàn tay vẫn còn mát lạnh bởi làn da của chàng, thình lình Công xuất hiện nơi ngưỡng cửa. Tựa như anh bay đến trước mặt tôi mà không hề phát ra tiếng động. Chiếc bóng anh ma quái. Cặp mắt anh băng giá. Mặt nước hồ lặng lờ đêm tối. Bàn chân tôi đã nhỏ, bây giờ càng nhỏ hơn, cơ hồ không mang nổi cơ thể thanh xuân. Công lạnh lẽo cất tiếng:

"Cô đi lại dáng đi vừa rồi của cô từ phố Hàng Dâm về đây cho tôi xem."

Tôi ngẩng mặt nhìn chồng, có một luồng dũng khí chạy xuyên người. Tôi không phải là mồi theo dõi của Công, tôi không sợ.

"Em đi dạo quanh hồ. Em không ra phố Hàng Dâm."

"Linh hồn của cô đi dạo quanh hồ, còn thể xác cô đến phố Hàng Dâm. Cô tưởng tôi không đọc thấy à?"

Giọng cười của Công vang lên ha hả. Bàn chân tôi không thể nào nâng đỡ nổi thân xác bấn loạn và tiếng cười loảng xoảng kim loại va đập. Tôi vừa quên mất Công có khả năng đọc thấu bộ nhớ kẻ khác. Từng mạch máu, đường gân trồi ngược, xanh xám, hoảng sợ. Dường như gót chân tôi thu bé hơn nữa và dần tan rã trong tiếng cười của Công. Dòng dũng khí khi nãy lặn sâu vào da thịt co quắp. Bất thần, tiếng cười ngưng bặt đột ngột như khi mới cất lên. Tôi chóng mặt lảo đảo. Cảm thấy cổ tay bị giằng mạnh. Lúc định thần được, thân mình tôi nằm soãi trên mặt thảm phòng khách. Công bật tất cả các bóng đèn có trong nhà, thứ ánh sáng ngạo ngược, thông minh nhưng dửng dưng tàn độc. Công ngồi trên ghế, ngó tôi bằng cặp mắt không có tròng đen. Tôi lấy tay che mặt, che thứ ánh sáng bệnh hoạn, thứ ánh sáng trắng đuỗng, nghê ngáo, thản nhiên. Có một tâm thế sẵn sàng hứng chịu, có một tâm thế bất cần, tâm thế khi tôi không còn tôn trọng người mình đã từng yêu thương nhất đang lan truyền dòng máu. Tiếng mở ngăn kéo sột soạt cũng không làm tôi thắc mắc. Chỉ đến khi một luồng ánh sáng mới quét rát mặt, tôi mới vội vàng dựng ngược. Một tay Công cầm chiếc đèn pin, một tay lần mở cúc quần tôi. Không vội vàng, mỗi cử chỉ của Công điềm tĩnh, ngón tay vờ mai mỉa. Bên ngoài gió đã ngừng, tôi chẳng còn trông thấy vực thẳm mặt hồ sau cửa kính. Tất cả đã biến mất trong sự đe doạ của ánh sáng loá rực mà Công vừa khơi nhóm. Tôi bỗng sợ hãi, tôi muốn kêu cứu. Tôi muốn mở cửa để trông thấy cành sấu già. Tôi muốn dẫm chân lên miệng vực thẳm mà gió lạnh và đêm tối đã đào ngoài kia. Bàn tay của Công, ánh mắt của Công là của ai, không phải của chồng tôi. Trong giây phút, tôi thấy luồng gió vô hình bay qua, luồng gió tối sẫm như màu suy nghĩ của Công. Tối xám như tâm hồn dị dạng của chồng tôi bây giờ. Tôi mím chặt môi, ghì hai hàm răng vào nhau sát sạt, không thể nào lý giải được tại sao tôi lại làm vợ một người đàn ông có đôi mắt híp sùm sụp và một linh hồn đen đúa bị gặm nhấm bởi triệu dò xét nghi ngờ. Mùa đông, ngày giữa đông, đêm giữa buổi mà mồ hôi tôi tuôn túa ướt đầm.

Chiếc đèn pin trong tay Công bắt đầu soi từ ngực.

"Da dẻ cô thần kỳ thật đấy, mới cắn nhau với thằng trí thức ấy cách đây mấy phút mà không để lại vết tích nào. Hay là tay nó bị liệt? Hay là anh chị vật lộn bằng mắt?"

Giọng nói như kim châm, gằn gừ theo ánh sáng chiếc đèn pin rà soát khắp hang cùng ngõ hẻm. Tôi hụt mình trong tê dại. Công biết tất cả, biết dáng hình thông thái của Trí, biết chỗ chúng tôi hò hẹn, biết vợ anh đã cày bừa trên cánh đồng luyến ái cùng một người đàn ông khác.

"Cô mất bao nhiêu phút đứng dưới vòi sen mà tịnh không còn dấu vết nào? Cả thảy cô chỉ ở trong căn nhà ấy một tiếng, vậy chẳng nhẽ thằng ấy nó chỉ làm được mười phút? Trong khi tôi mất cả tiếng thì cô van xin! Cô thật ngu ngốc, không biết hưởng."

Tôi vùng mạnh hai chân. Tôi muốn đạp tan tành lời nói thô bạo mai mỉa của Công, tôi muốn đốt cháy chúng thành than. Tôi muốn cởi phăng áo, dướn ngực vào mặt Công. Tôi muốn tri hô: "Tinh trùng của anh loãng như nước máy! Linh hồn anh là linh hồn của một con hủi!". Đôi bàn chân nhỏ tí buông bỏ tôi ngã vật ra như một xác chết. Công ngừng tay, ném toang chiếc đèn pin, lặng lẽ tắt hết các bóng đèn và lặng lẽ ra khỏi nhà. Đôi mắt tôi lại nhìn được qua tấm kính mặt nước hồ và những đợt gió ùa tràn ngọn sấu. Có lẽ gió thoát ra từ tấm thân tôi.

*

Vài ngày sau, khi tôi đang tắm, một viên đá không hiểu từ đâu xộc đến làm vỡ kính, gió và mưa thốc thẳng vào thân thể tôi bỏ ngỏ. Cơn mưa đá bất thường giữa mùa đông. Tôi không biết rằng cơn mưa lạ lùng, trái ngược ấy cũng kéo theo những điều trái ngược cho cuộc sống của mình thời gian sau. Mà không hẳn là trái ngược, có thể gọi một sự cứu rỗi, một luồng ánh sáng lạ soi thấu bản năng ban sơ của tôi. Nhưng đó là chuyện của những ngày sau. Còn sau khi run rẩy choàng mình trong áo len dày sụ, tôi đang lóng ngóng tìm cách che chắn chỗ kính bị vỡ, thì chuông điện thoại reo. Trí gọi. Đôi bàn chân tôi run mạnh, lạnh theo gió bấc thổi dần lên người.

"Sao em lại tránh gặp anh? Bất cứ chuyện gì xảy ra anh vẫn sẽ ở bên em, bảo vệ em. Anh chẳng đã nói đời này, kiếp này em phải ở bên anh suốt đời đó sao, nếu không anh sẽ thương nhớ những vết tay của em mà thành con hủi."

Tự nhiên tôi phát lên cười vì lời nói bay bướm tựa đọc diễn văn của Trí. Chàng làm như tôi chưa là một người đàn bà ngoài ba mươi đã kết hôn ba năm. Trí xem tôi như một cô nữ sinh trung học hết sức ngây thơ. Nghe tôi cười, giọng Trí tự nhiên buồn bã.

"Hình như có chuyện xảy ra cho em, hay em không được khoẻ? Anh cảm thấy lo lắng, em đừng cười như thế nữa."

Giọng Trí buồn thật, tôi cảm được người chàng đang chùng xuống và nhão ra. Lúc nãy tôi đã cười trên nỗi thương nhớ thực lòng của Trí, lẽ nào sống chồng vợ với Công, tôi đã nhiễm căn bệnh không cảm xúc nghiệt ngã? Tôi phải gặp Trí để chuộc lại lỗi lầm từ điệu cười độc ác mà tôi nỡ bật ra ban nãy. Mặc kệ Công đã biết tất cả, mặc kệ mối nguy hiểm có thể sẽ ập xuống đôi bàn chân mong manh của mình, giọng tôi lạc đi vì thở gấp.

"Em đến, em sẽ đến, chúng mình gặp nhau ngay bây giờ anh nhé."

Rồi đúng như thường lệ khi tôi mặc lại từng mảnh áo quần cho Trí, khung cửa kính vỡ toang chát chúa. Tôi nhắm chặt hai mắt quờ quạng, miệng bật gọi mẹ thảng thốt. Tôi không giải thích được tại sao tự nhiên cửa kính phòng tắm nhà tôi và cửa kính phòng ngủ nhà Trí đều vô cớ bị hòn đá làm bể toác. Có điều gì đó không bình thường. Dù cơn mưa đá trái mùa ngạo ngược giữa đông đang trút hối hả, gió đập vào rào điên dại, nhưng hai ô cửa kính bị vỡ vẫn là điều hoài nghi. Tôi đưa tay ôm mặt, tựa như một niềm xấu hổ khi nghĩ đến việc mình bị lây căn bệnh nghi ngờ từ Công. Và cũng chính lúc ấy, tôi biết lòng bàn tay mình đang chảy máu vì đụng nhằm miểng kính vỡ. Trí đã tự mình mặc xong áo quần, cũng như tôi ban chiều, chàng tìm cách che lại ô cửa vỡ, ngăn gió mưa bên ngoài vẫn gầm rít từng cơn. Trong ánh đèn ngủ màu tím, thân thể tôi trắng tái. Trí không nhìn thấy máu trong lòng bàn tay tôi, vẫn không ngừng chảy. Tôi đành phả tay vào miệng, bước khỏi giường tìm áo quần mà trong cơn say, tôi vung vãi đâu đó trong căn phòng. Tôi cũng không biết mình dùng miệng mút máu ở bàn tay hay dùng tay bịt miệng khỏi phát ra tiếng nấc. Khi Trí loay hoay che đậy xong mảng kính bị vỡ toác, chàng quay mặt về phía tôi, máu đã tràn qua bàn tay rớt giọt xuống nền. Tôi thấy mình được bế lên, được cưng nựng, được băng bó. Trí vừa làm, vừa xuýt xoa.

Nhưng khi Trí mở cánh cổng để tôi cầm chiếc ô màu đỏ bước khỏi căn nhà, lòng tôi chùng xuống mãi mãi. Chùng đến nỗi, nó không bao giờ còn nấc lên nổi trong căn nhà ấy, với người đàn ông da dẻ mát rượi ấy, hay với người đàn ông choàng áo mưa màu xám đang đứng dưới gốc cây cổ thụ, trước cổng nhà Trí. Trước cổng ngôi nhà tôi vừa say đắm, vừa hoan lạc, vừa phạm tội, cơn gió độc đã thực sự thổi xuống đời tôi. Chính tôi đã tự mời nó đến, tôi không thể đổ tội cho bất cứ một thứ số phận nào. Người đàn ông choàng tấm áo mưa màu xám, dù đứng từ xa, dù gió mưa phả từng cơn quất ngang quất dọc mịt mùng, tôi vẫn nhận ra là Công. Bởi đôi mắt nhỏ him híp đang phát ra một vùng lửa rực hờn. Vũng lửa màu đen, tối, tàn khốc, man rợ. Vùng chạy khỏi cánh cổng, cả tôi lẫn chiếc ô đỏ tơi bời trong mưa gió. Tôi bỏ lại sau lưng hai người đàn ông. Cả hai đã biết rõ từng phân vuông, đường lõm, lông măng cơ thể tôi. Trong lúc này, bỗng dưng tôi kinh hãi cả hai. Công thì đã đành một nhẽ, tự dưng tôi kinh hãi luôn cả Trí, người đàn ông luôn chiều chuộng tôi với tình cảm sướt mướt. Tôi biết linh cảm của mình luôn luôn đúng. Bước chạy càng nhanh hơn. Đôi bàn chân của một đứa bé tôi mang dưới người toạc từng miếng đau đớn.

*

Con tàu đi về hướng Nam, mải miết. Tôi không rõ mình đã đi qua bao nhiêu ga lớn nhỏ, bao nhiêu người bán hàn rong đã mời mua bánh trái. Chỉ biết, giờ đây, khi tôi thức giấc với cặp mắt tươi sáng vốn có, tàu đang chuẩn bị xuyên qua hầm đèo Hải Vân. Tôi vừa trải qua giấc ngủ mề mệt trăm giờ. Ngay cả khi tôi xách va li lầm lũi bước ra ga, tôi cũng không còn thức. Chỉ biết tôi cần phải đi khỏi thành phố, xa mặt hồ nước đen, xa gốc cây sấu già nua lá cành tàn tạ, xa bản hoà âm tiếng hụ còi xe cấp cứu lẫn với âm thanh gió rít. Không ai đưa tiễn tôi. Khi tôi bước chân khỏi cánh cổng mầu nâu, gió ngừng bặt. Nước hồ lặng im, buồn rười rượi. Vắng lặng quá đỗi. Vắng lặng như tâm hồn tôi. Trái tim không còn chỗ để đau, trí não không còn chỗ để suy nghĩ. Tôi không biết tất cả thế giới này khi bước chân khỏi cánh cổng. Không biết vì đã biết quá rõ ràng. Sự thực mà tôi không thể tin, không thể đối diện. Khuôn mặt vốn sáng sủa, thông minh của Trí mới thảm hại làm sao. Đầu cúi thấp, Trí trông chẳng hơn gì một con chó mới bị đánh đòn.

"Em đừng đến gặp anh nữa. Anh sợ lắm, anh muốn yên lành."

Giây phút ấy, tôi đã định gào lên. Sao mới hôm qua Trí còn nói dù có bất cứ chuyện gì chàng cũng sẽ ở bên tôi mãi mãi. Sao Trí không dám nhìn thẳng vào mắt tôi như khi ân ái, như khi nằm trên mình tôi xuýt xoa hư hử mỗi đường nét gợi tình? Nhưng rồi tôi vẫn còn một chút tỉnh táo. Lời nói, chỉ là lời nói mà thôi. Nếu trên đời, ai cũng giữ lời hứa, làm gì có nhiều bất hạnh đến thế, làm gì có nhiều người tự vẫn đến thế. Sự im lặng nặng nề bao trùm hai cốc nước, bao trùm cả quán nước. Trí không một lần ngẩng lên nhìn vào mắt tôi, cũng không giải thích một lời. Làn da Trí tím tái, đen đúa, thâm sì. Tôi thoáng rùng mình. Tôi nhìn xuyên qua làn da lục bục nổ của Trí, một đám vi trùng đang len lách, ngoi ngóp len vào trái tim chàng. Làn da đùi của tôi hình như cũng lụp bụp sùi lên từng hạt giống trời mưa bong bóng. Đôi bàn chân Trí co rúm, tôi gắng gượng đứng dậy đừng khuỵu ngã. Trí không nói ra song tôi mường tượng rõ ràng chuyện gì đã xảy ra. Thái độ hèn nhát, cùi gằm mặt của Trí lúc này không làm tôi ngạc nhiên đến phải kêu gào. Không còn nghi ngờ gì, chồng tôi, người chồng làm cái nghề kỳ cục đã gieo rắc vi trùng cho Trí. Tôi nhìn thấy chúng ngo ngoe trong cái đầu cúi gằm của Trí, trong ánh mắt len lét, trong làn da bỗng dưng nhăn nhúm. Đôi mắt to sáng của Trí giờ đây sùm sụp, hin hít, không khác mắt Công là mấy. Chẳng có gì ngạc nhiên, bởi Công đi đến đâu, sẽ làm người khác lây nhiễm tính cách kỳ cục đến đấy. Tôi còn nhớ hồi mới kết hôn, có một chuyện làm tôi thắc mắc mãi, cho đến sau này, hơn một năm chung sống với Công, tôi mới tìm được câu trả lời. Tôi thích ăn ngô luộc, những bắp ngô nếp non tươi mởn, cắn phập tứa nước. Người đàn ông nhà quê bán ngô luộc quen lệ cứ tối đến lại đứng rao trước cổng nhà. Bất thần buổi tối hôm ấy, Công đứng lại nói chuyện với ông ta rất lâu khi vừa về tới. Khi tôi nghe tiếng to tiếng nhỏ chạy ra, người đàn ông nhà quê đã đạp xe đi khuất. Chiếc thùng đựng ngô luộc của ông ta tự nhiên dị dạng kỳ lạ. Cả chiếc áo bộ đội sờn cũ ông ta mặc cũng biến ảo trước mắt tôi. Hai ngày sau, vô tình gặp ngoài cổng chợ, ông ta cười hềnh hệch. Khi đưa ngô, cố tình đụng tay vào sườn áo tôi và còn thách giá với cái giọng mưu mô đáng ghét, cái giọng không phải của người nhà quê. Sau này thì tôi hiểu được chuyện ấy, và lúc này, tôi lại càng hiểu rõ hơn. Trí từ từ đứng dậy, đôi mắt vẫn cúi cụp, cất tiếng như vịt đực:

"Thôi, anh về đây, em nhớ là từ nay chúng ta nếu có vô tình gặp nhau cũng xem như chưa bao giờ quen biết nhé."

Dáng đi của Trí khom khom co rúm xa dần trước mắt, tôi thốt nhiên buông một tiếng thở dài bất tận. Nó như tiếng khóc tôi đã bật ra vào buổi sáng cùng ngày. Tiếng khóc không bật ra từ miệng mà thét lên từ tâm hồn thương tổn, từ nỗi hoảng loạn đã có sẵn rất lâu. "Từ hôm nay cô bắt đầu ở nhà. Để làm tự kiểm. Đến khi nào cô trở thành người đàn bà ngoan, cô mới được bước chân ra ngoài xã hội." Tôi khóc, tôi khóc như điên dại, và tôi bước chân ra khỏi nhà. Tôi không thể ở nhà để trở thành cổ máy, vả lại Công không thể ra lệnh cho tôi theo kiểu như vậy. Cho dù tôi có lỗi đã không chung thủy với anh. Nhưng một ngời chồng như Công không đáng được hưởng sự chung thủy cao đẹp. Tôi không nghĩ mình là người đàn bà hư hỏng. Tôi cần tình yêu, tôi cần sống đời sống của con người. Tôi muốn bỏ tất cả, tôi sẽ sống với Trí. Nhưng rồi dáng đi khom né của Trí là cơn gió độc đưa tôi vào trạng thái mê man. Và bây giờ, tôi tỉnh giấc trên một khoang tàu đang xuôi Nam, cạnh chiếc va li im lặng.

Tàu xuyên hầm đèo Hải Vân, tôi lại mơ màng ngủ. Tôi có linh cảm, bên kia, ánh sáng đang chờ đợi tôi, chờ đợi để tưới thấm đẫm trái tim bị thương tổn nhưng vẫn thịch đập mê cuồng. Tôi hay có những linh cảm kỳ lạ. Đoàn tàu chuẩn bị thoát khỏi hang đen, vùng ánh sáng chói loà phía trước hắt tới tấp.

*

Sau này tôi vẫn không thể lý giải đợc tại sao mình xuống tàu ở ga Quy Nhơn rồi đáp xe lên vùng đất đỏ cao nguyên. Cũng vậy, tôi không thể lý giải vì sao mình bước chân lên thượng nguồn con sông Ba một đêm trăng sáng trắng núi rừng, tôi không hề có bất cứ toan tính nào. Làm sao tôi có thể ước đoán, có thể toan tính là tôi sẽ gặp người đàn ông ấy. Lại là một người đàn ông, cuộc đời tôi trợt dài theo những người đàn ông.

Người đàn ông hiện ra rõ ràng hình dáng. Hai cườm tay lui khui, ngúc ngoắc bấu xé, vằng đập thân thể cường tráng nhưng tan hoang nhiều chỗ lỡ nham nhở. Một cườm tay hơ hoác, một cườm tay chỉ còn hai ngón đeo lúc loác đang quờ quạng cấu xé man dại. Cường độ tiếng hét lên cao mãi, tôi có cảm giác nó xuyên qua, vọng thấu cánh rừng nguyên sơ, về nơi đâu đó xa lắm. Về nơi tạo hoá, thượng đế đã nặn ra con người và cũng nặn tặng cho con người nỗi khổ đau. Tiếng hét thấu đến tận cùng. Tôi bước đến thật gần, người Thợng vẫn không hay biết. Dường như sự đau đớn cùng cực là tất cả đối với ông ta lúc này. Tiếng thét câm bặt. Tôi bỗng hãi sợ vô cùng. Máu ngừng chảy, từng đường gân lòi ngược da thịt. Tiếng kêu bật khỏi miệng tôi run rẩy. Hai bàn chân tôi là cái đuôi con thạch sùng bị lìa đứt. Tôi bay trong bóng tối nhờ nhờ và dòng sông trở nên đen ngòm trồi trật cuộn xoáy bên mình. Thời gian đứng im. Tôi dỏng tai nghe ngóng. Tiếng động rất gần và tiếng nói mơ hồ, tựa lời cưng nựng, lại tựa giọng gầm gừ đe doạ. Rồi mây đen cũng trôi qua, vầng trăng lại rắc ánh sáng tràn trề. Hình ảnh đầu tiên là một đôi mắt. Hai tròng đen thăm thẳm u hoài toả ra thứ ánh sáng mà ở thành phố tôi chưa bao giờ trông thấy. Trìu mến. Và chân thật. Phút chốc, tất cả nỗi hãi sợ ban nãy bay biến, dòng sông bỗng trở nên khắn khít, hiền hoà, trong dìu dịu trăng vàng, lung lay vạt cỏ reo hát. Thiên nhiên thanh bình tuyệt đối, sự thanh bình mà chỉ tình người mới có thể mang đến. Bao nhiêu nỗi buồn, sự uẩn ức trong tôi dãn ra đột ngột. Lòng tôi như một nương ngô nẩy bắp tươi tốt sau cơn mưa rừng hối hả. Người đàn ông vẫn nhìn tôi trìu mến. Dưới ánh sáng của vầng trăng đêm, bây giờ tôi ngó kỹ, làn da nâu bóng và trên hết, đôi mắt to đen bất tận. Cái nhìn của một con người. Không phải đôi mắt sưng him híp nghi ngờ của Công, không phải đôi mắt ướt nhẹp ươn hèn của Trí. Lạ thay, tôi không còn sợ đôi cánh tay bị bào nhẵn của ông ta như ban nãy, hai cườm tay trống rỗng chỉ còn trơ lại vài ngón quơ quạng, tự cấu xé thân mình rách bươm toé máu.

"Chào chú. Tôi mới ở ngoài Bắc vào đây. Phong cảnh vùng này đẹp quá."

Đuôi mắt người đàn ông khẽ rung lên vài nhịp, rung nhẹ như dây đàn vô hình.

"Chú tên gì, nhà chú có gần đây không? Sao khi nãy chú hét ghê thế? Có phải chú bệnh hủi không?"

Sau này trở lại, ông nói cho tôi biết về sự đau đớn cùng cực thể xác mỗi đêm trăng sáng của những người Thượng bị hủi, tôi mới biết tại sao ông lại múa máy dưới trăng và hét lên thảm khốc đến vậy. Mới hiểu tại sao khi tôi hỏi câu hỏi ngu ngốc ấy, ánh mắt ông đã bỏ chạy bằng bước chạy rối rít dây leo. Một ngày, tôi đem thắc mắc của mình trút vào đôi mắt người đàn ông:

"Trăng sáng chiếu vào vết thương sẽ bị đau đớn hơn, sao chú lại ra giữa rừng núi nơi ánh trăng soi rọi mà hứng chịu? Người như chú rất sợ nước, sao chú lại đến gần sông Ba đêm trăng sáng?"

Đuôi mắt ông hằn in nhiều rãnh nhăn. Miệng ông thoáng một nụ cười. Cũng có thể do tôi hoa mắt, chứ khuôn mặt ông vẫn buồn vàng như màu hoa quỳ trơ trơ nở trên đồi cao. Đôi cánh tay thương tích, lở loét được buộc chặt bởi miếng vải màu nâu đưa đi đưa lại mũi dao xỉn cũ. Tôi không thể hiểu làm sao chỉ với bàn tay còn hai ngón, ông lại có thể tỉ mẩn vót nan và đan được những chiếc gùi chắc chắn nhường vậy. Nhìn ông làm, tôi cứ nghĩ ông vót nan không phải bằng cách thông thường nhưng bằng trái tim, niềm tin của chính mình. Mỗi vệt dao đưa là một hơi thở hắt đi muộn phiền, đẩy dội ngược âm u của núi rừng. Tôi lấy một que nan cạo cạo lên cánh tay mình, ông giằng lấy thảng thốt:

"Đừng đụng vào. Không tốt đâu."

Giọng nói nặng như hơi thuốc rê, nghe như tán cây rừng đang rì rào trên núi cao trước mặt, như hương hoa quỳ nồng đậm. Không chủ ngữ, nhưng tôi nghe thân thiết biết chừng nào. Tôi hiểu, ông không muốn tôi đụng vào những thứ ông đã cầm, ông lo lắng cho tôi. Cũng như ông đã ngăn không cho tôi bước lên nhà sàn, nhưng tôi đã nhìn ông bằng cặp mắt van lơn, khẩn khoản của loài nai rừng. Ông không thể chối từ, đành ý tứ ngồi xa.

"Chú chưa trả lời tôi sao chú lại tự đầy đoạ mình vào đêm trăng sáng."

Ông vót nan tre mạnh hơn. Mắt ông nhìn vào cánh rừng trước mặt. Trong đôi mắt chứa đựng thống khổ tận cùng.

"Tắm trăng để cái đau nhiều hơn. Gần nước để cái ngứa tận tim."

Người đàn ông nhìn tôi ân cần, ánh mắt như muốn nói ông chịu đựng nỗi đau cho con cái có cái ăn, cái mặc từ những gùi nan bán lấy tiền này. Tôi muốn hét lên: Người đáng phải chịu bất hạnh như vậy không phải là ông. Nếu trên đời có Chúa, có Phật, có Giàng, người tốt được gặp điều tốt thì kẻ phải chịu nỗi cào xé thân xác không phải là ông. Phải là những kẻ giả dối, lừa đảo, ma quái, mặt xanh nanh vàng dưới thành phố, phải là Công, phải là hàng triệu người đang dối trá dưới kia. Tự dưng nước mắt tôi chảy tràn gò má, tự dưng tôi mang mặc cảm xấu hổ. Xấu hổ vì là vợ Công, vợ một người đàn ông chuyên rình rập những tâm hồn. Tôi chạy xiêu vẹo xuống những bậc thang chông chênh của nhà sàn, nước mắt nhỏ ướt đầm các phiến gỗ. Được một quãng, tôi bắt gặp một toán người Kinh ăn mặc lịch sự chặn đường. Cô gái có mái tóc nhuộm vàng, nước hoa thơm lừng khiến tôi bỗng muốn nôn oẹ.

"Chị mới đến buôn người hủi phải không? Chắc là sợ quá nên mặt mũi tái xanh tái xám. Sao chị bạo gan thế, dám đi một mình, nhỡ bọn hủi nó lấy hết tiền, hãm hiếp thì sao?"

Hai mắt tôi đỏ như hai tròng lửa, tôi muốn bóp chết đứa con gái thị thành vừa ăn nói nhăng cuội. Cánh rừng trước mặt thấm đẫm màu mắt to buồn. Tôi vùng chạy nhanh hơn, bàn chân nhỏ bé tứa máu. Tôi cũng chỉ là một người Kinh như đứa con gái kia. Tất cả chúng tôi ở thị thành đều như thế. Tôi cũng ưa ăn ngon, mặc đẹp, cũng đã sợ hãi những người Thượng hiếp mình... Cứ thế, tôi chạy hối hả về thành phố, về căn nhà gạch Tây sát ven hồ.

*

"Cô nghĩ cuộc sống bên ngoài ngôi nhà này tự do lắm ư? Cô tưởng rời tôi ra là cô sẽ thành ngay một người tốt được ư? Cô sẽ phải ở bên cạnh tôi suốt cuộc đời, bởi vì cô đã làm vợ tôi, đã chia thân xác cô với tôi. Cơ thể của cô là cơ thể của tôi. Cô ghi nhớ kỹ điều đó để mà nghiền ngẫm."

Tiếng vợ được đôi môi mỏng quẹt của Công kéo dài lỏng thỏng như một miếng bánh nếp. Khi tôi từ Tây Nguyên trở về, màu gạch Tây của căn nhà đã hoá đỏ sậm, màu cánh phù du. Chỉ có tôi mới hiểu màu phù du trông thế nào. Hồ Gươm câm lặng, gió bị suy hô hấp, không khí như một nồi cháo đặc. Mà tôi chẳng bao giờ thích cháo. Tôi cũng trở nên câm lặng như nước hồ. Câm lặng thản nhiên trước bóng gió mạt sát của chồng. Tôi cũng chẳng còn cảm giác gì khi Công lột quần lót kiểm tra mỗi tối. Cây sấu già nhìn tôi cong queo, khô héo. Tôi nhắm mắt chịu cho trí óc được thanh lý sạch sẽ. Thấy tôi câm nín, Công tỏ ra hài lòng, cho đấy là sự phục tùng khuôn phép. Tôi biết mình không phục tùng khuôn phép nào và cũng không nổi loạn đập phá. Tôi biết tôi cần tồn tại. Đêm đêm, khi Công vắng nhà, tôi ngồi bên cửa sổ ngắm mặt hồ đen tối rồi nhìn ngắm ngôi nhà trống hoác. Căn nhà có trí nhớ không? Hiện diện bao đời mà không hề có dấu vết người sống? Khi Công cho xây thêm lầu, chắc hẳn anh cũng đã điều tra tịch biên tất cả quá khứ của từng viên gạch. Tôi nằm ngửa giữa lòng giường không có kỷ niệm, giấc mơ dòng sông với khuôn trăng vàng không còn in trên trần. Dấu chân của đứa bé cũng không còn làm ướt mặt thảm mỗi đêm. Tôi đã không còn thức trong khi ngủ. Tôi đang biến thành vật vô tri như Công muốn.

Rồi lại đến ngày rằm, trăng dại vàng hồ nước. Tôi ngồi trong bóng tối nhìn ra mặt hồ nhớ quay quắt trăng rừng. Hình ảnh người đàn ông có làn da thương tích, tơi tả múa may dưới trăng và hét lên tiếng hét thống khổ hiện ra từ từ. Giống như Công không thể thanh lý những hình ảnh của buôn Thượng, từ những căn nhà sàn đến cả tấm biển cắm trước buôn hoen rỉ vì mưa cao nguyên cảnh báo người Kinh hãy tránh xa. Công không đủ sức xoá Làng Hủi trong trí nhớ của tôi còn sáng ánh trăng đại ngàn.

Công về nhà giữa lúc trí nhớ tôi đang phục hồi. Công nhận ra ngay tức khắc. Như một con thú, chồng tôi vật tôi như vật một con mồi. Đôi mắt chỉ còn là hai vệt đỏ lục lọi da thịt tôi tan nát. Không cởi tất, cứ thế Công chồng lên tôi, chọc sâu tàn nhẫn. Tôi càng đẩy Công ra, Công càng cứa như dao đâm. Không phải đâm mà anh đang chích vào người tôi những con trùng làm công tác hủy hoại bộ nhớ. Tôi nín lặng, mặc cho Công quay lộn, mài dũa. Tôi kháng cự bằng cách nghĩ đến gương mặt khổ đau của người đàn ông Thượng. Tôi thấy rõ trí nhớ tôi tan vữa dần dần sau mỗi cú thọc sâu của Công, chỉ có buôn Hủi, làng Hủi, và người đàn ông Thượng tồn tại. Khi Công chấm dứt, tôi không còn nhớ gì hết, kể cả mười móng tay vừa cấu nát lưng Công. Tôi nhìn chúng xa lạ không hiểu đã xảy ra chuyện gì ban nãy. Ngoài kia, ánh trăng đại ngàn vẫn ngời ngợi lung linh bên trên những con người thành phố thơm nức, sạch sẽ nhưng không trí nhớ. Tôi quyết định ra đi.

*

Ngày tôi quay lại căn nhà sàn heo hút nằm giữa đại ngàn, nơi dòng sông Ba hung dữ nhưng nồng nàn đi qua, người đàn ông Thượng lộ rõ vẻ ngạc nhiên. Trong đôi mắt to u mặc như mênh mông Biển Hồ, có một chút vui mừng thầm lặng. Ông ngừng tay đan lát, nhìn tôi trầm ngâm:

"Sớm mai mà trời chưa nắng. Đường sá hơi bẩn, mùa khô mà đường lại bẩn… Cây rừng bị kẻ xấu đốn nhiều quá. Cánh rừng bên kia sông Ba, cánh rừng ngày xưa săn được con mang to nhất bây giờ trọc trụi. Người giày đen không biết giữ rừng…"

Những lời ngúc ngoắc không ra đầu ra đũa của ông làm tôi nhớ chuyện trên đường vào đây đã gặp mấy xe chở gỗ ngang nhiên chạy tung đất đỏ về xuôi. Tay tài xế thò bộ mặt đỏ gắt ỡm ờ trêu chọc tôi mấy câu tục tĩu. Nhưng đấy là chuyện của người Kinh, bây giờ tôi chỉ muốn được ngồi cạnh ông, được nhìn ông dùng hai cùi tay sứt sẹo đan những chiếc gùi, được nhìn vào đôi mắt to đen của ông, được hưởng cảm giác thanh bình của thiên nhiên, không còn lo sợ đôi mắt hìm hịp soi xét của Công. Bắt gặp ánh mắt đầy khắc khoải của tôi, ông thôi đi lại lăng xăng bằng đôi chân khập khiễng bị rụng hết ngón. Ông ngồi xuống bậu cửa, lại húi húi với bó nan tre, chừa ra một khoảng cách nhất định giữa tôi và ông. Lòng tôi tràn lên cảm xúc gần gụi không ngờ, một cảm giác ấm áp, an lành. Tôi ước có thể chia cho ông những ngón tay của mình, chia chung với ông những ngón chân của tôi, giúp ông làm người lành lặn, để ông lại vào rừng săn con mang con hoẵng, để ông trông coi những cánh rừng hùng vỹ khỏi bao kẻ giày đen đốn ngã. Ngồi trên bậc nhà sàn giữa núi rừng trong lành, tôi thấy mình trở lại nguyên hình một đứa trẻ. Rõ ràng đôi chân tôi không còn quá nhỏ nữa mà đã cân đối với hình hài. Tôi đang thun lại thành một đứa bé trong sáng, đang được một con người yêu thương. Tôi ngồi bên ông dưới nền trời nhiều mây, gió lạnh làm tôi khẽ rùng mình. Nghe tiếng ho của tôi, ông dừng tay, quay lại. Chao ôi, cái nhìn của ông, chỉ có thể là cái nhìn của con người mang tâm hồn rộng mở nhất. Trong đôi mắt ông, tôi thấy sự lo lắng của mẹ khi tôi ốm, nỗi buồn của cha khi tôi bị gãy chân vì tai nạn xe máy, cùng tất cả những tình thương tôi từng được hưởng. Ông nhìn quanh gian nhà sàn tìm chiếc chăn len. Nhưng rồi ông quay mặt đi ngay tức khắc, gương mặt ông buồn đến chao lòng. Ông không dám đưa cho tôi chiếc chăn len ông đã đắp. Ông không muốn lây bệnh cho tôi. Tấm lưng của ông rung lên, và chính ông bật ra những tiếng ho đau đớn, bất lực, tưởng như bật máu tươi rách nát vòm họng. Chúng tôi cứ thế yên lặng xao xuyến suốt buổi sáng. Ông không hỏi, không nghi ngờ, không dò xét điều gì. Lâu lâu, ông liếc nhìn tôi. Trong đuôi mắt ông, tôi thấy có nụ cười, thật hiền. Dường như ông hiểu được mọi điều trong lòng tôi. Đến trưa, nắng lên muộn màng, ông cất tiếng phá tan yên lặng:

"Chắc là đói bụng. Để tôi luộc bắp."

Tôi chợt ngã người nắm lấy cánh tay ông. Tôi không muốn mất giây phút này. Cánh tay ông hốt hoảng rụt vội, đôi mắt ông thảng thốt nỗi lo sợ. Tôi giữ chặt không cho ông chạy, hơi ấm từ cánh tay ông lan toả cơ thể tôi. Không phải làn da trơn trợt mát rượi của Trí, hay thô nhám của Công, nhưng là làn da dịu ngọt. Tôi đưa hai bàn tay mười ngón lành lặn của mình vuốt ve bàn tay ông. Ông không vùng ra nữa, mà nhìn tôi nửa van xin buông tha, nửa xúc động. Cứ thế, tôi nắm tay ông, quên mất ông đang mang căn bệnh trầm kha, bị cả xã hội này xa lánh, tôi không còn nhớ cây sấu già bên ngôi nhà gạch Tây. Tôi chỉ còn biết có yêu thương, chỉ còn biết bên ngoài, nơi cánh rừng nguyên sơ, bầy chim đang hoan ca vang trời. Sau buổi sáng ấy, ông tặng tôi một bó hoa quỳ vàng ươm.

*

Trí óc non nớt của một ngời đàn bà sống bằng tình cảm như tôi không lường được việc Công đang có mặt trên cao nguyên. Người chồng làm cái nghề kỳ cục của tôi đâu phải kẻ ngu đần. Tôi đồ rằng những con trùng ăn sâu, chui nhủi trong trí não, nhằn nhai trái tim Công cũng mang đôi mắt him híp, sùm sụp như chủ nhân của chúng. Không thể phủ nhận chồng tôi là một người đàn ông thông minh và tinh nhạy. Tinh nhạy để biết được vì sao tôi đang ở cao nguyên, thông minh để chỉ cần một vài chi tiết, Công ngọn ngành hết đường đi nước bước của tôi. Chẳng khó khăn chút nào với một người chuyên theo dõi trí não kẻ khác. Cảm xúc cuộn phăng đi, tôi không lường trước những việc có thể xảy ra, cho đến khi chồng tôi xuất hiện ngay tại căn nhà sàn vào buổi sáng hoa quỳ đang óng ánh. Sơ mi là trắng kệch cỡm tương phản với màu đất, Công bất thần hiện ra trên bậc thang gỗ với ánh mắt nghiệp vụ.

"Cô vui thú quá phải không nào?"

Bất động bên ôm hoa quỳ vàng rực rỡ, thân mình tôi hoá đá. Lạ quá, vui quá, đối với Công là một trò chơi, còn với tôi, là tất cả. Ôm hoa quỳ hái trong sương sớm tôi mang đến ngôi nhà sàn nhỏ bé này cùng chắp với hoa qùy của người đàn ông. Tôi muốn gầy một mùa xuân chưa hề có dưới phố.

"Cô khai báo cho tôi biết cô làm cái gì ở đây?"

Không còn là tiếng nói của chồng tôi nữa mà là giọng hỏi của một điều tra viên. Chân tay tôi bỗng líu ríu. Gió sắp rít gào, mưa giông sắp đổ. Trước mắt tôi hiện ra những giọt mưa đá lạ lùng hôm nào giữa lòng thành phố trong ngày mùa đông. Tôi ớn lạnh, tôi cần phải đi, cần phải tìm chỗ ẩn náu. Tôi chạy xuống những bậc thang căn nhà sàn không nghe tiếng gọi của người đàn ông Thượng. Tiếng thét đớn đau bên bờ sông Ba đêm trăng sáng sắp được lưu trữ trong hồ sơ các bộ nhớ cần thanh lý của chồng tôi. Rồi ông sẽ thành như Trí, như gã bán ngô luộc.

Tôi chạy vào đất đỏ, tôi chạy vào cây lá, tôi chạy dẫm lên cõi u mê mênh mang hoảng sợ cho đến khi một rừng hoa quỳ vàng ươm phủ kín.

"Giết mày, đâm chết mày như đâm con mang. Lột da đầu mày làm mũ đội. Róc xương mày nấu cao uống. Mày là đồ khốn nạn, mày là bọn giày đen bẩn thỉu!" Rừng vang lên những lời tục tằn, lá phát những lời thô lỗ của ông xua đuổi. "Mày, chính mày đã mang thằng giày đen bẩn thỉu đến đây làm bẩn thỉu mảnh đất của tao, bẩn thỉu cánh rừng của tao, bẩn thỉu dòng sông của tao." Tôi ngã xấp trong tiếng kêu hoảng hốt của hoa qùy. Tai tôi u u. Tai tôi mang bệnh. Mắt tôi mang bệnh. Căn nhà sàn mang bệnh. Có đúng là ông không, người đàn ông tôi đã gặp hôm nào bên dòng sông Ba, người đàn ông đã nhìn tôi bằng cặp mắt xót xa âu lo, đã rơi nước mắt khi tôi cầm tay? Chồng tôi đã biến ông thành một người thành thị. Không, không thể như vậy được. Từng bông quỳ vẫn hắt ra thứ ánh sáng lóng lánh. Gió lao xao, chúng như xâu xé mình tôi. Tự nhiên các đốt ngón chân tôi râm ran ngứa. Đưa tay gãi đến đâu, cái ngứa càng lặn sâu vào da, tôi càng rồ người lên đến đấy. Thân thể tôi phong hủi rồ dại và hoa quỳ thôi vàng trong mắt.

"Nhai lá đắp cho anh ta bớt đau."

Ông vẫn ngồi đó đan lát. Bàn tay cụt đốt quặp vốc lá rừng chìa tới trước. Công đang lăn lộn trên đất. Tôi nhìn kỹ Công không hề có vết tích của hành hung nhưng anh oằn oại mắt trợn ngược. Khắp mình Công không nổi sẩy, không lên ban nhưng anh cũng rồ dại y như tôi ban nãy. Tôi vụt hiểu, Công đang phát chứng hủi vô hình của người Kinh.

Tôi không sợ nữa. Tôi trở lại vì tin vào tâm hồn trong sáng của người Thượng. Tôi muốn nói Công không có khả năng tẩy xoá ánh trăng đại ngàn, ánh trăng được toàn nhân loại trông thấy. Nhưng ông đã đưa tôi nắm lá.

"Nhai đắp cho anh ta bớt đau."

Mùi hoa qùy bỗng dậy trong miệng tôi. Chất diệp lục tố của từng chiếc lá đắng mà ngọt ngào. Những chiếc lá tan trong máu huyết tôi vừa thanh sạch với mùi thơm tho như khắp châu thân tôi đang đơm nhụy, vừa kết những bông hoa vàng. Tôi cúi xuống bên Công. Tôi ngồi xuống cạnh chồng giữa một nền trời thinh không bát ngát hương quỳ.

ĐỖ HOÀNG DIỆU (Hà Nội, 10/2004)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 258)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 247)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 442)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 385)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 516)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
07 Tháng Tám 202610:29 CH(Xem: 642)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 1041)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 1114)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:50 CH(Xem: 1727)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 2052)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
07 Tháng Tám 2026(Xem: 641)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11077)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17722)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16775)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 441)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 516)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 2052)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 2567)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 384)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 2440)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 2199)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 2793)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 1041)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 1113)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 1652)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 2430)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
09 Tháng Tám 2026(Xem: 258)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 247)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 1727)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 2275)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 3101)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14426)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30498)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36777)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12201)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13535)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3968)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 6003)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 5484)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 6045)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 6691)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9004)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8299)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11237)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.