- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Bỉ ổi

20 Tháng Giêng 201412:00 SA(Xem: 58179)

tranductinh117
 Trần Đức Tĩnh

Khắp làng trên xóm dưới ai cũng biết chuyện về lão Hống. Lão có đến ba đời vợ, và không biết bao nhiêu người đàn bà đã sống chung chạ, nhưng rốt cuộc bà nào cũng sớm cuốn gói ra đi. Người ta bảo lão là con gà trống chuồng, có lần trong nhà lão chứa vài mụ đàn bà. Kể ra lão cũng tài, một mình cai quản hai mụ trên cùng một chiếc giường mà chẳng hề có chuyện. Trông bề ngoài lão là một người đàn ông xương xẩu, ít ai biết lão là một con quỷ trong những lần chăn gối, xong mỗi lần ân ái người đàn bà nào cũng tả tơi. Có lẽ vì vậy mà những người đàn bà thích lão? Ở trên đời này còn nhiều điều trái khoáy, nhiều đàn bà khi được nâng niu, chiều chuộng, âu yếm họ lại không thích, họ tìm được cảm giác sung sướng trong những lần bạo dâm! Nhưng không hẳn vì thế, ai cũng biết lão là một người đàn ông cục cằn, thô lỗ. Đấy có thể là lý do khiến cho họ bỏ lão mà đi, con người không thể sống kiếp lừa mãi được, họ phải tìm cho cuộc đời mình có một chốn yên thân. Lão Hống có cái tật hay uống rượu, mỗi lần lão uống rượu về là thể hiện cái thói vũ phu, túm tóc, bạt tai, lời lẽ bỉ ổi phát ra từ cái miệng thối òm như hố xí. Có những lần lão bắt vợ phải bò dưới gầm giường như chó. Không những làm chó cho lão vui mà còn phải đĩ để đáp ứng mỗi khi thú tính lão nổi lên.

Người đàn bà sau này bỏ lão không phải vì những chuyện ấy, ả ta là một người biết nhẫn nhục, chịu đựng. Ả bỏ lão vì không còn chốn nương thân. Lão có nhà, có đất đàng hoàng tử tế. Mảnh vườn nhà lão do bà cụ để lại ngay đầu làng, đấy là một vị trí lý tưởng để mở cửa hàng kinh doanh. Đầu tiên lão bảo miếng thịt nhà lão sẽ thái nhỏ, tha hồ ăn đến cả đời cũng không bao giờ hết, miếng đất đầu tiên lão bán cất lên được một ngôi nhà mái bằng, nhưng khi làm xong chỉ có mỗi cái xác nhà trống không như chiếc quan tài, nghe người khác xúi dục lão đành cắt thêm một sắt nữa để làm vốn mở cửa hàng bán tạp hóa cho vợ. Ai cũng nghĩ cuộc sống nhà lão như thế là hẳn êm xuôi, cũng bởi thái độ đối xử bạc với vợ con nên mới đến nông nỗi chỉ còn mỗi túp lều rách. Người đàn bà đầu tiên đi qua cuộc đời lão đã ôm toàn bộ khối tài sản, để lại cho lão chiếc quan tài rỗng tuyếch.
Với loại người cộc cằn như lão thì chẳng có đứa con gái tử tế nào trong làng dám để mắt tới, cho mãi tới khi sắp sửa ế vợ mới có một người chú họ đằng xa dắt về cho lão một ả con gái. Nghe đồn ả này cũng đã từng làm gái giang hồ nên mới chịu theo sự mối lái, lúc đấy mẹ lão vẫn còn sống nên làm vài ba mâm cơm mời họ hàng, ông trưởng thôn phải đến tận nhà bắt lão lên ủy ban làm giấy đăng ký kết hôn. Lão cưới vợ được hai năm thì mẹ già đột ngột qua đời. Rồi tiếp hai năm nữa ả sinh cho lão được một đứa con gái, những lần mang thai trước toàn bị xẩy, lũ đàn bà trong làng bảo nạo hút nhiều lần nên quen dạ. Tuy chẳng ai nói trực tiếp cái điều ấy nhưng lời lẽ thì luôn có cánh bay đập vào màng nhĩ của lão. Vì lão có cửa hàng tạp hóa nên chẳng phải làm gì, suốt ngày chỉ lêu lổng ra các bàn bi – a, ngồi quán uống rượu. Cứ mỗi lần trong người có men rượu là lão lại về nhà hành hạ vợ, nhưng chị vợ này cũng là một tay đáo để, mỗi lần bị lão túm tóc dìm đầu xuống là vơ vội lấy của quý khiến lão trợn mắt, buông tay ra. Lão ức lắm, chẳng làm gì được vợ. Tức rồi lão chửi cả bố, mẹ, tổ, tông đứa nào đẻ ra con đàn bà bất trị, lời lão phát ra như có gió rít qua hai kẽ răng.
Sau khi vợ bỏ đi lão bắt đầu hối hận. Lúc đầu lão bớt uống rượu. Càng tỉnh táo bao nhiêu cái đầu lại bắt lão phải suy nghĩ nhiều, nỗi cô đơn ập đến khiến lão không biết phải làm gì? Chỉ có rượu mới hiểu hết những tâm sự. Rượu sẽ an ủi cho cái đầu của lão nhẹ nhõm bớt đi. Rượu sẽ vuốt ve đưa lão vào giấc ngủ không mộng mị... Người ta bảo lấy đĩ về làm vợ cũng không sai, tuy bị bàn tán nhưng ít nhất mỗi lần say khướt lão cũng có người bế lên giường. Lần này chị ta bỏ đi nên lão chẳng còn ai chăm sóc, trong nhà lão ở chẳng khác nào chuồng lợn, mỗi lần say rượu về lão lại rúc đầu vào một xó, những đống thức ăn mửa ra lâu ngày lên men mốc xanh. Đồ dùng trong nhà lão cũng chẳng cần thiết, mỗi lần túng tiền lại cho một thứ đi ở là ung dung ngồi quán được ít ngày. Người đàn bà thứ hai ập đến cuộc đời lão thật tự nhiên. Ả này có phần hơi vụng về, nói năng như dùi đục chấm mắm cáy, nhưng bù lại sức lực thì ít có người phụ nữ nào sánh kịp, hai tay ả có thể cắp hai bao xi măng chạy phăm phăm. Đã ngoài băm nhưng ả chưa một lần được người đàn ông nào nắm tay. Hôm ấy ả đang trên đường đi phụ hồ, đúng đến lúc đi ngang nhà lão thì gặp cơn mưa rào bất ngờ đổ ập xuống, nghĩ bụng ả định vào hiên nhà trú tạm rồi tiếp tục đi. Từ khi vợ bỏ đi nhà lão Hống rất ít khi đóng cửa, đồ đạc trong nhà dần đội nón ra đi nên chẳng còn thứ gì mà phải cảnh giác, vả lại cũng chẳng ma nào dám bén mảng đến vì sợ gặp phải con ma rượu. Ả vừa dựng được chiếc xe đạp thì nhìn thấy trong nhà có người đang nằm co ro ngay đằng sau cánh cửa xếp, không ngần ngại ả bế thốc lão vào trong nhà đắp chăn. Gọi là say thế thôi còn trong đầu lão biết chán, vạ vật là thái độ của lão hờn dỗi với đời, khi ả đắp tấm chăn mỏng lên người lão bắt đầu nũng nịu như cậu bé. Ngoài trời vẫn mưa như cố tình giăng màn, lão nắm lấy hai cổ tay ả đặt sát vào ngực mình, toàn thân ả run rẩy như con mèo bị nhúng vào trong thùng nước. Trong đầu lão như có một luồng điện từ chạy qua dần dật, hai mắt sáng lên. Lão chồm dậy, đè ả nằm xuống, ngấu nghiến, bỉ ổi...

Kể từ sau cái lần mây mưa ấy ả thay đổi tính nết, trước kia mỗi lần bị người khác trêu là đỏ phừng phừng mặt lên, lần này ai ghẹo cũng kệ, thỉnh thoảng lại tủm tỉm cười nụ, hai gò má ửng hồng. Thế rồi mọi người để ý thấy chiều nào đi làm về ả cũng ghé qua hàng thịt, hôm thì mua khúc chân giò, hôm thì xẻo dăm lạng nạc sấn, đời đôi khi cũng nên xả láng một tí, có tiền cất mãi mối nó xông, làm việc vất vả phải bồi bổ sức khỏe.
Tự nhiên ả nghỉ không đi phụ hồ nữa, số tiền tiết kiệm được bấy lâu ả dành một phần mua sắm vật dụng, rồi khăn gói đến ở hẳn trong ngôi nhà của lão Hống. Từ khi có bàn tay của ả chiếc quan tài của lão Hống thêm hơi ấm của sự sống, ban đêm có tiếng chó sủa óc ách, ban ngày có gà mái cục tác, chốc chốc mụ đàn bà lại réo rắt gọi chồng. Đố ai biết cuộc đời lão Hống bắt đầu sung sướng hay bị cầm tù? Nhưng có một điều ai cũng biết là suốt ngày lão chẳng phải làm việc gì. Có người bảo đời lão Hống vậy mà sướng thật; Sáng sớm thức dậy đã có sẵn một thau nước ấm để rửa mặt, cả một tô mì úp sẵn dưới bếp nữa. Buổi trưa ngồi ăn cơm cũng có người quạt mát. Tối đến được bồi bổ thêm hẳn hai quả trứng vịt lộn. Đúng là cơm no bò cưỡi! Nhưng người khác lại nói lão Hống chẳng khác nào con lợn nòi, có thêm vợ như khoác cái nợ vào thân, suốt ngày có người kè kè bên cạnh, muốn tự do đôi chút cũng không xong.

…Ả bỏ lão Hống ra đi như dòng sông hạn hán. Người ta vẫn thường nói tức nước thì mới vỡ bờ. Nhưng đằng này ả đến với lão khi còn tràn trề sinh lực như dòng sông đầy nước, ra đi tàn tạ như con mẹ mướp. Thực ra không thể gọi lão Hống là người lười nhác, đã bao giờ lão phải lao động chân tay để kiếm miếng ăm đổ vào mồm đâu mà bảo lười? Nói đúng hơn là lão không biết làm một việc nào hết. Nhà lão vốn chỉ có hai mẹ con. Hồi nhỏ lão được mẹ cưng chiều lắm, hễ có người nào khuyên nhủ nên tập cho con biết lao động là bà bênh lão chằm chằm. Ấy, cháu nó còn nhỏ, nhà tôi chỉ có một mình nó, hễ xẩy ra mệnh hệ gì thì sau này tôi biết trông cậy vào ai? Người làng thường ít học, chỉ cần biết đọc biết viết là trẻ con có thể không phải cắp sách tới trường nữa. Riêng lão Hống bảng cửu chương vẫn chưa thuộc, người khác hỏi lão bảo mới học đến lớp hai chẳng may cô giáo bị ngan dẫm chết. Tụi trẻ cùng trang lứa với lão đảm đang được ối việc, đằng này lão chỉ việc ngồi ở nhà nghỉ mát, ra ao tập bơi bà cụ cũng sợ con chết đuối. Khi lão đến tuổi đi nghĩa vụ quân sự thì bà cụ lên thẳng ủy ban nằng nặc xin miễn vì hoàn cảnh gia đình neo người. Hồi bà cụ còn sống lão Hống được mẹ chiều, đến khi lấy vợ về lão vẫn quen tác phong cũ nên thường hay bị vượt mặt, cái giống đàn bà không coi chồng bằng thớ gì thì lại lắm đàn ông ngả ngốn. Mỗi lần vợ nói chuyện với đàn ông khiến lão bực lắm. Lão biết thiên hạ ối thằng bám váy đàn bà nhưng chúng nó vẫn phục tùng răm rắp, lão nghe được thoang thoáng mấy cái mẹo vặt của lũ bợm nên về nhà cũng áp dụng nhưng rốt cuộc chẳng đi tới đâu. Riêng ả bị lão bắt bài nên hết sức cung phụng, ả tận tình đến mức có đồng nào cũng phải nướng hết vì lão. Ngày nào ả cũng quần quật từ sáng đến tối nhưng vẫn không đáp ứng đủ khoái thú. Người ta đã nói lành tính quá cũng không phải tốt, những người lành như đất hay bị kẻ khác vành đít ra thổi sáo, đằng này ả cũng vậy. Những người đàn ông phóng đãng thường hay có tính cả thèm chóng chán, một khi khoái lạc đã đạt tới đỉnh điểm là chán, đàn bà con gái hay bị đàn ông ruồng bỏ cũng chỉ vì đã hiến dâng trọn vẹn. Lão Hống có thừa cái phẩm chất của một gã đàn ông đó.
Thực ra ả cũng không phải là người đàn bà màu mỡ, chẳng qua ả chỉ là một miếng đất cằn tưới đầy phân nên lão Hống bắt buộc phải bám rễ vào đó. Lý do thứ nhất khiến ngoài băm nhưng chưa một lần được đàn ông nắm tay bởi vì ả quá xấu xí. Điều thứ hai khiến đàn ông tránh xa bởi đầu óc ả có vấn đề. Lão Hống tuy mới học đến lớp hai nhưng cái đầu còn khôn chán. Lão chấp nhận ả là bởi có ăn và tìm được chỗ đút ra đút vào, một khi điện đã tắt thì nhà ngói cũng chẳng khác nào nhà tranh! Bản chất lão Hống là một gã đàn ông sâu mọt! Hết tiền, hết khoái thú lão chẳng tha thiết, và lão cũng không cần phải dùng mẹo để khống chế ả phục tùng theo ý muốn của mình nữa, với một cái xơ mướp chẳng còn gì mà phải bám vào đấy cho mệt.

Đời lão Hống đôi lúc cũng lên tiên. Ả vốn là con út trong gia đình có bốn anh em, bà mẹ trước lúc nhắm mắt không quên dặn dò các anh nhớ bảo ban cô em cẩn thận. Đợt thấy ả ôm quần áo đến với ở với lão Hống ông cả làm dữ dội lắm, bà chị dâu nhìn đứa em chồng nên chép miệng bảo. “Mình à, cứ để em nó tự do, tôi nghiệp nó hơn ba mươi tuổi đầu…Con nhà người ta…” Bây giờ ả đã biết thế nào là mùi đời, lấy chồng đấy, mỗi lần vác cái mặt sưng húp về nhà nên anh cấm chỉ không cho đến ở với lão Hống nữa. Khi ả đi rồi lão Hống cũng cảm thấy vắng, ít nhất lão cũng mất đi một thứ gì quý giá lắm. Đời lão chỉ có một nỗi tâm tình sâu nặng nhất là đi cùng con ma men, vui vẻ lão cùng mấy gã bợm rượu ngồi nói chuyện làng chuyện nước, lúc buồn một mình lão lướt khướt để chôn vùi ngày tháng. Dạo ấy đất đai ở làng đang được giá, con đường cao tốc mở cắt ngang qua đầu làng. Bỗng một vùng quê náo nhiệt vì số lượng người kéo nhau về tụ họp, những người có đất tranh thủ mở cửa hàng, người có tiền thi nhau tậu đất làm của để dành, lão Hống chỉ còn mảnh đất thừa hình tam giác đã mấy lần gọi người đến bán nhưng chẳng ai muốn, thế rồi lão nghe người ta bán ngôi nhà đang ở rồi cất lên một túp lều ngay bên cạnh. Được một khoản tiền kha khá lão Hống tha hồ mà chè chén, mọi khi người ta tránh lão như tránh tà, nhưng đến lúc ấy thấy bóng lão ở đâu là chủ quán thi nhau gọi.

Chiều nào lão Hống cũng bước đi liêu xiêu trên con đường trải cấp phối, ả đi rồi con chó chẳng được lão cho ăn bao giờ, cũng may mỗi lần về nhà lão lại mửa ra một đống để nó có cái mà sống, nó béo ra nhờ hấp thụ được chất bổ từ người chủ. Cái giống chó cũng trung thành đáo để, mặc dù lão chủ không bao giờ quan tâm, thậm chí nó còn liên tục bị những trận đòn vô cớ nhưng vẫn cứ một mực đi theo. Con chó của lão Hống biết nghe cả tiếng người nói, hiểu được ý định của chủ thông qua từng cử chỉ, nhìn đôi mắt nó biết thái độ người hiền hay ác, chính vì vậy nó rất sợ chủ mỗi khi tỉnh táo, lúc lão say nó đên bên cạnh, thè lưỡi liếm hết bọt dãi mà lão phì ra từ cái miệng gớm giếc. Dáng lão Hống cứ đi xiêu vẹo trên đường làng mỗi lúc chiều chạng vạng, người ta nhận ra lão từ xa bởi nhìn bước chân lắt léo như tiền đạo đang dẫn bóng. Thế rồi cũng một buổi chiều chẳng biết đường chuyền ăn ý thế nào mà lão dắt được một người đàn bà về nhà. Cả làng không ai biết người đàn bà đó tên gì? Ở đâu? Con cái nhà ai? Nghe nói người đàn bà ấy trốn chạy từ bên Trung Quốc sang, chị ta bảo bị bán từ lúc tuổi mười lăm, khi về Việt Nam gia đình đã di tản vào Nam nên đành phải lang thang, lên thành phố làm đĩ cũng bị người ta xua đuổi, mà đĩ thõa thì em đã quen quá rồi, ở bên đấy có đêm em còn tiếp được cả bốn bố con. Chị ta cứ đi, đi mãi đến khi gặp lão Hống đang khật khưỡng…

Ôi, cái làng nhỏ bé này loạn lên mất rồi! Đèn xanh đèn đỏ thi nhau nhấp nháy, con gái con nứa mặc quần cộc cỡn, áo hai dây hở cả rãnh vú đứng trước cửa đưa tay vẫy chào khách qua đường, chúng cứ làm như những người trai trước mặt ngày mai sắp sửa ra trận. Làng đã loạn lên vì đám thanh niên choai choai ngậm thuốc lá hút phì phèo, đi xe gầm rú inh ỏi. Trong nhà lão Hống cũng loạn vì những cuộc tranh dành tình địch. Có những hôm hàng hóa ế ẩm, trong nhà lão chứa đến vài ả cave, chúng tranh nhau vào ngủ với lão Hống. Tất nhiên chẳng mấy khi kẻ nào chịu nhường bước kẻ nào, giằng xé mãi cuối cùng cũng chẳng đi tới đâu lại rách việc, ồn ã chính quyền đưa dân quân đến trục xuất thì thất thu cả lút, thôi đằng nào chúng ta cũng đã trót đến đây rồi thì tất cả cùng ở lại. Đã thế lão Hống chả ngần ngại chút nào, cái gì đã đến cứ mặc kệ nó đến, cái gì không tồn tại cứ mặc xác tự dưng nó sẽ biến mất, đời thế mà sướng, mà lên tiên, mình ta cứ thỏa sức, kể cả trăm con đàn bà nằm ngửa trên giường cũng chiều, ta cứ việc thỏa sức, có của ăn không hết để mốc cũng chẳng sao, chỉ sợ nhiều lúc túng quẫn tìm không ra. Không bù những khi rình mò, soi mói chúng nó chửi xơi xơi. Cái giống đàn bà đã dễ thì hết chỗ dễ, đã khó rồi lại còn bị chồng chúng nó kiểm soát, đôi khi chẳng được gì vớ vẩn lại mua đòn vào người như chơi. Thật là sung sướng khi cuộc đời này được tự do! Thật là hạnh phúc khi xã hội này dân chủ, đứa nào còn bảo ta bỉ ổi nữa nào? Đứa nào chê ta vô học nữa nào? Chúng mày nói đạo đức, chúng mày bảo nhân cách, nhưng chúng mày chỉ bốc phét, thử hỏi mấy con đĩ xem cái bộ mặt thật của mọi người ra làm sao? Ôi! Đời sống này bất tận quá, cái gì cũng bất tận, chỉ tiếc rằng không đủ sức đi hết chiều dài của nó, con người cũng chỉ sống một lần rồi chết đi. Liệu khi chết đi rồi tiền tài địa vị có mang đi theo được không? Ta nói cuộc đời này cái gì cũng sướng, nhưng ta chưa đến điểm cực đại của nó nên khổ lắm.

Đến cuối cùng lão Hống cũng nhận ra một đường tròn ba trăm sáu mươi độ cũng chỉ bằng không. Lão Hống lại quay về điểm xuất phát ban đầu. Khi lão chợt nhận ra điều đó thì đã muộn, đầu lão tóc đã lốm đốm bạc, lão chỉ còn tấm thân tàn ma dại, chẳng còn tí sức lực nào mà làm lại cuộc đời nữa. Mà lão đã nghiện rượu mất rồi, chỉ cần có rượu suông cùng mấy quả ổi xanh lão cũng lai rai được cả ngày, không có chất men vào cơ thể là chân tay lão cứ run lật bật, mới nửa đời người mà trông giống một ông già thất thập. Đàn bà con gái chẳng phải sợ lão nữa, đến con ruồi đậu lên mép lão còn không muốn đuổi, nhưng người ta sợ vì dính vào lão là gặp phải đỉa, lão lê la khắp làng xem nhà nào có việc đến giúp đỡ cho một tay, và người ta biết thừa cái lòng tốt của lão, quen mui rồi lão bám riết lấy người ta, ngày nào lão cũng đến ở lỳ cốt là để kiếm cốc rượu đổ vào cái họng đang khát.
Kể ra cũng đáng đời nhà lão Hống. Đang đứng trên núi cao tự nhiên lại gieo mình xuống vực thẳm, ở cái làng này ối người còn phải ngóc đầu lên từ dưới đất, từ hai bàn tay trắng nhưng họ biết tích cóp, kiến tha lâu ắt sẽ đầy tổ. Chẳng bù cho lão Hống bán hết miếng đất này đến ngôi nhà khác, ngồi trên đống tiền đấy, nhưng mà miệng ăn núi lở, của chìm của nổi đào mãi cũng hết, số tiền bán nhà đã sạch sành sanh…

Dạo này người làng đi đâu hết? Nhà nào cũng đóng cửa im ỉm, họ bảo bọn nghiện hút hay vào làng sục sạo lắm, người đang ngồi trong nhà uống nước chỉ nghe mỗi tiếng “quác” mà chạy ra đã mất con gà, cái bọn nghiện ăn cắp nhanh như chả chớp, gặp ai chúng cũng chào hỏi tử tế lắm, nhưng sểnh mắt là chúng thó mất đồ ngay, gặp giẻ rách với chổi cùn chúng cũng vơ, miễn sao kiếm được dăm nghìn rồi nói khó người ta bán cho một tép thuốc Tàu. Nghe nói cái loại thuốc ấy chích vào mạch máu nhanh chết lắm. Bọn Tàu toàn làm hàng dởm bán, cả rượu uống chúng cũng chế tác thành những viên nhỏ như đầu ngón tay, chỉ cần thả một viên vào ca nước lã là có ngay rượu trắng, cái loại rượu ấy bán rẻ hơn nước lọc. Lão Hống cũng nghiện, nhưng mà nghiện rượu không ai xếp vào danh sách những kẻ tình nghi.

Không ai ngờ kẻ cắp nhanh nhất lại là con chó của nhà lão Hống, từ trước đến giờ nó có được chủ cho ăn bữa nào? Ngược lại giờ này con chó đền ơn lại chủ, sự trung thành đấy cũng chẳng qua là cách sống của loài chó. Có một điều nó không thể hiểu, sự vắng mặt của lão Hống người ta sẽ cho nó là con chó vô chủ. Dĩ nhiên là con chó biết xung quanh nó đang có nhiều kẻ rình rập, mấy tay trộm phục bắt cả tháng trời cũng chẳng làm gì nổi, ngay cả lão Hống đã có lần bán nó cho một quán thịt chó nhưng một hôm laị nhìn thấy nó lù lù mò về. Kể từ đó con chó không bao giờ dám lại gần mỗi lúc lão tỉnh rượu, nó phải cảnh giác với từng cử chỉ của con người, trừ những lúc lão say nó mới mon men đến ăn những đống thức ăn do chủ mửa ra từ miệng. Đã từ lâu con chó không được chủ nuôi nấng, bản năng giống nòi bắt buộc nó phải lao đi tìm kiếm sự tồn tại, lão Hống say sưa bao nhiêu thì ngược lại nó bắt đầu khôn ranh chừng ấy, nó trở về nguyên hình của một con mãnh thú, thường xuyên bắt gà của hàng xóm nhưng chưa ai phát hiện được. Và trong thời gian ấy người ta thấy lão Hống không lang thang ngoài đường nữa, có người bảo gan lão đã khô như nấm linh chi, kể ra cũng tội nghiệp. Nhưng có người không tiếc lời rủa; chắc dạo hết tiền nên phải nằm co ro ở xó nhà, lúc ăn sung mặc sướng thì chẳng hề biết đến ai, chết thế mới đáng đời những kẻ vô chừng mực. Nhưng ít ai biết được chính lúc này lão Hống chẳng phải mò mẫm, ngày nào con chó cũng tha về một con gà to tướng, lão chỉ cần cướp lại của nó…

Dạo ấy làng thực hiện xây dựng môi trường theo nếp sống văn hóa mới. Đương nhiên những quán đèn xanh đèn đỏ sẽ bị dẹp hay bắt chủ bỏ tù, bọn nghiện hút cũng nghe tiếng mà rạt đi nơi khác. Lão Hống trở thành con người tàn dư cần có biện pháp giúp đỡ. Trước tiên người ta giao cho lão công việc dọn vệ sinh, hàng ngày lão đẩy chiếc xe cải tiến đi hót rác nhưng được một thời gian thì bỏ bê, cái việc ấy bắt buộc phải bàn giao cho người khác. Công việc ở làng thì rất nhiều nhưng chẳng ai muốn gọi lão Hống đến làm thuê, mất đồng tiền cũng phải thu lại năng xuất lao động xứng đáng! Thế rồi hội Chữ thập đỏ phải quyên góp tiền mua cho lão tạ thóc để sinh sống qua ngày.
Lão Hống là kẻ thất nghiệp nhưng hằng ngày vẫn sống nhăn nhở như thường! Thật là bỉ ổi, chẳng phải lao động vất vả cũng có ăn, trước bàn dân thiên hạ người ta coi lão như đống giẻ rách nhưng cái mặt lão vẫn trơ trơ. Chỉ còn nước đến nhổ nước bọt vào mặt lão cho bõ ghét! Nhưng ghét lão thì được gì nào? Nhà mình có phải hầu lão đâu mà ghét! Một khi con mọt rượu đã ngoài năm mươi tuổi rồi thì cũng chẳng còn sống được bao lâu nữa đâu! Những chiếc xe máy Tàu nát bươm cũng tại vì người ta bắt ép nó cõng hết công xuất, bản thân nó đã đểu lại còn chất đống lên bắt nó chạy ìn ìn, ngữ như nó chỉ đáng tống vào lò nung sắt vụn. Lão Hống cũng có một thời sống hết mình, ả này cô nọ cứ lần lượt kéo đến vắt kiệt nhựa sống trong cái thân thể đốn mạt kia.

Bà cụ đẻ ra lão Hống chiều con quá nên đến bây giờ vẫn bị người đời trách móc, giá như cụ chịu lắng nghe người khác dạy con biết lao động thì đâu đến nông nỗi này! Thời trước bà cụ là người phụ nữ biết chịu thương chịu khó, người ta kể bà đi công nhân nhưng vì trót ăn cơm trước kẻng nên mới phải bỏ nghề. Bà luôn nghĩ rằng đời mình bất hạnh rồi nên phải cưng chiều không để con vất vả, chẳng qua đấy là sự dốt nát cộng với thái độ nâng niu nên thành ra làm hại cho người khác. Thà rằng bà cứ dạy con biết tự lực từ nhỏ thì đến khi nhắm mắt xuôi tay chả ai đào bới mình lên nói nữa. Vì lão Hống mà khiến bà cụ chết đi rồi người khác vẫn chê cười. Chẳng thế nên con cái nhà tử tế không đứa nào dám kết thân cùng lão.

Người sống với người bạc hơn chó. Con chó của lão Hống tuy bị chủ nó kết án tử hình rồi nhưng vẫn không hề phụ bạc, chắc có lẽ chỉ có mình nó mang phận chó nên mới sống chung dưới một mái nhà cùng lão được lâu đến thế, những người khác vì nhiều lý do nên đã từ bỏ lão mà ra đi không ngoái đầu lại nữa.
Cuối cùng ở làng đã xẩy ra một vụ án mạng vô cùng hóc búa. Tất cả tình tiết dẫn đến nguyên nhân xẩy ra cái chết của lão Hống không ai ngờ tới. Thủ phạm giết chết lão chẳng phải ai khác lạ mà chính là con chó của nhà nuôi. Phen này cái chết của lão Hống chẳng làm cho báo chí bán chạy ào ào! Tuy cảnh sát đã đến kết luận chính xác nguyên nhân lão Hống chết là do chó cắn nhưng các phóng viên cứ dựa vào đấy tha hồ mà viết. Họ viết ngược, viết xuôi, rồi xáo tung cả cuộc đời lão Hống trên trang giấy. Lão Hống chết người làng chẳng ai thổ lộ cảm xúc vui buồn. Người ta nói bỉ ổi quá đến nỗi người đi ăn cướp của chó, rồi con chó đến nước đường cùng cũng phải quay đầu lại cắn chủ. Mà con chó ấy không quay đầu lại cắn lão Hống mới là lạ, một lần lão bán nó cho người ta làm thịt nhưng số nó chưa chết, nó chớp được thời cơ thoát thân quay trở về tiếp tục sống trung thành với chủ. Rồi con chó chẳng hề được chủ cho ăn bữa nào, nó phải tự kiếm ăn bằng bản năng vốn có nhưng gã chủ phũ phàng quá! Gã không để cho nó được hưởng mà giành hết miếng ngon và chỉ để lại vài mẩu xương khô khốc. Hôm đấy bắt buộc nó phải phản chủ tại vì lão đóng cửa nhà lại đòi bắt chó mang bán, đến nước đường cùng con chó ấy phải lao vào cắn toạc cổ họng đối phương như những lần hạ sát con mồi.

Trần Đức Tĩnh
Hà Nội
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 353)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
11 Tháng Bảy 20265:19 CH(Xem: 558)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
11 Tháng Bảy 20262:04 CH(Xem: 645)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1139)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
08 Tháng Bảy 20265:41 CH(Xem: 980)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1114)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1644)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1661)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20264:45 CH(Xem: 1562)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1555)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10447)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17263)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16338)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16792)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1113)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1660)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1684)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2466)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 556)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 979)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1561)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1409)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 350)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1137)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1643)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1555)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 640)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3147)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3105)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3666)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2212)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13957)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30087)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36162)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11647)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13100)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2924)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 4150)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 4088)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4614)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 5137)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8355)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7751)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10670)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.