- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Bạn Tôi

27 Tháng Sáu 201312:00 SA(Xem: 75545)


ngaycuoicuocchien-nick_ut-ap-content
  Vietnam 1975- Photo Nick Ut / AP

Bạn Tôi

Tháng 3 năm 75, cái hiền hòa thơ mộng của thành phố Nha Trang đã biến mất. Đà Nẵng đã thất thủ, dân và lính từ Kontum, Pleiku đang ào ạt đổ về thành phố biển. Thành phố bụi bặm và đông nghẹt người di tản với khuôn mặt ngơ ngác lo âu, những chiếc xe M-113 phủ lá cây ngụy trang từ Tây Nguyên ầm ì chạy vào thành phố và ngồi sau những khẩu đại liên là những người lính mệt mỏi đăm chiêu.

Lũ học trò tụi tôi không còn đàn đúm vui đùa hay bàn luận về các bài học luyện thi tú tài nữa. Trong lớp thấy thưa thớt dần đi, một số đã theo gia đình di tản vào Sài Gòn. Nhà trường mở tung kho học bạ để hoc sinh tự do tràn vào tự tìm lấy hồ sơ của mình trước khi rời thành phố. Tôi bước chân vào văn phòng học bạ nằm phía tay trái của cổng chính, đây là một văn phòng mà tôi sợ nhất vì sổ học bạ của tôi đầy những cặp trứng vịt quái ác. Nhưng ngày hôm đó tôi cảm thấy bâng khuâng xao xuyến khi thấy những cuốn sổ học bạ màu đỏ quăng tung tóe trên bàn và dưới đất. Văn phòng đã bỏ ngỏ và còn rất ít nhân viên làm việc. Trường Võ Tánh mình cũng đã tan hàng hay sao?

Mấy chiếc áo sơ mi trắng có bảng tên trường trên túi áo của tôi đã quá dơ được thay thế bằng áo ka ki vàng đầu đội nón bo lính để chống nắng vì mấy tuần lễ tình nguyện lao động khiêng dọn bàn ghế ra ngoài và phối trí giúp người tị nạn dọn vào tạm trú trong các lớp học. Buổi chiều về nhà ăn qua loa xong chạy vào trường làm việc tiếp. Đêm tối ngồi bên cạnh những người lính BĐQ để nghe kể về cuộc lui binh trong máu và nước mắt ở Che Reo, Phú Bổn và thấy lòng mình cũng bốc lên cơn phẫn nộ. Mình thua dễ dàng thế sao?

Cũng trong sân trường Võ Tánh tôi không bao giờ quên một bà chị thật đẹp, không phải nét đẹp son phấn yểu điệu thục nữ của người thành phố, nhưng chị đẹp vì vẻ dáng chắc chắn ngang tàng và bộ quần áo dân sự bạc màu nhàu nát và lấm lem đất đỏ cao nguyên. Chị lớn tiếng đòi bắn bỏ những người có trách nhiệm đã làm mất Kontum-Pleiku, trên tay của con cháu hai bà Trưng này cầm lăm lăm một khẩu tiểu liên carbine M-2 báng xếp. Không biết chị là ai nhưng chị nhìn ngầu quá và có phong cách của một người chỉ huy, mở đường máu về được tới đây không phải là công việc bình thường của người phụ nữ. Nhưng giặc đến nhà đàn bà phải đánh!

Phụ nữ mình hào hùng và kiên cường, thế mà sao ta phải di tản một cách tủi nhục như vậy? “Chị ơi, em học ở đây, chị còn súng không chị, tụi em cần trang bị để bảo vệ trường và nếu cần tử thủ ở Nha Trang”. Chị nhìn tôi và im lặng, sau vài phút chị kêu một anh thanh niên dẫn tôi qua bên kia đường trước một quán chè có chiến xe Dodge nhà binh để lấy súng. Nhìn đống súng trên xe tôi đã kính phục vì những người này khi rút lui đã không bỏ súng đạn lại cho quân giặc. Một anh chuẩn úy BĐQ đưa tôi khẩu súng phóng lựu M-79, mủ sắc, áo giáp và nói “ông ở lại đây giữ lấy cây này mà xài”.

Bữa trưa hôm ấy đi bộ về nhà ăn cơm trưa, con đường Hoàng Hoa Thám trở nên vắng vẻ vì dân địa phương và người tị nạn từ các nơi về mấy tuần trước đó đã di tản vào Cam Ranh. Đầu óc của tôi chập chờn quay cuồng hình ảnh những thanh niên trẻ NDTV của Tiểu Khu Bình Long dùng M-72 để bắn xe tăng T-54 VC trong cuộc chiến mùa hè đỏ lửa. Tại sao không tổ chức tử thủ ở đây nhỉ, những câu hỏi phẫn uất bùng nổ trong đầu. Một chiếc xe Tuần Cảnh đi kè kè chậm lại, những người Cảnh Sát nhìn tôi dò xét như muốn chặn lại hỏi giấy tờ. Không hiểu sao họ gật đầu chào rồi lái xe đi thẳng. Có lẽ cái áo ka ki vàng dơ bẩn của tôi, mặt mủi hốc hác đen xạm cau có, lại choàng thêm cái cái áo giáp bên ngoài và tay cầm súng M-79. Chắc mấy bố Tuần Cảnh thấy mặt mủi thằng này hung dữ quá, chắc nó mới ở Pleiku chạy về. Giờ này còn giấy tờ gì nữa cha, có đạn M-79 không xin vài trái coi.

Hôm sau quay trở lại trường thì thấy hoang vắng, bước vào các lớp học trống không thấy nhớ nhớ và buồn buồn. Mình đã từng ngồi học nơi đây bao nhiêu năm, và đã khiêng bàn khiêng ghế để ân cần đưa từng gia đình của dân tị nạn vào đây. Cũng nơi này đây ngồi vẽ bậy và khắc tên mình lên mặt bàn, đã đè đầu Dũng Ngựa xuống mặt bàn và đấm một quả hết lực vào màng tang nó mà tưởng cổ tay mình trật gân đau buốt vì không ngờ cái đầu con Ngựa quá cứng, bạn thật thân nhưng khi gây gổ đánh nhau cũng thật đau.

Những giây phút sau cùng không quên được với bạn bè và các thầy trước khi tan hàng, là có một bạn gia đình có nhà cho Mỹ thuê nên khi Mỹ di tản bỏ lại mấy chai rượu Whisky chưa uống hết nên ông này đem một chai vào lớp. Một lớp năm sáu chục đứa khi chia tay chỉ còn khoảng hơn 10 thằng, đứng thành một vòng tròn, chuyền nhau chai rượu rót vào nắp rồi đánh ực mặt nhăn nhó vì có đứa lần đầu tiên uống rượu mạnh. Vị Giáo Sư duy nhất của trường còn lại lúc ấy lại là thầy Giám Học, hung thần của kỷ luật, người đã bắt tôi mấy lần vì tội để tóc dài, bỏ áo ngoài quần, dùng cổng ra vào dành riêng cho các thầy v.v. Thầy cũng đứng trong cái vòng người tội nghiệp ngây thơ đó để nâng nắp khà một hớp rượu. Không ai nói lên lời, im lặng buồn buồn và không biết có còn gặp lại nhau không.

Trực thăng bắt đầu xuống bốc người ở khu vực Tổng Lãnh Sự Mỹ, những loạt đạn phẫn uất nổ rang đó đây. Ngoài đường chỉ còn vài người đi nhớn nhác trên đường phố hoang vắng như mộng du. Thành phố thân yêu đã bỏ ngỏ và đang hấp hối. Không có tử thủ như ở An Lộc Anh Hùng. Tôi bỏ xấp học bạ của mình vào một cái ba lô nhà binh, đạn dược mủ sắc áo giáp và súng M-16 sẳn sàng để rút theo quân đội. Hy vọng đến được Cam Ranh hay Phan Rang phòng tuyến của phe ta.

Đêm xuống phố Độc Lập lửa cháy bập bùng, những toán người võ trang như bóng ma đi giữa lửa khói. Một người NDTV đi giữa đường khuông mặt lầm lì bóng loáng mồ hôi phản chiếu ánh lửa và khẩu trung liên BAR chỉa ngang như sẵn sàng khạc đạn làm tôi nhớ đến những đoạn phim “Combat” có hình ảnh Âu Châu hoang tàn thời đệ nhị thế chiến.

Xe đến gần Cam Ranh thì kẹt cứng vì cầu đã bị phá sập. Trời lại mưa và tôi cảm thấy lạnh buốt vì vết thương nơi chân ra máu khá nhiều. Mặc kệ, xe không đi được nữa thì mình bỏ xe xuống đi bộ, phải về cho được phòng tuyến của phe ta. Khoát ba lô lên vai, mũ sắt áo giáp, tôi dùng súng M-16 làm gậy chống, khập khểnh bước đi trên con đường lầy lội bùn nước, mỗi bước đi là máu tươi vọt ra từ vết thương đau buốt. Làm sao mình qua bên kia sông được với vết thương như thế này và không thể quay trở lại đầu hàng kẻ thù. Súng đạn này này để làm gì, hình ảnh quân dân miền Nam đã bắn cháy xe tăng địch ở Bình Long Anh Dũng vang dội trong đầu. Tôi cũng nghĩ đến tấm gương của Võ Tánh đã nổi lửa và chết theo thành, dân tộc ta là dân tộc anh hùng và tại sao ta không đánh cho tới người cuối cùng để bảo vệ thành phố thân yêu này?

Quay trở về Nha Trang vì tôi không thể đi bộ với vết thương nơi chân. Đêm đó Nha Trang cúp điện, thành phố chìm vào bóng tối. Tôi nửa mê nửa tỉnh vì mất nhiều máu, thấy leo lét ánh đèn cầy chập chờn và những bóng áo trắng của các đoàn viên Hồng Thập Tự Việt Nam đang lúi cúi phía dưới, hình như ai đó đang băng bó tôi. Trong cơn mê tôi cảm thấy mặt đất rung chuyển và tiếng động cơ ì ầm. Xe tăng T-54 của quân thù đang vào thành phố. Sao không ai bắn vào xe của chúng nó? Ta quyết không đầu hàng, Việt Nam ơi.


Tháng 9 năm 1985

Rồi mình cũng đến cái tuổi 29, tuổi học trò với những mối tình ngây ngô hời hợt đã qua lâu rồi. Bây giờ 29 tuổi mắt sáng tâm hồn lồng lộng yêu thương và đi giữa đoàn người võ trang với niềm tin sắc đá. Một buổi sáng dừng quân bên triền núi, nhìn bên kia đồi thấy từng cụm mây lững lờ phía dưới mà thấy mình như thoát tục, những ưu phiền của đời sống đã để lại phía sau. Một anh đi bên cạnh đùa “chúng mình là những tiên ông, nhìn kìa mây đang trôi phía dưới chân chúng ta”. Ngắc một đóa Lan rừng thật đẹp cắm lên ba lô và chạnh lòng nhớ đến những người bạn năm xưa. Nguyễn Xuân Đừng, Đừng "Ghẻ" ơi tao sẽ rửa mối hận cho mày.

Có một lần nấu ăn, hùn tiền nhau mua bia và tổ chức nhậu ở nhà và mời các ông thần Võ Tánh đến tham dự cuộc vui . Đêm khuya 2 giờ sáng tiệc đã tàn, tôi thức dậy, đứng im lặng nhìn lũ bạn thân nằm ngủ lăn lóc trên đi văng, những khuôn mặt vô tư đang say ngủ thật bình yên. Nhưng khi thấy Nguyễn Xuân Đừng nằm ngủ co quắp với khuôn mặt nhăn nhó như đau đớn lắm đã làm tôi bâng khuâng lo lắng. Đừng ơi, tao sợ số mày sau này sẽ khổ, tao thương mày lắm và luôn luôn muốn được bảo vệ mày.

Đừng học rất giỏi và tính tình hiền lành không gây sự ai. Nó thường kiên nhẫn chỉ tôi cách giải những bài toán mà cái đầu bò của mình nghĩ mãi không ra.

Gia đình của Đừng ở trong một con đường hẻm của một khu rất bình dân mà hầu như ngày nào tôi cũng đến chơi. Tôi hay đòi nó dẫn lên căng gác nhỏ phía trên chơi mà hiếm khi nó chịu, có lẽ nó ngượng vì cái ọp ẹp khiêm tốn của căn phòng chỉ có vài mét vuông. Thân thiết với nó bao nhiêu năm mà chỉ được phép leo lên cái thang dựng đứng để mò mẫm vào căn phòng tối đen của nó khoảng 2 lần. Căn phòng ọp ẹp không có đèn, lợp mái tôn thấp lè tè, tối thui thì làm sao mầy học bài hả mầy, tôi hỏi ngớ ngẩn. Đừng cầm sợi dây điện vặn vặn mấy cái vào cái bóng đèn pin nhỏ bằng cái móng tay. Tao có mấy cục pin quân đội nối vào cái bóng đèn này đủ sáng để đọc sách cũng được. Nhìn ánh sáng yếu ớt của bóng đèn pin tôi kính phục bạn mình vô cùng, và càng thương nó hơn.

Đừng hiền hậu, nói năng chừng mực và không văng tục to tiếng như tôi. Nó không bao giờ từ chối mỗi khi tôi đến rủ rê đi phá làng phá xóm, hình như nó chìu bạn và không muốn làm tôi cụt hứng. Nhiều đêm khuya khi phố xá đã đóng cửa, mọi người đã ngủ, tôi mò đến rủ nó đi coi mắt chó hoang. Trong bóng tối tôi dùng đèn pin rọi vào những con chó chạy lang thang cách xa nhiều khi cả trăm thước, trong bóng tối thấy cặp mắt chó phản chiếu lung linh xanh lè như hai ngọn đèn và 2 thằng ồ lên trầm trồ. Cứ thế đêm đêm đi rình coi mắt chó, mấy em trai của Đừng cũng không ngủ mà đi theo 2 ông anh thập thò trong những con đường tối và cười rú lên từng tràng sằng sặc khoái trá trong đêm vắng.

Có một lần Đừng bị mấy anh em rất du côn ở trong một căn nhà lớn ngoài đầu hẻm gây sự và đánh nó. Tụi này cũng đã có lần xì chó Bẹt-gê cắn Đừng một lần chảy máu tay rồi. Mấy thằng hèn mất dạy ỷ đông bắt nạt thằng bạn hiền lành của tôi. Để tụi nó cho tao nhe mầy. Nhà của tôi nằm khuất ở một góc đường bên cạnh và tôi tính toán khoảng cách đường chim bay từ nhà mình cho tới nhà của mấy thằng du đãng khoảng 70 mét. Phải tổ chức cuộc phản công vũ bão mới được.

Kiếm được 3 cái dàn ná cao su. Tôi, Đừng và một đứa em trai của nó, lượm sỏi đá đựng đầy 3 hộp sắt lớn rồi leo lên nóc nhà của tôi ngồi đợi trời tối. Khi bầu trời đã tối hẳn rồi, tôi chỉ hướng cho anh em Đừng rồi ra lệnh để cả 3 cùng khai hoả những cái ná cao su bắn cầu vòng. Từng viên từng viên đạn thù phóng lên trời đêm nhịp nhàng. Được khoảng 15 phút tôi biểu anh em Đừng cứ tiếp tục bắn để tôi dọt đi trinh sát "đề lô" pháo binh cho chắc ăn.

Chạy vòng qua xóm Đừng, quan cảnh của hiện trường đã làm tôi điếng người. Chung quanh ngôi nhà của mấy thằng du đãng người đứng đông lố nhố, hầu hết họ đứng núp dưới mái hiên hay cột đèn để tránh đạn, tay chỉ lên trời, tiếng người la xôn xao hốt hoảng. Tôi khớp quá vì không ngờ “đồng bào” đổ xô ra đường đông quá. Vì trời tối nên không ai thấy được đường đạn đi nên nhiều vị đứng núp sau cột đèn hay mái hiên lại xoay lưng về phía những họng súng pháo kích. Đứng coi đông như vậy lạc đạn chết cha.

Tôi đi sát mái hiên bên kia đường tránh xa mục tiêu và trà trộn vào đám đông và nghe trái tim của mình đang đánh lô tô vừa sợ và cũng vừa thích chí. Bùm, ken, cốp, choảng... một trái đạn pháo kích chính xác nhiểu trúng bàn thờ phật bà Quan Âm dựng trước sân nhà của bọn du đãng, tiếng thuỷ tinh đổ vỡ loảng xoảng. Một ông già, có lẽ ba của chúng nó ra đứng trước mái hiên nhìn lên trời và không biết ổng đang đứng đối diện với những viên đá đang lao nhanh đến . Ối, trời ơi... vài người phóng ra dìu ông cụ chạy vào trong, ông ôm lấy đầu. Ha ha bể gáo dừa ổng rồi, ai biểu con làm thì cha phải chịu mờ. Rồi tiếng la ó "nó đó nó đó, nó đứng ở cửa sổ kia kìa", vài người chỉ tay về một cao ốc ở đường Độc Lập. Một ông lính cầm súng M-16 hung hăn chạy ra và tốp người rầm rập chạy về hướng đường Độc Lập, họ vẫn chưa biết vị trí súng đặt trên nóc nhà và sau những tàng cây um tùm ở đường Hai Chùa. Người xưa đã có câu phán không ngoa: nhất quỉ nhì ma thứ ba học trò!

Nhưng Nguyễn Xuân Đừng, ngưòi bạn thân yêu của tôi đã chết!

Đừng đã bị đám bộ đội biên phòng ở đảo Trường Sa bắn chết trong chuyến vượt biên năm 1979. Trước khi chết Đừng muốn gặp lại tôi và muốn được đi học đại học ở Mỹ.

Sau khi miền Nam thất thủ, Nguyễn Xuân Đừng vào Sài Gòn thi vào đại học và thi đâu rớt đó . Nó viết thơ tâm sự và ai oán "mày biết rồi, tao học đâu đến nổi tệ, vậy mà thi vào đại học rớt lạch bạch".

Đừng bị bắt đi nghĩa vụ quân sự và gởi sang Kampuchia, nó bị thương nên được về phép. Về nhà Đừng nghe lời bạn bè nên đào ngủ và trốn đi trên một chiếc ghe đi vượt biên.

Ghe vượt biên của Đừng vì bão tố nên tấp vào và mắc cạn ở quần đảo Trường Sa. Đến sáng bộ đội biên phòng phát giác ra chiếc ghe tị nạn nên đứng trên bờ ngoắc mọi người vào bờ. Những người nhẹ dạ nhảy xuống nước tới bụng để lội vào bờ. Đừng khôn hơn nên ở lại ghe. Những tên bộ đội VC đứng đợi sẵn trên bờ chờ mọi người đến gần rồi nổ súng bắn xối xả. Xác và máu người đỏ cả một vùng biển.

Nó giúp những người còn lại trên ghe nhảy xuống nước bơi ra xa thoát thân. VC bắt đầu dùng súng cối bắn ra ghe và Đừng bị trúng đạn bị thương nặng. Nguyễn Hùng Hoàng của 12B1, đẩy Nguyễn Xuân Lộc em trai của Đừng nhảy xuống biển thoát thân. Cả đám bám vào miếng gỗ mảnh vỡ của chiếc ghe bơi ra xa. Đừng ở lại ghe và biến mất sau những tiếng nổ kinh hoàng của đạn cối.

Tổng số 93 người trên ghe vượt biên hôm đó chỉ có 8 người sống sót và sau 2 ngày trôi dạt trên biển, họ được Hải quân Phi cứu vớt. Nguyễn Xuân Lộc bị thương nặng vì bị nhiều mảnh đạn súng cối vào đầu. Tất cả được đi định cư ở Úc.

Ngô Chí Minh một thằng bạn chí thân khác ở 12B1 vượt biên với gia đình cũng bị chìm ghe, chết cả nhà. Nguyễn Hùng Hoàng, sống sót sau vụ thảm sát ở Trường Sa, đang học đại học ở Úc, bị tai nạn xe cũng đã chết.

Có những đêm khuya nằm trên vỏng trong rừng núi chiến khu tôi vẫn nhớ đến bạn bè và đời học trò mình đã đi qua. Nhớ Nguyễn Xuân Đừng nằm ngủ co quắp nhăn nhó khó khăn trên chiếc đi văng ngày nào và hình dung được những giây phút sau cùng của người bạn chí thân đã ngã xuống nơi vùng biển biên giới. Đừng ơi mày ra đi có dễ dàng hay không, hay quằn quại hấp hối đau đớn vì những viên đạn AK và miểng cối ghim vào người. Xin mây gió đưa những lời thề nguyền này về phương Đông nơi biển xanh rì rầm như lời trò chuyện của người bạn hiền năm xưa.

Mưa rơi ào ạt trong rừng rồi rừng núi chuyển động với những dòng nước lũ chảy ồ ạt dưới võng. Tôi ngồi co chân ôm ba lô cô đơn im lặng trong bóng đêm đe dọa, các toán bảo vệ có còn ở chung quanh đây không hay bị cuốn trôi hết rồi. Mưa tạnh, rừng đêm bỗng sáng rực rỡ ánh lân tinh xanh biết huyền hoặc, tiếng tí tách của những giọt nước rơi trên lá cây trên mái poncho, và mùi thơm nồng nồng của núi rừng. Xin hồn thiên sông núi và anh linh của bạn bè thân yêu che chở và hướng dẫn những người còn sống đi đến đích.

Lưu Tú Ngọc

30/04/2013



Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 1694)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 1342)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 1267)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2066)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 1679)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2236)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
07 Tháng Tám 202610:29 CH(Xem: 1647)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 1934)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 2111)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:50 CH(Xem: 2346)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
07 Tháng Tám 2026(Xem: 1647)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11597)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18172)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17231)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2066)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2236)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 3379)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 3552)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 1679)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 3147)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 2925)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 3572)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 1693)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 1933)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 2110)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 2370)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1342)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1267)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 2346)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 2930)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 3851)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14740)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30882)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 37429)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12617)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13874)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 4765)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 7030)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 6312)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 6802)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 7634)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9551)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8779)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11731)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.