- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,468,514

GẶP HAI NHÀ THƠ HUẾ

22 Tháng Chín 201212:00 SA(Xem: 92637)
 

1. GẶP NHÀ THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM

nguyenkhoadiem-nguyenphamhung

 Nguyễn Khoa Điềm & Nguyễn Phạm Hùng

Tôi đến thăm anh một chiều mưa Huế. Nói chính xác là một chiều mưa rằm Huế. Trời xầm xì và mưa lách nhách. Lá cây ướt đầm.

Tôi được gặp anh lần đầu vào năm 1981, 1982 gì đó, tại một Hội nghị khoa học về Vương triều Lý ở Hà Bắc. Khi đó tôi là người nghiên cứu trẻ, còn anh đã là nhà thơ nổi danh, là một “ông quan văn nghệ”. Hình như lúc đó anh là Chủ tịch Hội văn nghệ Bình Trị Thiên. Gọi là biết, cũng chỉ thoáng qua, vì tôi làm văn học cổ, còn anh là nhà thơ hiện đại. Hình như có nói dăm ba câu xã giao.

Sau đó tôi được “gặp” anh nhiều lần, nhưng là qua màn hình ti vi. Tôi không có cơ hội, và cũng không có nhu cầu gặp anh, khi anh là một ông quan văn nghệ to.

Gần đây, khi anh trở về với cõi lặng của nhân gian, của đời người và của xứ Huế, nhân chuyến công tác Huế, tôi chợt muốn đến thăm anh, vô tư và đường đột như một kẻ qua đường chợt dừng chân dưới một vòm cây bên lữ quán, với tư cách một người đọc thơ anh, và anh, chỉ với tư cách một nhà thơ. Đơn giản thế thôi.

Tôi nhờ anh bạn trẻ người Huế hỏi thăm nhà, và chúng tôi cùng đến nhà anh.

Một chiều mưa Huế buồn và lặng lẽ. Một căn nhà có nhiều cây, yên tĩnh và thanh quạnh ở phường Vĩ Dạ. Bạn tôi đã điện thoại trước xin phép gặp anh. Và chúng tôi đội mưa đến. Anh đã tạo cho tôi một ấn tượng mạnh. Hai cánh cổng đã mở sẵn. Dắt xe vào sân, đã thấy chị người nhà đứng đón. Vào nhà, anh đã khăn áo chỉnh tề, chỉn chu, ngồi đợi với ấm trà pha sẵn.

Chỉ với thế thôi, lúc ấy, tôi chợt nghĩ, chẳng cần thăm gì nữa, về cũng được rồi. Chỉ thế là tôi biết thế nào là Nguyễn Khoa Điềm rồi. Một Nguyễn Khoa Điềm bằng xương bằng thịt không có cái giàm danh bên mình, bình dị và gần gũi.

Và câu chuyện của chúng tôi cũng thật giản dị, vu vơ, chuyện đời, chuyện người, chuyện văn chương thế sự… Ngoài kia trời vẫn lách nhách mưa. Giọng anh nhỏ nhẹ và lành. Tôi chợt hiểu, thế nào là cõi lặng của anh.

Trong cái cõi lặng của Huế, của những mái chùa, của dòng sông Hương lặng lẽ chảy trôi, của những thân phận lam lũ bên phá Tam Giang, anh trở về cõi lặng của riêng mình và viết những vần thơ về cõi lặng đó. Tôi đã đọc thơ anh trong những tháng ngày chiến tranh trước đây, nó ám ảnh mãi thế hệ chúng tôi. Tôi đã đọc thơ anh trong những ngày anh làm “ông quan văn nghệ” to nhất nước, thú thực chẳng thấy hứng thú gì, vì mọi lẽ. Tôi đọc “Cõi lặng” của anh trong những ngày Huế thật buồn thật lặng giữa trời mưa thu se se và ẩm ướt.

Nhưng hình như, tôi thấy cõi lòng anh chẳng thanh lặng, vô ưu, vô sự chút nào.

Hình như trong cái Cõi lặng của riêng anh, hay Cõi lặng của đất nước và dân tộc này, vẫn xôn xao những điều chẳng bao giờ yên ả./.


 

2. GẶP NHÀ THƠ TRẦN VÀNG SAO

nguyenphamhung-tranvangsao

 Nguyễn Phạm Hùng & Trần Vàng Sao


Đến Huế, tôi muốn gặp hai nhà thơ, một người “đã lên lên bổng tít bao chừng” là Nguyễn Khoa Điềm, từng là một “ông quan văn nghệ” to nhất nước, và một người ở tận cùng của sự đau khổ, theo những gì tôi được nghe, là Trần Vàng Sao, nhưng lại là hai người bạn chí thân của nhau.

Qua chỉ dẫn của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, tôi và anh bạn trẻ người Huế cùng nhau đến thăm anh Đính (tên thật của Trần Vàng Sao). Tôi đến thăm anh vì sự cảm thông, thậm chí thương cảm số phận trớ trêu của anh. Tôi đến vì sự kính phục tác giả “Bài thơ của một người yêu nước mình”.

Vòng vèo qua vài con ngõ, vài đoạn đường phường Vĩ Dạ, chúng tôi dừng chân trước cổng một ngôi nhà vườn khá rộng thoáng. Đó là một bất ngờ, tôi cứ tưởng anh ăn ở úi xùi lắm khi số phận xô đẩy anh đến bước đường cùng. Nhưng không, một nơi ở đáng mơ ước của nhiều người Huế, thanh lặng và bình yên, có một thân cây to gần như cổ thụ trước nhà nghe nói được người cha của anh trồng từ khi dựng ngôi nhà này. Và với một cuộc sống đầm ấm hình như “tứ đại đồng đường”.

Và bất ngờ hơn, tôi được gặp anh, một con người rắn rỏi, nhỏ bé nhưng quắc thước, tràn trề sự lạc quan, thông minh sắc sảo và đầy cá tính. Từ cái miệng mím chặt, tôi cố hình dung lúc anh “chưởi” nó thế nào? Con người anh như một cái cánh cung queo quắt nhưng đầy sung lực, lúc nào cũng như đang giương lên để phóng vút một mũi tên. Lời anh sang sảng và rành rõ.

Anh ôm lấy tôi chặt ấm như một người thân quen. Anh nói với tôi thân thiết như một người bạn cũ. Anh cởi lòng cởi dạ với tôi như một tri kỷ. Anh cởi mở đến kinh ngạc về mọi điều, từ cuộc đời anh, đến thơ văn, đến công việc, đến triết lý Phật giáo và Thiền Đạt Ma…

Anh làm tôi bị choáng ngợp, bị bất ngờ. Từ cái cảm giác thương cảm vô duyên, tôi bị khuất phục thành kính trọng, khâm phục và có phần nể sợ một tâm hồn, một cốt cách, một phong thái.

Trong con người anh có cái hiền dịu của một người già xứ Huế, nhưng có cái sắc mạnh đầy nội lực của Thiền. Trong căn phòng khách khá xuề xòa chất ngổn ngang bừa bộn sách vở, nhưng ấn tượng mạnh nhất với tôi là những bức tranh Bồ Đề Đạt Ma anh vẽ treo la liệt trên tường và vương vãi khắp phòng. Tôi bỗng nhìn thấy hầu hết những bức tranh vẽ Bồ Đề Đạt Ma đều có dáng vẻ của anh, và ngắm anh, tôi lại thấy có cái gì đó hao hao giống Bồ Đề Đạt Ma.

Cuộc đời là một bể khổ, người ta phải vượt qua bể khổ đó để đến bến bờ sung sướng, hạnh phúc. Bất chợt, tôi thấy dáng anh dường như không có dáng của người đau khổ, mà sung mãn và sung sướng. Phải chăng anh đã Giác Ngộ? Phải chăng người ta chỉ có thể đến được bến bờ Giác Ngộ khi bị rơi vào Bể Khổ, và nhất là khi vượt qua được Bể Khổ đó?

Tôi cứ băn khoăn, anh đang đau khổ hay đang sung sướng? Anh đang hạnh phúc hay đang bất hạnh?

Và chợt nhìn lên những bức tranh Bồ Đề Đạt Ma treo la liệt trên tường và vương vãi khắp phòng, tôi bỗng rùng mình thức nhận./.


NPH



Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 2782)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 6738)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
06 Tháng Bảy 20153:00 SA(Xem: 3570)
Ngày 4/7/1407, tại Kim Lăng, kinh đô đầu tiên của Đại Minh từ 1368 tới khoảng năm 1421, Chu Lệ hay Đệ [Zhou Li] miếu hiệu Thành Tổ (Ming Zhengzu, 17/7/1402-22/8/1424) họp triều thần, chấp thuận lời xin của “1120” kỳ lão xứ Giao Châu [An Nam] hơn hai tháng trước là “con cháu nhà Trần đă chết hết không người thừa kế…. Giao Châu là đất cũ của Trung Hoa xin đặt quan cai trị, để sớm được thánh giáo gột rửa thói tật man di.” (1) Hôm sau, 5/7/1407, Chu Lệ ban chiếu thành lập “Giao Chỉ Đô Thống sứ ti” [Jiaozhi dutong tusi], một đơn vị quân chính cấp phủ hay tỉnh [Provincial Commandery]. (2) Và, như thế, sau gần 500 năm tái lập quốc thống dưới tên Đại Việt—hay An Nam, từ 1164/1175—nước Việt trung cổ tạm thời bị xóa tên.
01 Tháng Tám 202012:48 SA(Xem: 616)
tình yêu một lần có thật thức dậy từ con mắt bình minh cơn mưa đầu mùa nồng nàn cầu vòng hò hẹn
29 Tháng Bảy 202012:55 SA(Xem: 284)
Có dăm hạt thóc cũng vừa / Đơm bông trên đỉnh thượng thừa đêm qua / Chúng sinh đại địa sơn hà / Theo nhau bước xuống chuyến phà đại bi./
23 Tháng Sáu 202011:48 CH(Xem: 1417)
tôi không một mình / thật ra có nhiều người quanh tôi / thậm chí có người luôn bên cạnh săn sóc tôi / nhưng tôi nghĩ đến anh, trong giấc mơ
10 Tháng Sáu 20205:57 CH(Xem: 1368)
Tôi không biết nói thế nào về nỗi buồn / Dưới từng lỗ chân lông có một đàn kiến đói / Ăn ăn ăn / thân xác tôi tê mỏi / Chiếc linh hồn đau nhói giữa cơn mê /
02 Tháng Sáu 202010:06 CH(Xem: 1129)
Đã từ lâu tôi có một thói quen xấu, khi đọc thơ trí não tôi tự động phân loại rành rọt. Một: loại thi ca gây cho mình cảm hứng. Hai: loại không gây cảm hứng nếu không muốn nói làm mình mất hứng. Vậy mà lật tới lật lui, đọc đi đọc lại, tật xấu không nổi lên. Thay vào đó tôi thấy mình chăm chú lắng nghe. Tôi trở lại lần tay trên bìa sách, khoảng trắng với những vân vạch to nhỏ ngắn dài của biểu đồ tần số như phát lên một âm thanh vừa rè đục vừa trong vắt. Ở một nơi chừng như trống rỗng trắng xóa, ý tưởng mọc lên giữa âm thanh nhiễu loạn. Và bài Radio mùa hè tiếp tục văng vẳng
02 Tháng Sáu 20209:59 CH(Xem: 1180)
Ve, loài côn trùng quen thuộc với tôi từ tấm bé, nhưng vì sao lại gọi là ve sầu thì tôi không rõ lắm. Mãi sau này biết sầu, mới dần dà nhận ra (!) Ngày xưa rất xưa, thời dân làng chỉ nhận tin qua giọng loa vang vang sau tiếng cốc cốc của mỏ làng vào rạng sáng hay lúc chiều sập tối, thủa tôi còn loăng quăng bám chéo áo ngoại ra vườn, tiếng ve đã in vào trí óc non nớt của tôi rồi.
02 Tháng Sáu 20208:51 CH(Xem: 1109)
Sóng ngàn năm viết tình sử yêu bờ / Trăng tan trong đêm như tình yêu vào nhau là thế / Phố em, xưa nức mùa cốm ngậy / Tràn vào anh, những giọt yêu chưa cởi yếm / những đồi sống và mùa đòng thiếu nữ / ... Ngọn gió hồn nhiên anh miết dở