- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 9809 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,188,752

Sự Hình Thành Phong Trào Quốc Gia Mới: Từ “ Trung Quân” Sang “Ái Quốc”

09 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 63373)
vunguchieu

Là một dân tộc đã có ít nhất ngàn năm lịch sử thành văn, từng nhiều phen đổ xương máu để bảo vệ chủ quyền của mình và đồng thời mở mang bờ cõi về phía Nam, từ đầu thế kỷ XX, người Việt bắt đầu chiêm nghiệm lý do thất bại của các phong trào Cần Vương, Văn Thân v... v... Kết luận mà đại đa số đều đồng ý là tình trạng chậm tiến của nước Việt, và nhu cầu canh tân, nâng cao dân trí trở nên cấp bách. Tuy nhiên, họ chỉ đồng ý đến đó. Câu hỏi “Cách nào để canh tân?” mang lại nhiều đáp án.

Trong số những nhà ái quốc chủ trương duy tân có hai khuynh hướng chính:

- Một số nghĩ rằng trước hết phải giành được độc lập, rồi sẽ canh tân. Nhật Bản, vì sao đang lên ở Á Châu, được coi như mẫu mực. Cuộc chiến tranh Nga-Nhật (1904-1905) càng khiến họ thêm nể phục nước “đồng văn” này. Bởi thế, họ tìm đường sang Nhật cầu viện, và chủ trương “quân chủ lập hiến.”

- Số khác, dù cũng ngưỡng mộ Nhật Bản, muốn Âu hóa hoàn toàn. Họ chủ trương nên hợp tác với Pháp để canh tân xứ sở, kể cả việc đổi sang chế độ dân chủ, sau đó mới lo được việc giành độc lập.

Hai khuynh hướng này chi phối hầu hết các phong trào “duy tân” trong nước vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

I. GIAI ĐOẠN 1897-1907:

A. PHONG TRÀO “ĐÔNG ĐỘ” HAY “ĐÔNG DU:

Khuynh hướng thứ nhất–tức giành độc lập trước, duy tân sau–do Cử Nhân Phan Bội Châu (1868-1940) và các đồng chí đề xướng. Hoàng thân Cường Để (1882-1951) dòng dõi Hoàng tử Cảnh được chọn làm Minh Chủ.

1. Sơ lược thân thế Phan Bội Châu (1868-1940):

Phan Bội Châu, tức Phan Đình San, theo lời tự thuật, sinh tháng 12 năm Đinh Mão (đầu 1868 hoặc cuối 1867) tại quê ngoại là làng Sa Nam, xã Đông Liệt, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Tài liệu mật thám Pháp ghi Phan Bội Châu sinh năm 1868 tại làng Đan Nhiễm, tổng Xuân Liễu, huyện Nam Đàn, tức quê nội, nơi thực ra Phan Bội Châu chỉ trở lại khi đã ba tuổi. Trong đời hoạt động, Phan Bội Châu còn có nhiều tên khác như Bả Mệ, Sào Nam Tử, Võ Lang, Phan Đình Hân, Trần Tá Hoa, Mễ Điền (do chữ Phan tách ra: Mễ và Điền).( 1)

Phan Bội Châu nổi tiếng học giỏi từ nhỏ, nhưng đường thi cử lận đận. Khóa Đinh Dậu (1897), can tội mang tài liệu vào trường thi, và bị cấm thi trọn đời. Từ đó lưu lạc ra Bắc Kỳ, rồi vào Huế làm thày đồ trong nhà Cử Nhân Võ Bá Hạp. Tại kinh đô, Phan Bội Châu giao du với nhiều nhân vật nổi danh và được Hoàng Giáp Tiến Sĩ Nguyễn Thượng Hiền (1865-1925) “điểm nhãn” qua nhiều tác phẩm giá trị cũng như giới thiệu với Tăng Bạt Hổ.( 2)

Năm Canh Tý (1900), nhờ sự can thiệp của Tổng Đốc Nghệ An là Đào Tiến, Phan Bội Châu được dự thi Hương, và đậu đầu trường Nghệ. Nhưng vì tang cha, không được dự kỳ thi Hội 1901. Trong hai năm 1901-1902, ông mở trường dạy học ở quê nhà, đồng thời liên kết với sĩ phu địa phương để nổi dạy chống Pháp. May nhờ Tổng đốc Trần Đình Phát (con Trần Đình Túc) và Thượng thư Đào Tiến che chở nên được bình yên. Năm 1903, Đào Tiến cân nhắc Phan Bội Châu vào “tọa giám”–tức ăn lương trường Quốc Tử Giám để chuẩn bị khóa thi Hội năm 1904.

Theo Phan Bội Châu, chuyến vào Huế nhằm mưu tìm minh chủ và liên kết đồng chí. Trong hai năm kế tiếp, mục tiêu của ông đã đạt. Năm 1903, Tăng Bạt Hổ giới thiệu Cử nhân Châu với Nam Tinh Nguyễn Hàm [tức Thành], Sơn Tẩu Đỗ Tuyển, hai cựu thủ lĩnh nghĩa hội, và một số nhân sĩ Nam-Ngãi khác. Tháng 4/1903, qua trung gian một đại thần, Phan Bội Châu tiếp xúc và được Cường Để nhận làm minh chủ.( 3)

Thừa lệnh Cường Để, tháng 9/1903, Phan Bội Châu ra đồn điền Phồn Xương, Bắc Giang, xin gặp Hoàng Hoa Thám, nhưng thủ lĩnh Yên Thế không tiếp. Tháng 2/1904, Phan Bội Châu vào Nam gần ba tháng, chu du khắp nơi, nhưng chỉ kết nạp được ông đạo Trần Nhật Thị ở Thất Sơn (Châu Đốc). Nhờ chiêu bài Cường Để, một số giáo mục và giáo dân từ Quảng Bình tới Nghệ An cũng ủng hộ. Đa số giáo mục và giáo dân đều thuộc địa phận Bắc Đàng Trong của Giám mục Louis Pineau. Sau này, còn có những cộng đồng Ki-tô ở Xiêm La.( 4)

2. Duy Tân Hội & Phong Trào Đông Độ:

Trở lại Huế, Phan Bội Châu soạn tập Lưu Cầu huyết lệ tân thư gửi các quan triều, gây được tiếng vang. Nhưng kỳ thi Hội năm ấy ông không đỗ. Tháng 12/1904, Phan Bội Châu cùng các đồng chí họp ở Quảng Nam, chính thức thành lập Duy Tân Hội.( 5) Mọi người đề cử Phan Bội Châu qua Trung Hoa và Nhật mua khí giới.

Tháng 2/1905, Phan Bội Châu được Tăng Bạt Hổ (Lý Tuệ) dẫn đường vượt biên sang Hoa Nam. Sau khi tiếp xúc với một số lãnh tụ lưu vong như Tôn Thất Thuyết, Đề Đốc Trần Xuân Soạn, Tán tương Nguyễn Thiện Thuật v.. v... ở Sa Hà, Triều Châu, Phan Bội Châu qua Nhật vào tháng 5/1905. Lương Khải Siêu (1875-1929)–đã trốn khỏi Trung Hoa sau biến cố 1898, đang chủ biên tờ Dân Báo [Ming Pao] ở Yokohama (Hoành Tân)–giúp Phan Bội Châu ấn hành tập Việt Nam Vong Quốc Sử để quảng bá tinh thần kháng Pháp. Lương còn giới thiệu Cử nhân Châu với một số nhân sĩ Nhật. Các giới chức Nhật không hứa giúp việc đánh Pháp, chỉ muốn gặp mặt lãnh tụ của tổ chức.( 6)

Đầu tháng 8/1905, Phan Bội Châu về nước, với ý định đón Cường Để xuất ngoại. Vì mật thám Pháp kiểm soát gắt gao, Cử nhân Châu chỉ bí mật gặp Đặng Nguyên Cẩn (1867-1923) và Ngô Đức Kế (1878-1929) tại Hà Tĩnh, rồi sai học trò vào Huế báo cáo với Cường Để. Sau đó, lại vội vã vượt biên.( 7)

Phần Cường Để, thoạt tiên, dự trù vào Nam để vận động và tổ chức thân hào nhân sĩ. Nhưng vì tập Việt Nam Vong Quốc Sử sắp ấn hành ở Thượng Hải, các đồng chí thúc dục Hoàng thân xuất ngoại càng sớm càng tốt. Từ ngày này, một số triều thần bắt đầu hướng về Cường Để, dù ngoài mặt ra vẻ trung thành với Bảo hộ và Thành Thái.( 8)

Tháng 2/1906, Cường Để trốn qua Trung Hoa, theo ngả Hải Phòng. Hoàng thân ghé thăm Tôn Thất Thuyết ở Triều Châu, rồi sang Quảng Châu gặp Phan Bội Châu. Tại đây, ngày 15/1/1906, báo Ling Sao đã đăng Hải Ngoại Huyết Thư của Phan Bội Châu. Một báo khác cũng loan tin một Hoàng tử Việt trốn khỏi nước. Tháng 5/1906, Phan Bội Châu đưa Cường Để sang Nhật. Tại Huế, mãi tới ngày 22/3/1906, Tôn Nhơn Phủ mới báo cáo lên Khâm sứ việc Cường Để xuất ngoại.( 9)

Việc cầu viện vẫn thất bại. Các chính khách Nhật chỉ chấp thuận đón nhận du học sinh Việt. Phan Bội Châu và Cường Để chẳng còn cách nào khác hơn phát động Phong trào “Đông Độ” (hay Đông Du) theo lời khuyên của Lương Khải Siêu. Phong trào này kéo dài khoảng ba năm, từ 1906 tới 1908. Số du học sinh, từ 8 đến 20 tuổi, được khoảng hơn 100 người. Đại đa số gốc miền Nam, do Đặng Bỉnh Thành (Huỳnh Nghi, tức Hoàng Hưng) cầm đầu. Phan Bội Châu chịu trách nhiệm khoảng 50 học sinh Bắc và Trung, kể cả Cường Để, Phan Bá Ngọc, Đặng Tử Kính, Nguyễn Thúc Canh (Trần Trọng Khắc tức Trần Hữu Công), Nguyễn Thái Bạt (con nuôi Nguyễn Thượng Hiền), Lương Ngọc Quyến (con Cử Nhân Lương [Văn] Can, đã qua Nhật từ trước).

Để quảng bá đường lối đấu tranh, Phan Bội Châu gửi về nội địa nhiều tài liệu như Hải Ngoại Huyết Thư, Khuyến Du Học v.. v... Ông cũng soạn thảo một tài liệu ký tên Cường Để với tựa Kinh Cáo Toàn Quốc Phụ Lão Văn. Những tài liệu tuyên truyền này gây tiếng vang rộng lớn trong giới sĩ phu.

Song song với phong trào Đông Du, nhiều cơ sở kinh tài của tổ chức Duy Tân được thiết lập. Tại Hà Nội, Cử Nhân Can và Tú Tài Nguyễn Quyền xin phép mở Đông Kinh Nghĩa Thục với mục đích giúp các thiếu niên nghèo có cơ hội học quốc ngữ mới miễn phí. Thực tế học viện trở thành nơi tuyển mộ nhân tài gửi qua Nhật, và đồng thời là trung tâm phổ biến tư tưởng canh tân trong khuôn khổ “đồng văn” (hình thái đầu tiên của chủ thuyết Đại Đông Á). Nhóm chủ trương còn xuất bản tờ Đăng Cổ Tùng Báo. Ngoài số tiền quốc dân đóng góp, Đông Kinh Nghĩa Thục liên hệ với các cơ sở thương mại như nhà thuốc Đồng Lợi Tế, và tiệm tạp hoá Đông Thành Xương ở Hà Nội. Hoàng Tăng Bí, một trong bốn người chủ trương, là chủ nhân Đông Thành Xương. Sau khi Pháp đóng cửa học viện vào tháng 11/1907, Nguyễn Quyền xoay sang điều khiển tiệm thuốc Đồng Lợi Tế. Tại vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh, Tiến sĩ Kế và Đốc học Cẩn mở công ty Triêu Dương ở Vinh (Nghệ An), và Giải nguyên Lê Văn Huân (1875-1929) làm chủ cơ sở thương mại ở chợ Trổ (Hà Tĩnh). Nam-Ngãi có Hiệp Thương ở Faifo. Tại Sài Gòn, Gilbert Trần Chánh Chiếu mở Minh Tân khách sạn và xuất bản tờ Lục Tỉnh Tân Văn (tức Tin Sáu Tỉnh Nam Kỳ, số ra mắt ngày 2/11/1907).( 10)

Cuối năm 1906, Phan Bội Châu về nước lần thứ hai. Ông liên kết được với Đề Thám. Đề Thám đồng ý cho mượn đất để làm căn cứ. Ngoài ra Phan Bội Châu còn bí mật gặp các đồng chí thân tín như Đặng Thái Thân (1874-1911), Lê Võ, Ngô Đức Kế, Nguyễn Cẩm Giang (tức Vũ Hải Thu hay Nguyễn Hải Thần, 1878-1959) v.. v... trước khi trở lại Nhật. Sau đó, tại nội địa, Đặng Thái Thân chịu trách nhiệm tổng quát, Nguyễn Cẩm Giang đặc trách Bắc Kỳ, Đặng Tử Kính (?-1928) đặc trách Trung Kỳ.

Phong trào Đông Độ khiến người Pháp đặc biệt quan tâm. Tại nội địa, một mặt, để rút gió đang làm căng cánh buồm Đông Du, Toàn quyền Paul Beau phát động nhiều cải cách về giáo dục. Mặt khác, Beau ra lệnh các địa phương gây áp lực những gia đình có con em Đông độ, bắt họ phải kêu gọi du học sinh hồi hương. Ngoài ra, Beau cũng yêu cầu các nơi âm thầm giám thị hoạt động của những nhóm duy tân.

Mùa Thu 1907, người Pháp bắt đầu ra tay đàn áp. Tại Hà Nội, Đông Kinh Nghĩa Thục bị rút giấy phép sau 8 tháng hoạt động. Tại Nghệ-Tĩnh, Tiến Sĩ Kế, Cử nhân Đặng Văn Bá, Giải nguyên Huân cùng một số người bị tạm giam để tra cứu. Triêu Dương thương cuộc phải đóng cửa. Đặng Thái Thân cùng một số đồng chí trốn vào núi. Đốc học Cẩn bị thuyên chuyển vào Bình Thuận. Tại Quảng Nam, Hiệp Thương ở Faifo (Hội An) bị giải tán. Giáo thụ Trần Quí Cáp bị chuyển vào Ninh Hòa (Khánh Hòa). Trường Dục Thanh ở Phan Thiết cũng tự động đóng cửa. Qua năm 1908, xử lý Thường Vụ Toàn Quyền Louis Bonhoure còn xuống tay mạnh hơn. Đích thân Khâm sứ Levecque chỉ thị cho các quan Việt ở Huế và Hà Tĩnh phải làm cho bằng được một bản án khép tội nhóm Tiến sĩ Kế.( 11)

Mặt khác, Paris sử dụng đường lối ngoại giao, can thiệp mạnh mẽ với Nhật Bản, đòi trục xuất Cường Để, Phan Bội Châu cùng các du học sinh. Năm 1907, Nhật bắt đầu đáp ứng yêu sách của Pháp. Phong trào Đông Du hay Đông Độ tàn lụn dần. Cuối cùng, năm 1909, Phan Bội Châu và Cường Để cũng phải rời Nhật. Mọi nỗ lực của Cử Nhân Châu và các đồng chí sau đó chỉ lưu danh thiên cổ hơn hy vọng thành công. Hầu hết những du học sinh đều mai một dần ở Trung Hoa hay Xiêm La. Một số đầu hàng Pháp như Lê Dư, Nguyễn Thái Bạt, Phan Bá Ngọc, Nguyễn Bá Trác. Chỉ còn Nguyễn Hải Thần, Cường Để cùng đôi ba người trẻ tuổi như Trần Phước An, Huỳnh Chi, Đỗ Văn Y, v.. v... có cơ hội tái xuất hiện trong thời Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945).

B. PHONG TRÀO “CẢI LƯƠNG/TIẾN HOÁ” HAY ÂU HOÁ:

Mặc dù có thiện cảm với phong trào “Đông Độ” và đồng chủ trương nâng cao dân trí, một số nhà nho yêu nước muốn hợp tác với Pháp để “lãnh hội văn minh,” chờ ngày giành độc lập. Phất cờ tiên phong cho khuynh hướng này có Phó Bảng Phan Châu Trinh và Tiến Sĩ Trần Quý Cáp (1869-1908).

Phan Châu Trinh sinh năm 1872 (ngày 9/9/1872 trong hồ sơ xin nhập tịch Pháp) hoặc 1874 (ngày 10/10/1874) tại Tây Lộc, Tam Kỳ, Quảng Nam.( 12) Cha là Phan Văn Bằng, mẹ là Lê Thị Trung. Thân phụ ông từng theo lãnh tụ Cần vương Nguyễn Duy Hiệu (Hường Hiệu) lên núi lập chiến khu kháng Pháp. Hai năm sau, vì nghi Bằng tiếp xúc với Nguyễn Thân, Hường Hiệu cho lệnh xử tử. Năm 1887, Phan Châu Trinh trở lại quê nhà, bắt đầu nghiên bút. Sau hai lần thi hỏng, năm 1900, đậu cử nhân. Qua năm sau, đậu Phó Bảng. Sau đó, được học bổng theo chương trình Hậu bổ tại Quốc Học Huế, chờ ngày bổ nhậm. Năm 1905, giữ chức Hành Tẩu Bộ Lễ một thời gian ngắn, rồi từ quan.

Thời gian ở Huế, Phan Châu Trinh có dịp làm quen với Phan Bội Châu. Trong kỳ thi Hội 1904, một số học trò Cử nhân Can và nho sĩ địa phương, kể cả Phan Châu Trinh, tổ chức nhiều buổi hội thảo cổ súy thuyết Cộng Hòa. Bắt đầu ảnh hưởng “tân thư” của Trung Hoa–tức sách vở nghiên cứu về Tây phương và chủ trương Cộng Hòa–Phan Châu Trinh hơn một lần công kích chế độ quân chủ, và từng kết án vua là “giặc của dân” (dân tặc độc phu). Những lời chỉ trích này khiến giới quan lại cực kỳ bất mãn.( 13)

Đầu năm 1906, Phan Châu Trinh bí mật qua Trung Hoa. Gặp Cường Để và Phan Bội Châu ở nhà Lưu Vĩnh Phúc tại Quảng Đông, nhưng khi được mời gia nhập Duy Tân Hội, Phó bảng Trinh từ chối. Trong những cuộc mạn đàm, Phó bảng Trinh cũng bộc lộ ý chống đối quân chủ qua việc công kích các tài liệu ký tên Cường Để. Sau khi thăm Tokyo (Đông Kinh), Phó bảng Trinh trở lại Hong Kong, rồi về nước.( 14)

Về tới Quảng Nam, Phan Châu Trinh nhờ một giáo sĩ giới thiệu với Công sứ Jean Charles ở Faifo, trình bày rõ chuyến đi của mình. Đầu tháng 11/1906, Phan Châu Trinh còn gửi cho Toàn Quyền Beau một lá thư xin hợp tác, tức “Đầu Pháp Chính Phủ Thư.” Trong thư, Phan Châu Trinh cực lực đả kích tệ nạn tham nhũng, thối nát của quan lại Việt đương thời, và nền giáo dục hiện hành, quảng bá chủ trương “thờ người Pháp như bậc thày để cầu tiến bộ.” Beau sai Edouard Huber dịch qua Pháp ngữ, đăng trên tờ Thành Tích Pháp Quốc Viễn Đông Học Viện (Bulletin de L’Ecole Francaise d’Extrême-Orient), thường được được biết như Kỷ Yếu Của Trường Viễn Đông Bác Cổ. (15)

Cũng trong năm 1906, một bạn học của Phan Châu Trinh là Tiến Sĩ Trần Quí Cáp được cử làm Giáo thụ phủ Thăng Bình (Quảng Nam). Hai người bèn cùng thân sĩ đồng hương như Tiến Sĩ Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947), Cử Nhân Phan Thúc Diện, Lê Bá Thuần (tự Trinh) v.. v... hô hào việc mở mang hương học. Năm 1907, Tiến Sĩ Cáp bị thuyên chuyển vào Ninh Hòa. Nhân dịp này Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng đưa bạn tới nhiệm sở, và ghé thăm Phan Thiết, dừng chân tại hãng nước mắm Liên Thành của Hồ Tá Bang.( 16)

Từ Phan Thiết, Phan Châu Trinh đi thẳng ra Bắc. Ông xuất hiện ở Đông Kinh Nghĩa Thục, cổ võ chế độ “dân trị” và lập trường “ỷ Pháp cầu tiến bộ.” Phó bảng Trinh cũng làm quen với Ernest Babut, một cựu binh sĩ Pháp đã giải ngũ, lúc ấy đang làm chủ Đại Việt Tân Báo ở Hà Nội.( 17)

Một số viên chức thuộc địa Pháp không dấu sự hoài nghi về những lời hô hào hợp tác của Phan Châu Trinh. Họ cho rằng Phó bảng Trinh cũng như những nhà nho “bất mãn, thất nghiệp” muốn lập một đảng quốc gia để giành độc lập. Việc tấn công những tệ hại của giới quan trường hay kêu gọi Pháp trực trị chỉ nhắm “phá không cho cai trị”–mà một thông ngôn dịch thành “briser administration”–hầu tạo nên một tình trạng vô chính quyền.( 18) Bởi thế, Toàn quyền Beau cũng như Khâm sứ Levecque cho lệnh bí mật giám thị. Phần các quan lại Việt cũng ngấm ngầm oán ghét. Nhân dịp bắt được Lê Văn Hạ–một thủ hạ cũ của Phan Đình Phùng–quan chức Pháp-Việt có trong tay tài liệu để hãm hại Phó bảng Trinh là đồng đảng với Phan Bội Châu, muốn dựa vào Nhật để lật đổ Pháp. Tuy nhiên, Thống sứ Joseph de Miribel chỉ gọi Phan Châu Trinh đến cảnh cáo.

Tại Quảng Nam, sau khi Beau đã về nước, Công sứ Charles bắt đầu xuống tay với nhóm Duy tân. Tiệm Hiệp Thương ở Faifo bị giải tán. Rồi đến lượt trường hương học do Phan Châu Trinh và các đồng chí thiết lập phải đóng cửa vì “tiếng trống nhập học làm phiền các nông dân.” Nhưng cơ hội bằng vàng cho Levecque và Charles là vụ biểu tình chống sưu thuế vào mùa Xuân 1908 sẽ đề cập đến trong chương sau.

C. SỰ CHUYỂN HƯỚNG CỦA HỘI TRUYỀN GIÁO:

Từ năm 1890, nếu không phải sớm hơn, một hiện tượng đặc thù xảy ra là sự rạn nứt giữa Hội truyền giáo và chính quyền thực dân Pháp, đưa đến những tranh chấp không ngừng, có thể gọi là “chiến tranh lạnh.”

Cuộc chiến tranh lạnh này đã khởi đầu từ ngày chủ nghĩa Cộng Hòa và khuynh tả thống trị chính giới Pháp, và chỉ tạm hòa hoãn trong giai đoạn 1895-1899, thường được biết như thời kỳ “ralliement”–tức chiêu hồi hay liên kết giữa hai phe Ki-tô và Cộng Hòa trung dung, để ngăn chặn ảnh hưởng phe tả khuynh. Từ năm 1899, Quốc Hội Pháp trực diện tấn công Giáo hội bằng các Sắc luật năm 1901, 1904 và 1905, chính thức giải thoát xã hội Pháp khỏi sự kềm tỏa của thần quyền Ki-tô từ nhiều thế kỷ. Dưới thời chính phủ Emile Combes (1902-1904) của Khối Tả phái (Bloc des Gauches), tinh thần chống Giáo hội ngày càng mạnh.( 19)

Tại Đông Dương, những nhân vật Cộng Hòa hay tả khuynh cũng không ngừng đả kích Hội truyền giáo cùng chủ trương thống trị, “Ki-tô hoá và đồng hoá.” Đối lại, Hội truyền giáo, giới quân sự và các nhóm viên chức thuộc địa bảo thủ cũng tạo thành một liên minh đánh phá Jean de Lanessan, đưa đến việc triệu hồi viên Toàn quyền này, dù thái độ của de Lanessan với Hội Truyền giáo khá thân mật. Năm 1893, chẳng hạn, khi tờ Le Courrier d’Haiphong cho đăng một loạt bài có vẻ đả kích chủ trương thống trị và đồng hoá mà Hội truyền giáo theo đuổi, các giáo sĩ không chịu yếu thế. Họ quyết dùng báo chí để phản công, xuất vốn mua tờ L’Avenir du Tonkin (Tương lai Bắc Kỳ) ở Hà Nội. Ngày 18/7/1893, de Lanessan phải viết thư cho Giám mục P. Gendreau–mới thay Puginier ở Tây Đàng Ngoài–khuyên Gendreau đừng nên dính líu vào những cuộc bút chiến trên báo chí. Trong thư trả lời ngày 23/7/1893, Gendreau khẳng định rằng báo chí là phương tiện duy nhất để tự vệ.( 20)

Ít lâu sau, tới cuộc bút chiến giữa Linh mục J. B. Guerlach và Camille Pâris, một cựu viên chức bưu điện ở Tourane, sau chuyển sang khai thác đồn điền ở cao nguyên Trung Kỳ thuộc khu vực dân Sê-đăng [Sedang]. Pâris tố cáo Hội truyền giáo đã che chở cho tay phiêu lưu “Hầu tước de Mayréna” chiếm đoạt đất của dân Sê-đăng để thành lập một vương quốc với Giáo sĩ Ki-tô làm quốc sư.( 118) Guerlach–một trong những cựu thủ lãnh “thập tự quân”–truy tố Pâris ra tòa về tội mạ lÿ. Tuy nhiên, Pâris được trắng án. Cuộc tranh chấp chỉ chấm dứt sau cái chết bí ẩn năm 1908 của Pâris tại đồn điền.

Các báo thuộc nhóm “Radical” (Cấp tiến) hay “Lodge” (Tam Điểm) khác như L’Indépendence tonkinoise (Độc Lập của Bắc Kỳ) của Alfred Levasseur, và Le Mékong (Cửu Long) của Ulysse Leriche cũng mở nhiều đợt tấn kích Hội truyền giáo. Trong số báo ra ngày 22/5/1897, chẳng hạn, Le Mékong loan tin một trong 10 nữ tu y tá đã bỏ tu hành nghề mãi dâm. Ngày 12/6/1897, Jean Marie Depierre, Giám mục Tây Đàng Trong–người đã tổ chức quyên góp dựng tượng Pigneau de Béhaine ở Sài Gòn–khởi tố với Tổng Biện lý Assaud ở Sài Gòn. Trước đó, ngày 25/5/1897, Depierre còn viết thư cho Leriche, cáo buộc Le Mékong dối trá khi bình luận rằng Hội truyền giáo là “ổ chống đối sự thống trị của Pháp.”( 21)

Ngoài ra, các nhà in Rey, Curiol, và Francois H. Schneider cũng có lập trường chống Hội truyền giáo, đặc biệt hai tờ L’Univers (Vũ Trụ) và La Croix (Thập Tự Giá), cơ quan ngôn luận của Giáo hội.

Các nhóm tả khuynh còn vận động việc ban hành nghị định áp dụng ba đạo luật 1901, 1904 và 1905 tại Đông Dương; nhưng Beau–trước sự đe dọa của các Giáo sĩ, và vì quyền lợi thuộc địa–không dám trực diện Hội truyền giáo. Thời gian này Hội truyền giáo đã phát triển và củng cố tổ chức chặt chẽ theo hàng dọc, từ các giáo phận xuống giáo xứ, họ đạo. Hầu hết các họ đạo tại các xã thôn đều do các giáo mục (curé) bản xứ trông nom. Mỗi giáo phận là một tiểu vương triều tự trị, với những luật lệ riêng. Dưới sự hướng dẫn của các linh mục, giáo dân trở thành kiêu dân, hoành hành bất kể luật pháp. Alphonse Louis Klingler ở Nghệ An và Martin ở Thanh Hoá chỉ là những thí dụ tiêu biểu.( 22)

Không những chỉ lấn áp dân chúng, đập phá chùa chiền, cướp đoạt ruộng đất, công điền công thổ tại các xã lẫn lộn người Lương và giáo dân, “thập tự quân” còn kéo nhau đi làm tiền cả thân nhân Từ Dụ Thái Hoàng Thái hậu, hay cựu Phụ chính Đại thần Trương Quang Đãn, vì tư gia họ đã dùng gỗ lim, mới bị ra lệnh cấm đẵn để dành độc quyền cho các nhà khai thác.( 23)

Các quan lại chẳng ai dám phản ứng, vì phạm lỗi với các giáo sĩ hay linh mục bản xứ sẽ lập tức bị cách chức, hay quở phạt.( 24)

Trước viễn ảnh rạn nứt khó tránh giữa chế độ Bảo hộ Pháp và Hội truyền giáo–đồng thời, để tạo áp lực với các viên chức “rối đạo”– các giáo sĩ tìm cách móc nối, ăn rễ vào Hoàng tộc và những phong trào kháng Pháp. Một mặt, giới quan lại xuất thân thông ngôn được yểm trợ ngày một thăng tiến nhanh trong triều đình, hầu gây ảnh hưởng với vua và Hoàng tộc. Mặt khác, một số tìm cách liên kết với tổ chức Duy Tân Hội của Phan Bội Châu và Cường Để, dòng dõi duy nhất của Hoàng tử Cảnh. Sự ủng hộ của số giáo sĩ, giáo dân từ Vinh tới Quảng Nam–kể cả nhóm Ngô Đình Khả, Nguyễn Hữu Bài, Mai Lão Bạng, v.. v...– liên hệ không nhỏ với bối cảnh cuộc chiến tranh lạnh giữa Giáo hội và phe tả khuynh Pháp.( 25)

Tuy nhiên, tưởng cũng cần nhấn mạnh, khối giáo dân–hoặc ít nữa các nhóm thiểu số giáo sĩ và giáo dân tham vọng–không đoàn kết, nhất trí như có thể ngộ nhận. Đường nứt rạn lớn nhất là giữa hai giáo phận gốc Espania–có liên hệ chặt chẽ với Manila (Philippines), và Roma–và các giáo phận của Hội Truyền giáo Pháp. Thêm nữa, ý thức chủng tộc cũng tách biệt dần giáo dân Việt và giáo sĩ ngoại quốc–đặc biệt là các giáo sĩ Pháp. Sau gần nửa thế kỷ được Pháp “giải phóng” (nói theo ngôn ngữ của Petrus Key năm 1859), giáo mục và giáo dân Việt vẫn bị xếp loại tín hữu hạng nhì. Triều đình Ki-tô Đông Dương vẫn do các “cha triều” Pháp thống trị. Chưa một “linh mục triều” người Việt nào được lên chức Giám mục. Nói cách khác, Hội truyền giáo Pháp tự nó cũng là một tiểu vương triều “trắng” bảo hộ tiểu vương quốc Ki-tô “vàng.” Hội truyền giáo cũng không chỉ có con chiên người Việt. Các giáo sĩ bắt đầu mở mang họ đạo tới những vùng sơn cước ở Trung và Bắc Kỳ. Từ thập niên 1900, toàn thể Đông Dương đã chia làm 7 giáo phận. Tại Bắc Kỳ, thêm giáo phận “Haut Tonkin” (Đàng Ngoài Cao), để lo việc Ki-tô hoá dân thiểu số. Tại Trung Kỳ, hai giáo phận Đông Đàng Trong và Tây Đàng Trong nỗ lực Ki-tô hoá các sắc tộc Ê-đê, Gia-rai, Sê-đăng, v.. v... trên cao nguyên.( 26)

II. AN NAM, 1907-1914:

1. Toàn Quyền Paul Beau (1902-1908):

Như đã lược nhắc, Beau là người đã đặt Vĩnh San lên ngôi [tức vua Duy Tân]. Những tháng cuối năm 1907, Beau tập trung vào kế hoạch “chinh phục tinh thần” của mình. Ngày 14/11/1907, Beau chủ tọa lễ khai mạc Hội đồng Tư vấn Bắc Kỳ, tại Đại Giảng đường Đại học Đông Dương. (27bis) Đích thân Beau còn tới Sài Gòn tham dự lễ khai mạc phiên họp thứ hai của Hội đồng Hoàn Thiện Giáo Dục Bản Xứ (Conseil de perfectionnement de l’Enseignement indigène) từ ngày mồng 4 tới 9/12/1907. Henri Gourdon, Tổng Giám đốc Học chính, đọc diễn văn loan báo kết quả trong khóa (session) 1, đặc biệt là tại Bắc và Trung Kỳ.

Tại Huế, để đáp ứng nhu cầu “chinh phục tinh thần,” ngày 23/9/1907, Levecque thay Hoàng Hữu Xứng ở Bộ Công bằng Vương Duy Trinh, cựu Tổng đốc Quảng Nam; và ba ngày sau, 26/9/1907, cử Cao Xuân Dục cầm đầu Bộ Học.( 28)

Tuy nhiên, kết quả việc truyền bá Quốc ngữ còn khiêm nhượng, chẳng có dấu hiệu nào sẽ tạo nên những mầm mống tạo loạn; và, quan trọng hơn, chỉ nặng tính chất tuyên truyền, nhằm đáp ứng nhu cầu thông ngôn, thư ký, hơn thực hiện một nền quốc học cho thanh thiếu niên Việt. Vào tháng 1/1908, trên khắp ba kỳ chỉ có 9 trường Tiểu học “bổ túc” (hay Cao đẳng tiểu học) với 956 học sinh, 11 trường chuyên nghiệp với 782 học sinh, và 110 trường tiểu học, với 23,921 học sinh. Việc phân phối theo các địa phương không đồng đều. Bậc Cao đẳng tiểu học, Bắc Kỳ có 5 trường với 487 học sinh, Trung Kỳ chỉ có 1 trường với 94 học sinh, và Nam Kỳ, 3 trường với 375 học sinh. Trường dạy nghề, Nam Kỳ có 8 trường, thu nhận 443 học sinh (kể cả trường Mỹ nghệ Thủ Dầu Một, khai giảng năm 1901, và trường Mỹ nghệ Biên Hòa, khai giảng 1907), trong khi Bắc Kỳ chỉ có 2 trường (Nam Định và Hưng Hoá), 189 học sinh, và Trung Kỳ, 1 trường, 150 học sinh. Nam Kỳ cũng dẫn đầu số trường và học sinh Tiểu học cùng ấu học với 230 trường, thu nhận 17,155 học sinh; trong khi Bắc Kỳ chỉ có 67 trường, với 5344 trò, và Trung Kỳ, 20 trường, thu nhận 1422 học sinh. (29)

Những bài diễn văn cùng việc làm của Beau có mục đích xa là Nhật Bản, một cường quốc đang lên, thường bị dư luận Pháp lên án là “họa da vàng.” Trên nguyên tắc, Nhật và Đông Dương có liên hệ bình thường. Ngày 4/8/1896, Nhật và Pháp đã ký một Hiệp ước Thương mại và Hàng hải. Mới nhất, ngày 10/6/1907 hai bên ký thêm một Hiệp ước, theo đó Nhật được mượn một số tiền lớn để phục hồi kinh tế sau cuộc chiến tranh Nga-Nhật (1904-1905), và rồi ngày 19/8/1907 Nhật và Pháp ký tuyên cáo chung tại Paris hứa sẽ bảo vệ hòa bình và an ninh tại lục địa Á châu. Sau đó, Tokyo bắt đầu trục xuất du học sinh Việt. Chỉ riêng Cường Để và Phan Bội Châu vẫn nấn ná ở Nhật. Dẫu vậy, tham vọng đế quốc của Nhật quá hiển lộ khiến Pháp khó thể không dự phòng. Cuộc chiến tranh Nga-Nhật, kết thúc bằng cuộc hải chiến ở Tsuchima năm 1905, khiến các cường quốc thuộc địa Âu Mỹ bắt đầu quan tâm đến “những người Mỹ da vàng” của xứ Mặt trời.

Năm 1908, trong khi Beau đang ở Pháp, hai biến cố xảy ra ở Quảng Nam và Hà Nội cho phép Xử lý thường vụ Toàn quyền Louis Bonhoure xuống tay mạnh. Đó là cuộc biểu tình đòi giảm sưu thuế vào mùa Xuân 1908, và vụ đầu độc ở trại lính Hà Nội mùa Hè cùng năm.

a. Cuộc “Dân Biến” 1908:

Đầu năm Mậu Thân (2/1908), ba hương chức làng Phiên Ai, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, thu thập chữ ký hương dịch để xin giảm số ngày sưu dịch (corvée, tức lao động bắt buộc) hàng năm.( 30) Huyện quan bắt giữ ba hương chức trên.

Thỉnh nguyện của dân chúng là phản ứng đầu tiên với Nghị định ngày 31/12/1907 mới ban hành, theo đó số ngày sưu dành cho công ích tỉnh sẽ tăng từ 6 lên 8 ngày, hiệu lực tức khắc. Nguyên từ năm 1898, số ngày sưu dịch mỗi năm là 30 ngày; 10 ngày dùng cho việc công ích của xã, và 20 ngày khác của thể mua bằng tiền (Dụ ngày 14/8/1898). Trong đợt cải cách tài chính năm 1904, nông dân phải mua lại 20 ngày sưu dịch với giá 2 hào (0.20 đồng), và số tiền này phải trả chung với thuế thân (2 đồng); tức mỗi xuất đinh phải trả thuế hàng năm tới 2 đồng 20 xu. Phần 10 ngày sưu còn lại, 6 ngày dành cho việc công ích của tỉnh (Dụ ngày 9/1/1904). Trong nỗ lực tận thu và do nhu cầu nhân công làm đường xá, Khâm sứ Levecque cho phép mua lại 2 ngày sưu dùng cho việc làng xã, và dành 8 ngày cho tỉnh.( 31) Ngoài ra, điều kiện làm việc thực vất vả, lại còn bị hành hạ, ngược đãi.

Đòi hỏi của dân Phiên Ai càng có ý nghĩa và dễ hiểu là từ năm 1881, Nam Kỳ đã bãi bỏ chế độ sưu dịch qua Nghị định ngày 10/5/1881 của Tổng thống Jules Grévy. Để có nhân lực làm việc công ích, các tỉnh trưởng có quyền trưng dụng mỗi xuất đinh không quá 5 ngày. Một nghị định khác ngày 24/3/1884 của Thống đốc Nam Kỳ cũng miễn sưu dịch cho người trên 55 tuổi. Năm năm sau, nghị quyết hành chính ngày 5/3/1889 cho phép mua lại số ngày bị trưng dụng. Nhưng ngày 20/6/1891, Thống đốc Nam Kỳ lại ra một thông tư (circulaire) cho phép mua 3 ngày sưu tỉnh, và 2 ngày còn lại dành cho việc công ích xã.( 32)

Nhằm phản ứng lại thái độ cửa quyền của huyện quan, ngày 9/3/1908, khoảng hơn 300 nông dân kéo tới huyện lÿ Đại Lộc xin giảm sưu dịch và trả tự do những người bị bắt. Theo báo cáo của Công sứ Charles, huyện quan đồng ý thả 3 người trên. Hai ngày sau, 11/3, khoảng 300 tới 400 dân Đại Lộc và Điện Bàn lại kéo tới Tòa Công Sứ Pháp ở Faifo (Hội An), đưa kiến nghị xin giảm sưu và thuế thân. Charles ra thuyết phục, nhưng các đại diện cương quyết sẽ chỉ trở lại làng xóm sau khi yêu sách được thỏa mãn. Đêm đó, đoàn biểu tình ngủ lại trước Dinh Công Sứ. Số người tham dự biểu tình ngày một đông. Ngày 13/3, Charles bắt hai người cầm đầu. Đoàn biểu tình bèn đòi trả tự do ngay cho hai người trên, nhưng Charles từ chối. Đám đông tràn vào các phòng sở và nội vi Dinh Công Sứ làm áp lực. Charles cho lệnh lính tập đàn áp bằng côn và gậy, đẩy lui đoàn biểu tình, rồi đặt chướng ngại vật trên trục lộ dẫn vào toà Công sứ. Nông dân vẫn chiếm giữ chợ và các đường phố trong tỉnh lÿ. Họ lùng bắt những người thu thuế chợ, hành hung, đập phá cơ sở và đe dọa tính mạng của các hoa chi này.

Ngày 21/3, đoàn biểu tình tràn vào Dinh Tổng Đốc ở Điện Bàn (ngã ba Quốc lộ 1 và đường dẫn vào Faifo), định bắt Hồ Đắc Trung phải lên xe theo họ lên Hội An xin giảm sưu thuế. Charles vội sai một toán 30 lính tập tới bảo vệ Dinh Tổng Đốc và an ninh các quan lại. (33) Hôm sau, 22/3, dân chúng lại tràn vào Dinh Tri phủ Điện Bàn, hành hung lính lệ, rồi bắt giải Tri phủ lên Faifo. Được tin, Charles sai Thiếu Úy (Lãnh binh) Léonard Sogny (người sau này trở thành Giám đốc Mật thám Trung Kỳ) đem 20 lính tập tới giải vây. Sogny cứu được viên Tri phủ giữa đường từ Điện Bàn tới Faifo, bắt giữ 5 người; 3 người khác bị chết đuối khi bơi qua sông trốn chạy. Sau đó, Charles phái 15 lính bảo an tới lập một đồn ở Điện Bàn để bảo vệ an ninh.

Bốn ngày sau nữa, 26/3, hỗn loạn diễn ra ở phủ Thăng Bình (phía Nam Điện Bàn). Tia lửa điện có lẽ là việc Tri phủ Thăng Bình và Sogny dẫn lính đến bắt Ấm Hàm [Nguyễn Thành] (một đồng chí của Phan Bội Châu), người bị coi như chủ xướng cuộc dân biến. Khoảng 1,000 nông dân tràn vào phủ lÿ, phá hủy vòng thành, đập phá phòng ốc. Sogny, chỉ biết tin trên khi đã về tới chợ Được để chờ sà-lúp dẫn giải Ấm Hàm về Faifo, bèn sai một tiểu đội lính tập xuống giải cứu Tri phủ Thăng Bình. Bị tấn công bằng gạch và gậy gộc, toán lính này bắn 9 phát súng vào đám đông, khiến 1 người chết, 4 người khác bị thương. Đoàn biểu tình vẫn chưa chịu giải tán, tụ tập ở những thửa ruộng gần phủ lÿ. Mãi tới khi thám tử Breugnot dẫn thêm 20 lính tập tới tăng viện, dân mới rút lui. Breugnot lập một đồn lính với 10 tay súng ở phủ lÿ để bảo vệ Tri phủ.

Tại Tam Kỳ hàng ngàn dân chúng cũng kéo tới vây quanh phủ lÿ sau khi một lãnh tụ duy tân quan trọng bị bắt. Tri phủ và viên Đề đốc phụ trách việc đắp đường từ Tam Kỳ vào Nông Sơn bị cô lập trong phủ đường. Mãi tới khi Thiếu Úy Salvant từ Faifo trở về mới giải cứu được hai quan chức trên. Viên Đề Đốc bị chết sau đó.

Những ngày cuối tháng 3, đầu tháng 4/1908, cuộc biểu tình ở Faifo đã bớt khí thế. Số người tham dự giảm dần. Ngày 1/4, không còn ai tiến vào Faifo nữa mà chỉ tuần hành quanh Dinh Tổng đốc, và phủ lÿ Điện Bàn. Lý do chính là Levecque đã tăng phái cho Quảng Nam 220 lính khố đỏ từ Huế, Tourane, Đồng Hới, Hà Tĩnh, Thanh Hóa và Vinh. Levecque cũng đích thân tới Hội An ngày 28/3, mang theo Trương Như Cương và Thượng thư Bộ Binh (Vương Duy Trinh). Hàng trăm người cầm đầu biểu tình, kể cả các “thân sĩ” Duy tân, bị bắt giữ. Levecque còn chia đạo quân tăng viện làm 4 đội tuần tiễu bốn khu vực Tam Kỳ, Thăng Bình, Duy Xuyên/Đại Lộc và Điện Bàn/Hòa Vang. Bởi thế, sau khi 3 nông dân bị xử tử vì đã dìm chết một chánh tổng, tình hình Quảng Nam lắng dịu dần. (34)

Quảng Nam chưa êm, đã đến lượt Quảng Ngãi. Từ ngày 30/3 tới 12/4/1908, nông dân biểu tình trước dinh Tuần Vũ Lê Từ. Ngày 3/4, Công sứ Ch. Dodey [Dodez] bắt giữ cựu Bố chính Lê Tựu Khiết, một cựu thủ hạ đắc lực của Nguyễn Thân nhưng bắt đầu có ý hướng khác, và Ấm Nguyễn Bá Loan–con trai cựu Thượng thư Nguyễn Bá Nghi, một cựu lãnh tụ Cần Vương đã về hàng–với tội cầm đầu cuộc nổi dạy. Tuy nhiên, những đoàn biểu tình vẫn chưa chịu giải tán. Họ nằm dài trên đường, ngăn cản không cho bất cứ ai rời thành, bất chấp roi vọt hay những lời hứa hẹn, thuyết phục của quan chức Pháp-Việt. Tình hình chỉ êm dịu dần sau khi Levecque tăng viện cho Quảng Ngãi một số lính tập. Ngày 12/4, đại diện dân chúng mới tuyên bố sẽ rời thành, với điều kiện được giảm thuế cho người nghèo. Hôm sau, 13/4, giữa lúc hầu hết nông dân đã giải tán, bỗng có tin dân Bình Định và Thừa Thiên đã nổi dậy và được đồng ý giảm sưu dịch. Buổi chiều, khoảng 1,000 người lại kéo tới tụ họp trước dinh tỉnh. Một số định đốt trại lính gần đó; khiến hai người bị bắn chết tại chỗ. Tại hướng khác, một toán lính Pháp bắn chết hoặc bị thương 13 người. Nổi giận, đoàn biểu tình bắt giữ gia đình của một phó lãnh binh và các lính tập, cùng 6 lính dõng. Họ còn nhận sông chết hàng chục người từ chối “xuống đường”. Ngày 17/4, Levecque cho lệnh thẳng tay đối phó. Lính Pháp nổ súng vào đám đông. Khoảng 40 người biểu tình chết hoặc bị thương.( 35) Có người cho rằng số thương vong lên tới hàng trăm.( 36)

Phong trào chống sưu dịch cũng lan rộng tới Thừa Thiên và Bình Định. Nông dân Thừa Thiên tụ họp ở Công Lương từ ngày 9/4, dự định đến Tòa Khâm nạp kiến nghị xin giảm thuế vào ngày hôm sau. Ngày 10/4, Phủ Doãn mang một toán lính tới giải tán, thì bị ném đá. Một Phó quản lính dõng còn bắn chết một người toan làm đắm thuyền của Phủ Doãn. Đám đông liền ào tới, bắt Phủ Doãn và đoàn tùy tùng làm con tin. Viên Phó quản và toán lính dõng bị hành hung, ngâm nước và phơi nắng. Sáng ngày 11/4, một đội lính tập tới giải cứu Phủ Doãn nhưng không thành công. Khoảng 10 giờ sáng, hàng trăm người biểu tình dẫn giải Phủ Doãn tới Toà Khâm xin giảm sưu thuế, bị lính tập trang bị gậy gộc, đẩy lui. Phủ Phụ chính bèn cử Tham tri bộ Hình cùng hai người khác tới Công Lương điều đình việc phóng thích con tin. Buổi trưa, đoàn biểu tình vây quanh dinh quan Việt, tuyên bố chỉ giải tán khi các nguyện vọng được thỏa mãn. Công sứ Huế bèn cho lệnh lính tập giải tán bằng gậy gộc. Khoảng 4 giờ chiều cùng ngày, khoảng 1000 người tụ họp trước dinh Công sứ, xin giảm thuế. Mờ sáng ngày 12/4, một đại đội Lê Dương kéo tới Công Lương, quyết giải thoát được Phủ Doãn. Đồng thời, lính kéo vào các thôn xã lân cận, bắt giữ hơn 34 nông dân. Trong khi đó, lúc 7 giờ sáng cùng ngày, đoàn biểu tình xuất phát từ An Cựu lại kéo vào thành phố. Họ chia nhau thành từng nhóm khoảng 50-100 người, chiếm giữ các cửa vào nhà ga, và khoảng đường từ Bộ Công tới dinh các quan tỉnh. Chiều ngày 13/4, Lê dương Pháp thẳng tay đàn áp sau khi đoàn biểu tình tấn công một đồn Cảnh sát ở chợ. Một số bị thương nặng. Hai người bị chết đuối. Ngay đêm đó, Phủ Phụ chính theo lệnh Levecque ra chỉ thị cấm bất cứ ai vào thành phố. Ngày 14/4, lính Pháp mạnh tay giải tán những đoàn biểu tình trước các dinh quan Việt. Hai người bị chết đuối, hai người khác trọng thương. Ngày 15/4, dân biểu tình rút về hướng Phú Bài, cách thành phố 15 cây số, rồi lần lượt giải tán. Những ngày kế tiếp, quan binh Pháp-Việt hành quân bố ráp, bắt giữ nhiều người, kể cả ba người cầm đầu là Ấm Toản, Ấm Mãnh và Ấm Mộng.( 37) Đến cuối tháng 6/1908, tình hình mới tạm yên.

Biên độ những cuộc biểu tình lên cao nhất tại Bình Định. Dân chúng bỏ phương thức tranh đấu bất bạo động, sử dụng bạo lực. Điểm nổ đầu tiên là Bồng Sơn, phủ lỵ giáp ranh Quảng Ngãi. Do sự khích động của những đoàn cúp tóc từ Quảng Ngãi kéo vào, dân Bồng Sơn nổi lên, lũ lượt kéo về dinh Tổng Đốc ở phiá Nam. Dọc đường, đoàn biểu tình ngày thêm đông. Ngày 16/4, khoảng 3, 4 ngàn người vây quanh dinh Tổng đốc (tại ngã ba Quốc lộ 1 và 19). Trong khi đó, tại các địa phương, dân chúng bắt giữ hương chức, nhân viên thu thuế và các chủ thầu thuế chợ. Họ còn tịch thu bằng sắc và ấn triện của các lý trưởng, chánh tổng, tạo nên tình trạng vô chính quyền khắp nơi. Ngày 18/4, hai đại đội bộ binh Pháp đổ bộ xuống Qui Nhơn. 100 lính da trắng khác cũng từ Quảng Ngãi kéo xuống Bồng Sơn. Ngoài ra, Levecque tăng viện cho Bình Định nhiều đội lính tập, lính dõng và đích thân vào Bình Định giải quyết. Từ đầu tháng 5/1908, Công sứ Pháp quyết dịnh cho các đội tuần tiễu được tự do nổ súng, giết hoặc làm bị thương ịgiặc đồng bào Ể để thị oai. Đồng thời, cách chức Tổng đốc Bình Định cùng một số tri huyện, tri phủ, và xuống tay mạnh với giới nho sĩ duy tân, kể cả Hồ Sĩ Tạo, một tri huyện đang cư tang mẹ tại quê. Chỉ trong vài tuần, trật tự dần dần được vãn hồi. Hàng trăm người tử nạn hoặc bị tống giam, làm án trong vụ “loạn đồng bào” hay “loạn cúp tóc” trên. (38)

Phong trào dân biến ở phía Nam giảm hẳn cường độ ở Phú Yên, nhưng lại bùng nổ mạnh ở các tỉnh phía Bắc Trung Kỳ, ngoại trừ Nghệ An. Tình hình rối loạn nhất tại Hà Tĩnh. Bonhoure phải tăng viện cho vùng này hai đại đội lính tập và ra lệnh thẳng tay thanh trừng giới nho sĩ; nhưng đến tháng 8/1908, cuộc dân biến mới coi như chấm dứt.

Khi cuộc dân biến vừa khởi dậy, Phan Châu Trinh đang ở Hà Nội. Thống sứ Miribel đã có dịp nói chuyện với Phó bảng Trinh. Tán thành đề nghị hủy bỏ chế độ khoa cử cũ và mở các trường học mới ở Trung Kỳ, Mirabel đề nghị nên chiêu dụng Phan Châu Trinh.( 39) Nhưng ngày 29/3/1908, từ Faifo, Levecque–qua những lời kết tội của công sứ Charles, Tổng đốc Trung, Cơ Mật Viện trưởng Cương, v.. v...– yêu cầu Mirabel bắt giam Phó bảng Trinh. Ngày 10/4, Phan Châu Trinh bị bắt giải về Huế. Ba ngày sau, 13/4, Phủ Phụ Chính kết tội ông chủ xướng vụ nông dân Quảng Nam nổi dạy (kích biến lương dân, mưu bạn vi hành), và lên án tử hình. Levecque giảm còn chung thân khổ sai, rồi hôm sau, 14/4, ký nghị định đầy Phan Châu Trinh ra Côn Đảo. (40)

Tại Khánh Hoà, dù chưa có biến động nào, ngày 16/4/1908 Bố chính Phạm Ngọc Quát và một viên chức Pháp vẫn tới phủ Ninh Hòa bắt Trần Quí Cáp cùng 9 người khác (6 giáo quan, 3 Đông y sĩ). Học trò Tiến sĩ Cáp, Trần Huỳnh Liên, cũng bị bắt khi kêu gọi dân chúng phản đối. Hôm sau, thêm 7 người “đầu trọc” mới từ Quảng Nam đi thuyền vào làm củi bị câu lưu vì có một chánh tổng tố cáo với Bố chánh Quát rằng họ từng đề nghị ông ta nổi dạy, sẽ có Nhật Bản giúp sức. Dù chỉ tìm thấy một bản Hải Ngoại Huyết Thư của Phan Bội Châu trong nhà trọ Tiến sĩ Cáp, quan tỉnh Khánh Hòa vẫn làm án tử hình ông, dựa theo lời khai của Nguyễn Tư Trực. Ngày Thứ Bảy, 13/6/1908, Phủ Phụ chính duyệt xét bản án của tỉnh Khánh Hòa và y án Tiến sĩ Cáp. Riêng Nguyễn Tư Trực, được giảm còn giảo giam hậu. Hai ngày sau, Thứ Hai, 15/6/1908, Trần Quí Cáp bị hành hình tại Khánh Hòa.( 41)

Cũng nhân biến động này, Levecque ra tay thanh toán tất cả các nho sĩ duy tân, bất kể họ “chủ chiến” hay muốn hợp tác. Đốc học Đặng Nguyên Cẩn bị tống giam, giải về Hà Tĩnh. Những vụ án khó giải quyết từ hơn năm trước đều tìm thấy đáp án.( 42) Hơn 50 khoa bảng tên tuổi–trong nỗi bàng hoàng phẫn hận của những người chủ trương “thờ người Pháp làm bậc thày”–bị kết án khổ sai, đầy đi Côn Lôn hay Lao Bảo.( 43)

Người đứng sau việc trói buộc Phan Châu Trinh và các nhà khoa bảng, kể cả Phan Bội Châu, vào vụ dân biến là Charles, Hồ Đắc Trung, và Trương Như Cương. Trong buổi họp Viện Cơ Mật ngày 23/4, do XLTV Toàn quyền Bonhoure chủ tọa, Cương cho rằng tổ chức của Phan Bội Châu đã tung tin sai lạc, để xúi bảy dân chúng đòi giảm thuế và sưu dịch, mà theo Cương vừa phải, dân chúng có thể chịu đựng được. Ngày 3/5, trong báo cáo về vụ dân biến, Charles buộc Phan Châu Trinh tội chủ mưu.( 44) Bonhoure cũng nghiêng dần theo Charles. Ngày 3/7, Bonhoure nhận xét rằng những bài thơ của Phan Châu Trinh, dưới hình thức triết lý, phản ảnh những lý thuyết và tư tưởng cách mạng của những nhà cải lương Trung Hoa; và dù chúng không có dạng thức bạo động như những tài liệu của Phan Bội Châu nhưng có lẽ xảo quyệt hơn, nguy hiểm hơn cho sự thống trị của Pháp. Gần ba tuần lễ sau, ngày 22/7, trong báo cáo tổng kết về vụ dân biến, Bonhoure còn lên án Phó Bảng Trinh là người khởi xướng phong trào chống sưu thuế toàn miền Trung.( 45)

b. Vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội:

Mùa Thu 1908, một biến cố khác lại nổ ra ở Hà Nội. Khoảng 8 giờ tối 27/6/1908, 80 binh sĩ Pháp thuộc Trung đoàn 4 Pháo binh, và 125 binh sĩ Trung đoàn 9 Bộ binh bị ngộ độc sau bữa ăn tối. Vì thuốc độc quá nhẹ, không người nào bị thiệt mạng.

Cuộc đầu độc trên thực ra là bước đầu của một âm mưu nổi dạy đã chuẩn bị từ cuối năm 1907. Cuối tháng 3/1908, Công sứ Hà Đông đã được tin mật báo về âm mưu này, nhưng không tìm ra dấu vết gì. Trước ngày hạn định, qua lời thú tội của một con chiên tham dự âm mưu trên, một linh mục (cố Ân) mật báo cho các viên chức Pháp biết trước. Bởi vậy, Tư lệnh Hà Nội, Trung tướng Piel, và cấp chỉ huy Pháp đã có biện pháp kiểm soát mạnh, như thu súng của lính Việt và cấm quân. Đồng thời, mật thám Pháp mở rộng càn quét, bắt giữ hàng trăm người, kể cả Đồ Đàm, cựu đầu bếp, Hai Hiên, 2 Hạ sĩ quan (đội) và 1 lãnh binh.

Ngay ngày hôm sau, Bonhoure triệu tập một Hội đồng Đề Hình (theo điều 23 của Nghị định ngày 15/9/1896). Tuy nhiên Bonhoure chống lại áp lực của khoảng từ 250 tới 300 Pháp kiều tụ tập trước Dinh Toàn quyền, đòi phải hành quyết ngay các thủ phạm, và khẳng quyết những kẻ phạm tội phải được xét xử trước pháp luật. Ngày 6/7/1908, ba hạ sĩ quan Việt–Đội Binh, Đội Cốc và Đội Nhân–bị lên án tử hình, và xử chém hai ngày sau tại ba nơi trong thành phố Hà Nội, thủ cấp treo lên hầu cảnh cáo đám đông. Sau đó, trong các phiên xử ngày 16/7, 3/8 và 25/8 kết thêm 8 án tử hình, 4 chung thân, và 70 án tù.( 46)

Tất cả những sĩ phu phong trào Đông độ–như Hoàng Tăng Bí, Dương Bá Trạc, Nguyễn Quyền ở miền Bắc, Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế, Lê Văn Huân v.. v.. ở miền Trung–đều bị trói buộc vào vụ đầu độc này. Cuộc điều tra của Pháp cũng tìm thấy Hoàng Hoa Thám (1846-1913) có liên hệ. Đề Thám đã là cái gai trong mắt người Pháp từ lâu. Tuổi ngày càng lớn, thế lực Đề Thám ngày thêm suy giảm. Bởi vậy, Đề Thám khéo léo cư xử, cố tránh tạo cơ hội cho Pháp động binh. Nhưng với những người Việt yêu nước, Đề Thám vẫn là tượng trưng của tinh thần kháng Pháp, một thứ hùm thiêng Yên Thế. Phan Bội Châu, chẳng hạn, đã hai lần tìm tới Thái Nguyên và đạt được một mật ước liên kết hoạt động. Một số thủ lãnh người Hoa cũng tìm đến Yên Thế ra mắt Đề Thám.

2. Anthony Klobukowski (1908-1911):

Ngày 26/6/1908, Klobukowski–một nhà ngoại giao, con rể của Paul Bert, từng làm việc với Thống đốc Thomson ở Sài Gòn, Tổng Trú sứ Bert và rồi Toàn quyền Constans ở Hà Nội, trước khi giữ những chức ngoại giao ở Nhật và Xiêm La–được bổ nhiệm chức Toàn quyền. Tuy nhiên, gần ba tháng sau mới tới Sài Gòn. Những cuộc biến loạn ở Đông Dương, và phản ứng của Pháp kiều, khiến Paris cho lệnh Klobukowski theo đuổi một chính sách có thể gọi là “cây gậy và củ cà rốt”–nâng cao giá trị các quan lại, phân tán bớt quyền hành của chính phủ liên bang, và cải thiện những biện pháp như độc quyền công quản.

Trong những tháng “trăng mật,” Klobukowski đi chu du khắp nơi. Tại Huế, Klobukowski cho lệnh Phủ Phụ chính phải nghiên cứu việc cải tổ thuế thân và sưu dịch; nhưng cũng đồng thời đặt ra tiền lệ là từ nay các quan địa phương chỉ nhận lệnh trực tiếp từ các công sứ. Phủ Phụ chính, như thế, bị tước hầu hết quyền lực.( 47) Tại Bắc Kỳ, thành lập một Hội đồng Tư vấn, một mô thức mới của Hội đồng Kỳ lão của Bert năm 1886.( 48)

Mối bận tâm hàng đầu của Klobukowski vẫn là phong trào Đông Du. Ngày 30/1/1909, nhân dịp Klobukowski có mặt ở Huế, Phủ Phụ chính ra Dụ trừng phạt cha mẹ có con xuất ngoại bất hợp pháp. Trong khi đó, Klobukowski áp lực mạnh hơn với Tokyo để trục xuất Phan Bội Châu và Cường Để. Tháng 3/1909, Phan Bội Châu phải rời Hoành Tân qua Hong Kong, rồi Xiêm La. Bảy tháng sau nữa, đến lượt Cường Để [26/10/1909].( 49) Klobukowski còn dàn xếp với các viên chức thuộc địa Bri-tên tại Hong Kong và Thượng Hải để bắt giữ và trục xuất những nhà ái quốc lưu vong Việt.

Klobukowski cũng sửa đổi chính sách “chinh phục tinh thần” của Beau; bỏ Tổng Nha Giáo dục Công lập (Nghị định ngày 16/3/1909), đóng cửa Đại học Đông Dương, và giải thể Hội đồng Hoàn thiện Giáo dục. Klobukowski còn đẩy mạnh kế hoạch sử dụng chữ quốc ngữ mới, cho lệnh từ nay tất cả các công văn bằng chữ Hán phải kèm theo bản dịch quốc ngữ. Tất cả sổ bộ hộ tịch (khai sinh, giá thú) cũng phải dùng hai loại văn tự. Các viên chức tổng và xã sẽ được khen thưởng nếu khuyến khích việc truyền bá chữ quốc ngữ. Tất cả các dịch lại tại dinh sở các quan Việt trong vòng một năm phải đọc và viết được tiếng Việt, bằng không sẽ ngưng thăng thưởng.( 50)

Tuy nhiên, vì nhu cầu thông ngôn và thư ký vẫn còn thiếu và phần nào để giải tỏa tình trạng “thất nghiệp” của các nho sĩ mà Paris cho là nguồn gốc của sự tình hình bất ổn dưới thời Beau, ngày 14/4/1909 Klobukowski thành lập thêm một phân khoa sư phạm để đào tạo huấn đạo (giáo quan cấp huyện, từ chánh bát phẩm tới chánh thất phẩm) và giáo thụ (giáo quan cấp phủ, từ tòng lục phẩm tới tòng ngũ phẩm). Cho tới năm 1910, phân khoa này đặt dưới quyền phòng 2 của Phủ Thống sứ.( 51) Klobukowski còn mở trường Luật (Ecole de Droit) với hai trụ sở Hà Nội và Sài Gòn. Học trình là 2 năm. Trường khai giảng tại Hà Nội ngày 15/4/1910. Trong niên khoá 1911-1912, Sài Gòn có 18 sinh viên, và Hà Nội 32 người.( 52)

Đầu năm 1909, Klobukowski cũng chấm dứt chương trình gửi công chức bản xứ qua Pháp tu nghiệp–chương trình mà Beau tin tưởng là phương tiện hữu hiệu nhất và duy nhất để chống lại ảnh hưởng của Nhật Bản.( 53)

Phân khoa bản xứ của trường Thuộc Địa ở Paris vẫn được duy trì, chỉ thay đổi cách tuyển chọn khoá sinh. Từ nay, chỉ những người tốt nghiệp thi Hương hay Hội, và các ấm sinh mới được tuyển chọn. Sau đó, ngày 30/10/1908, gom tất cả những cơ quan ở Pháp–như Alliance francaise, Collège de France, Ecole coloniale (section d’Indigènes), Ecole des languages orientales, Ecole Jule Ferry, Ecole supérieure d’agriculture coloniale, Faculté des Sciences de Paris, Mission laiique, Institut commercial de Paris, và Jardin colonial de Nogen–thành Đoàn Giáo dục Đông Dương (Groupe de l’Enseignement indochinois en France).( 54)

Với Hội truyền giáo, thái độ Klobukowski quay một vòng 180 độ. Khi rời Pháp qua Đông Dương, Klobukowski tuyên bố: “Gíáo hội chủ nghĩa không thể xuất cảng.” Vừa tới Hà Nội, Klobukowski cam đoan với Gendreau, Giám mục Tây Đàng Ngoài: “Chống Giáo hội chủ nghĩa không thể xuất cảng.”( 55) Giao tình giữa Klobukowski với các giáo sĩ rất tốt đẹp. Klobukowski cũng quyết nhổ hết những cái gai “kháng Pháp” trước mắt, hầu chinh phục đám đông thầm lặng, tức giới nông dân và công nhân, đã bị các sĩ phu “bất mãn” dọa nạt, bóc lột, khiến một cổ hai tròng–một lối biện minh quen thuộc của giới quân đội và giáo sĩ.

Hoàng Hoa Thám trở thành nạn nhân đầu tiên của Klobukowski. Sau khi xác định Đề Thám dính líu vào âm mưu nổi dạy ở Hà Nội mùa Hè 1908, Klobukowski cho lệnh tấn công Yên Thế. Ngày 27/1/1909, đồn điền Phồn Xương bị phá tan. Tháng 7/1909, Đề Thám bắt cóc một con tin Pháp, định dùng để nghị hòa, nhưng Klobukowski không nhượng bộ. Các toán quân Pháp tiếp tục truy đuổi Đề Thám thật gắt gao.

Quân đội và các viên chức Pháp cũng được lệnh truy diệt các lãnh tụ Cần Vương còn sống sót ở vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh và Quảng Nam. Trong đệ nhất lục cá nguyệt năm 1910, Công sứ Pierre Pasquier ở Thanh Hoá và Công sứ Nghệ An hạ sát được phụ tá đắc lực của Phan Bội Châu là Đặng Thái Thân (11/3/1910), bắt giữ một số cán bộ khác như Ấm Chước (10/1/1910), Nguyễn Thu Xiêm (27/1/1910), Tú Ngôn (5/3/1910), Ưng Khuê, Nguyễn Châu (11/3/1910), và săn đuổi gắt gao Ấm [Lê] Võ cũng như Đội Quyên. Vợ con của Cường Để cũng bị bắt.( 56)

Để chinh phục đám đông thầm lặng, Klobukowski có vài biện pháp cải cách. Vấn đề nóng bỏng thời sự nhất lúc bấy giờ là sưu dịch. Tại Bắc Kỳ, ngày 9/12/1908, Klobukowski ký nghị định cho mua bằng tiền tất cả 10 ngày sưu dịch với giá 0.15 đồng một ngày, hay 1.5 đồng mỗi năm. Tiền này bỏ vào quĩ hàng tỉnh. Sau khi ngân sách hàng tỉnh bị bãi bỏ năm 1911, tổng số tiền mua sưu dịch ở Bắc Kỳ năm 1912 là 765,000 đồng. Tại An Nam, ngày 31/12/1908, Klobukowski phê chuẩn Dụ ngày 4/12/1908 của Viện Cơ Mật, chia đều sưu dịch làm 5 ngày sưu tỉnh, và 5 ngày sưu xã. Trong số 5 ngày sưu tỉnh, 2 ngày phải mua lại bằng tiền với giá 2 hào (20 xu) mỗi ngày. Ba ngày còn lại có thể mua, hay tự lao động. Ngoài ra, số ngày sưu tỉnh bị hạn chế trong phạm vi tổng hay huyện, ngoài phạm vi này phải có phép Viện Cơ Mật. Năm 1913, ngân sách Trung Kỳ dự trù thu được 364,500 đồng trên khoản mua sưu dịch.( 57)

Thái độ Klobukowski với các nhóm duy tân “thờ người Pháp làm bậc thày để cầu tiến bộ” có vẻ ôn hòa hơn. Một trong những lý do là trước ngày rời Paris, Klobukowski được chỉ thị phải tuyên bố chính sách “liên kết” [collaboration]. Trong khi đó, ngay sau khi Phan Châu Trinh bị bắt, ký giả Ernest Babut, Giám đốc tờ báo song ngữ (Hán-Việt) Đại Việt Tân Báo ở Hà Nội, vận động Hội Bảo Vệ Nhân và Dân Quyền can thiệp. Ngày 19/3/1909, Dân biểu Francis de Pressensé, Chủ tịch Hội Bảo vệ Nhân và Dân quyền Pháp, đích thân yêu cầu trả tự do cho Phó bảng Trinh. Phần Klobukowski–dù tin Phan Châu Trinh có tội–cũng muốn cho Phó Bảng Trinh một cơ hội mới. Trong báo cáo lên Bộ Thuộc địa ngày 19/3/1909–giữa lúc Quốc Hội Pháp đang chuẩn bị tranh luận về vấn đề Đông Dương–Klobukowski tiết lộ có ý định nói chuyện với Phó bảng Trinh trong chuyến kinh lý các nhà tù miền Nam vào tháng 7/1909 sắp tới. Nhưng phải hơn một năm sau, mãi tới ngày 24/6/1910, Phan Châu Trinh mới được tái xét xử, phóng thích và chỉ định cư trú ở Mỹ Tho. Sự chậm trễ này phần nào vì những ý kiến chống đối của Pháp kiều tại Đông Dương, đặc biệt là giới quan lại mới nổi mà Phan Châu Trinh không tiếc lời đả kích trong Đầu Pháp Chính Phủ Thư năm trước.

Tân Khâm sứ Jean Groleau (1908-1911) cũng khẳng quyết Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu, dù thuộc hai đảng khác nhau, chủ xướng vụ dân biến 1908. Ngày 3/10/1910, Groleau vẫn còn “hy vọng” rằng sau khi ra tù, Phan Châu Trinh sẽ thực lòng hợp tác.( 58)

Hội Truyền giáo cũng chống chính sách “hợp tác.” Chủ trương của Hội là “thống trị” và “đồng hoá,” nhằm tiến tới Ki-tô hoá toàn thể dân Việt, hoặc ít nữa đưa các giáo dân Ki-tô lên hàng ngũ cai trị trung gian. Vì, theo cơ quan ngôn luận của Hội Truyền giáo, “mơ ước được người Việt mến yêu qua chủ trương hợp tác, cũng chẳng khác gì nước Prussia (Phổ) mơ ước dân Alssace thương yêu họ.”( 59)

Klobukowski còn gặp khó khăn với giới lập pháp Paris. Ngày 2/4/1909, Dân biểu Xã hội de Pressensé tường trình trước Hạ viện về hiện tình Đông Dương, nêu lên những tệ trạng như tăng thuế thân quá mức từ 14 xu lên 2.5 đồng, độc quyền rượu, muối và thuốc phiện, tuyển mộ quan cai trị và án sát trong giới thông ngôn, bồi bếp của các viên chức Pháp, và những vụ đàn áp chính trị nghiệt ngã (trường hợp Phan Châu Trinh, đầu độc trại lính Hà Nội). Rồi, cảnh giác rằng đừng nên “lừa bịp” (infliger des déceptions) dân bản xứ bằng những lời nói không đi đôi với việc làm; và cần thực hiện ngay chính sách “hợp tác.” Quốc Hội Pháp, sau phần tường trình của Bộ trưởng Thuộc địa Milliès-Lacroix, thông qua một nghị quyết do de Pressensé soạn thảo, khẳng định chính sách hợp tác là cần thiết cho sự no ấm của dân chúng và an ninh của các lãnh thổ Pháp tại Viễn Đông.( 60)

Đầu năm 1910, Klobukowski phải về nước tham khảo, và trở lại Đông Dương vào tháng 6 cùng năm. Nửa năm sau, Klobukowski lại về nước. Từ Paris, Klobukowski cho lệnh XLTV Toàn quyền Paul Louis Luce cấp học bổng cho Phó Bảng Trinh qua Pháp cùng con trai là Phan Châu Dật, lúc ấy mới 8 tuổi. Ngày 1/4/1911, Phan Châu Trinh cùng con trai rời Sài Gòn. Vì phí tổn do ngân quĩ Liên bang đài thọ, hai người được đặt dưới sự quản trị của Julien Fourès, Giám đốc Đoàn Giáo dục Đông Dương tại Pháp.

Vì trợ cấp của chính phủ Đông Dương quá ít–300 quan hay 12 đồng Đông Dương một tháng–Fourès, đề nghị và được Klobukowski đồng ý tăng “lương” tháng lên 450 quan; nhưng rút thời gian ở Pháp từ sáu xuống bốn tháng. Bộ trưởng Thuộc Địa Adolphe Messimy cũng tiếp kiến Phó bảng Trinh để dò hỏi về tình hình Đông Dương. Tuy nhiên, ngày 1/6/1911, Klobukowski được bổ nhiệm làm Đại sứ Belgium. Messimy cử Dân biểu Albert Sarraut (Sa lộ) lên thay trong thời hạn 6 tháng. Sarraut chưa kịp lên đường thì Messimy rời Bộ Thuộc Địa vào ngày 27/6. Tân Bộ trưởng Thuộc Địa Albert Lebrun tạm giữ Sarraut ở Paris.

Sự thay đổi này khiến Phan Châu Trinh bối rối chẳng hiểu số phận mình sẽ ra sao. Được hỏi về dự tính tương lai, lúc Phan Châu Trinh nói muốn được sống ở Pháp, khi ngỏ ý sẽ về Sài Gòn sống bằng nghề báo. Ngày 18/7, Phó bảng Trinh viết thư cho Sarraut, xin ở lại Pháp thêm một năm để “lãnh hội văn minh” và học tiếng Pháp. Hôm sau, khi Jules Roux đưa trình lá đơn của Phan Châu Trinh, Sarraut chấp thuận ngay. Hôm sau nữa, ngày 20/7, Roux hoan hỉ thông báo cho “em” Trinh biết rằng Sarraut “đã xem cái thư [ngày 18/7/1911] ấy” và “ưng cho các điều em tỏ ra trong cái thư ấy.”( 61)

Qua tháng 9/1911, Sarraut còn tiếp kiến Phó bảng Trinh, rồi, sai Roux tới giúp Phan Châu Trinh dịch bản điều trần về vụ chống sưu thuế 1908. Bản điều trần thống thiết–nhưng có nhiều chi tiết lầm lạc và quá đáng [như cách xử tử “lăng đèn”, hay Tiến sĩ Cáp bị chém trong vòng 24 giờ dù đã có lệnh ân xá của Huế]–không đủ sức minh oan cho Tiến Sĩ Kháng, Phó bảng Cẩn, hay Cử Nhân Phan Thúc Diện.

3. Albert Sarraut (1911-1914):

Sarraut tới Hà Nội ngày 15/11/1911, giữa không khí sôi động của cuộc cách mạng Tân Hợi ở Trung Hoa. Ấn tượng của những cuộc biểu tình rầm rộ ở Sư Tử Thành [Singapore], hay Chợ Lớn–với lễ cắt bím đuôi sam biểu trưng của nhà Thanh cùng điện văn ủng hộ chính phủ Cộng hòa lâm thời ở Yên Kinh mà Sarraut có dịp chứng kiến tận mắt trên hải trình đáo nhậm nhiệm sở–khiến Sarraut tái duyệt xét toàn bộ chính sách thuộc địa theo tinh thần Nghị quyết “hợp tác” ngày 2/4/1909 của Quốc Hội. Công việc của Sarraut phần nào dễ dàng hơn nhờ sự ủy quyền rộng rãi qua đạo Luật ngày 20/10/1911 của chính phủ Pháp, cho phép Toàn quyền Đông Dương được cai trị bằng Nghị định do chính Toàn quyền ban hành.

Đối diện mối “hoàng họa” mới–có phần đáng sợ hơn hiểm họa Nhật Bản (chiếm Đài Loan và Triều Tiên năm 1895, chiếm cảng Port Arthur của Mãn châu năm 1905, và mới sát nhập Triều Tiên năm 1910), vì liên hệ địa lý, chính trị, và văn hoá với Đại Nam–Sarraut quyết định dẫn giắt cuộc duy tân ở Đại Nam theo chiều thuận lợi nhất cho chế độ Bảo hộ, trong khuôn khổ “tiến hoá” (évolution) mà không phải “cách mạng” (révolution), và trên căn bản “hợp tác” hay “liên kết.” Sự “hợp tác” của Sarraut, tưởng cần nhấn mạnh, có điều kiện. Sarraut chỉ muốn hợp tác với giai cấp thượng lưu bản xứ trung kiên với người Pháp, tức những quan lại và người Việt đã “Pháp hoá,” hay những người “văn minh” (civilisés)–những người (1) nói thạo tiếng Pháp, và (2) công khai biểu lộ sự trung thành với Bảo hộ.

Trong mắt Sarraut, giáo dục sẽ là một trong những phương tiện hữu hiệu nhất để mở rộng ảnh hưởng Pháp, “giải phóng” tâm trí người Việt khỏi sự nô lệ tinh thần và luân lý với Trung Hoa. Trên phương diện thực hành, hai ngôn ngữ giảng dạy sẽ là tiếng Pháp và quốc ngữ mới, phần chữ Hán chỉ rất hạn chế. Then chốt của sách lược trên là sẽ khiến người Việt chỉ có thể được làm quen với những tư tưởng mới qua trung gian Pháp. Tóm lại, “cuộc chinh phục tinh thần vương quốc An-Nam sẽ thực hiện qua ngôn ngữ và văn chương Pháp.”( 62)

Để thực hiện chủ đích này, một mặt, Sarraut mở rộng chương trình giáo dục công lập các cấp sơ học, tiểu học, chuyên nghiệp và “bổ túc” (trung học). Sarraut dự trù chấm dứt thi Hương ở miền Bắc vào tháng 12/1915, và ân khoá 1918 sẽ là kỳ thi Hội cuối cùng ở An-Nam. Trong giai đoạn chuyển tiếp, tiếng Pháp và quốc ngữ mới được đan vào chương trình học cũng như thi tốt nghiệp. Những môn học mới như địa lý, cách trí (khoa học thực nghiệm), toán học Tây phương cũng được giảng dạy.

Việc đào tạo quan lại từ nay sẽ huấn luyện tại nội địa. Phân khoa bản xứ của trường Thuộc Địa Pháp bị bãi bỏ, vì Ban Giám đốc trường này chỉ muốn nhận học sinh từ 15 tới 20 tuổi, và chưa hề có quan tước.( 63)

Tại Bắc Kỳ, ngày 18/4/1912, trường Hậu Bổ Hà Nội đổi tên thành trường Sĩ Hoạn. Học trình kéo dài 3 năm. Ngoài phần sinh ngữ và quốc ngữ, học viên được học luật An Nam (Thân Trọng Huề làm giáo sư), và Khoa học (Lê Văn Huyên phụ trách). Từ ngày 2/1/1914, Thống sứ Léon Destenay chia trường Sĩ Hoạn làm 2 phân khoa: một, dành cho Hậu bổ (giống như nghị định ngày 18/4/1912) và một, dành cho học sinh có bằng Trung học. Trong số các học viên tốt nghiệp năm 1911, có Cử nhân Bùi Bằng Đoàn, 21 tuổi; Bùi Thiện Cơ, ấm sinh, 18 tuổi, (sau gửi qua Pháp, không thi tốt nghiệp). Trong số tốt nghiệp khoá 1912, có Lương Văn Phúc, được đặc cách nhận vào, vì là “con nuôi” Lương Tam Kỳ, tri phủ Quảng Oai, Sơn Tây, và từng gửi qua Pháp năm 1908. Phan Kế Toại, mới từ Pháp về, được vào thẳng năm thứ ba, vì đã ở Pháp 2 năm.( 64)

Tại Huế, tháng 5/1911, tái lập trường Hậu Bổ, học trình kéo dài ba năm, gồm 34 học sinh (30 người đã đậu thi Hương hoặc thi Hội, 2 tôn sinh và 2 ấm sinh có bằng Tú Tài.( 65)

Về tổ chức chính quyền liên bang, Thượng Hội đồng do Doumer thành lập được thay thế bằng Hội đồng Chính phủ, gồm 5 đại diện bản xứ của 5 xứ Đông Dương. Các Hội đồng thành phố và tổng, xã được bầu cử.

Sarraut cũng ra nhiều nghị định thành lập những khung căn bản cho việc cải thiện xã hội bản xứ. Ngày 16/10/1912, ra hai nghị định thiết lập hộ tịch tại Nam Kỳ và Bắc Kỳ-Trung Kỳ. Nghị định ngày 9/2/1912 bãi bỏ tất cả những cực hình (châtiments corporels). Nghị định ngày 14/11/1912 thiết lập Tòa Kháng Án số 4, cho phép mọi người khiếu nại những oan ức. Nghị định ngày 3/4/1912, thiết lập qui chế công chức bản xứ tại Bắc Kỳ, và thiết lập ngạch giáo dục bản xứ. Các ngành y tế nông thôn, hay cải thiện đê điều đều được đẩy mạnh. Do đề nghị của Sarraut, Sắc luật ngày 26/12/1912 còn cho phép Đông Dương vay 90 triệu đồng để phát triển lục lộ (công chính).( 66)

Nhưng từ năm 1913, những cuộc bạo động ở Bắc Kỳ tạo cơ hội cho các thế lực bảo thủ chống lại chính sách “tiến bộ” (libéral) của Sarraut. Ngày 30/4/1913, 200 Pháp kiều biểu tình ở Sài Gòn phản đối chính sách “nguy hại” của Sarraut. Henri de Montpezat, đại biểu Trung Kỳ và Bắc Kỳ tại Pháp, một nhân vật chịu ảnh hưởng của Hội Truyền giáo, cũng công khai đả kích Sarraut. Khi Sarraut đề nghị cho người Việt được quyền theo lớp huấn luyện sĩ quan, de Montpezat không dấu diếm sự lo ngại rằng những sĩ quan Việt tương lai này sẽ chỉ có một lý tưởng là đánh đuổi người Pháp khỏi đất nước. Bằng không, họ chỉ là những tên “bồi” của Pháp, và nếu thế không xứng đáng mang lon sĩ quan.( 67)

Hội Truyền giáo, qua tờ L’Avenir du Tonkin [Tương lai Bắc Kỳ], cũng gia nhập chiến dịch chống Sarraut. Cơ quan ngôn luận của Hội Truyền giáo chỉ trích thái độ hòa hoãn với dân bản xứ là dấu hiệu của sự sợ hãi, yếu đuối, chỉ khiến sự nguy hiểm ngày thêm gia tăng. Về việc cân nhắc người bản xứ trong hàng ngũ công chức và quân đội, Hội truyền giáo công khai khích động tinh thần kỳ thị chủng tộc:

Nền chính trị mới nhằm cho những người đã đồng hóa từ từ trở thành công dân, cho chúng làm chánh án, rồi nhà cai trị, giống như đã xảy ra ở Phi châu. Và trong vài năm, không còn một lý do nào để không chọn từ người bản xứ những Khâm sứ, Thống sứ, những Tổng thư ký, và Toàn quyền. Về quân đội, theo những giấc mơ của Tướng Pennequin, nó sẽ gồm toàn dân bản xứ và do các sĩ quan bản xứ chỉ huy. Như thế người Pháp sẽ làm gì tại xứ Bảo hộ? Có lẽ vài binh sĩ Âu châu sẽ trở thành lính hầu của quí ông sĩ quan bản xứ.( 68)

L’Avenir de Tonkin cùng Hội truyền giáo cũng phản ảnh trung thực sự kỳ thị chủng tộc nền tảng của chế độ thực dân (Bảo hộ) qua bài viết của Pierre Mille giữa cao trào đả kích quyết định chấp nhận học sinh Việt vào các trường lycée Pháp (từ trước đến nay chỉ dành cho trẻ em Pháp). Mille kết luận bài viết của mình trên cơ quan ngôn luận của Hội Truyền giáo như sau:

Tại Đông Dương một tên da vàng không thể được đối xử giống như một người da trắng. Đó là sự khôn ngoan và một nền chính trị ước muốn.( 69)

VŨ NGỰ CHIÊU

[Trích Các Vua Cuối Nhà Nguyễn, 1883-1945, tập II & III, có bổ sung]

Phụ chú I:

1. Tài liệu căn bản chúng tôi sử dụng là CAOM (Aix), PA 13. Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo tự sự kể Niên Biểu của Phan Bội Châu (Sài-gòn: 1971) [tr. 15-16], Phan Bội Châu Niên Biểu trong Chương Thâu, Phan Bội Châu Toàn Tập, Tập 6 (Huế: NXB Thuận Hoá, 1990), tr. 44-294; và Ngục Trung Thư [Tự Phán] (20/1/1914), bản dịch do David G. Marr chủ biên, Phan Boi Chau’s Prison Notes, trong Reflections from Captivity, do Christopher Jenkins, Tran Khanh Tuyet và Huỳnh Sanh Thông dịch (Athens, OH: Ohio Univ. Press, 1978), tr. 9-56. Sẽ dẫn: NB 1971, NB (Chương Thâu), Prison Notes (1914), và Reflections 1978. Thân mẫu Phan Bội Châu là Nguyễn Thị Nhàn. Thân phụ ông, Phan Văn Phổ, mất vào tháng 9 năm Canh Tý, tức khoảng từ 23/10 tới 21/11/1900, sau khi Phan Bội Châu đậu Giải nguyên trường Nghệ; Ibid., tr. 25. Giữa hai bản Tự Phán (1914) và Niên Biểu (1926-1929) có nhiều dị biệt. Chúng tôi chọn chi tiết chính xác nhất trong văn bản, và chú thích những dị biệt, nếu cần. Về ngày sinh của Phan Bội Châu, chẳng hiểu Chương Thâu dựa vào đâu để ghi Phan Bội Châu sinh “ngày 1 tháng Chạp năm Đinh Mão, tức 26/12/1867;” NB (Chương Thâu), tr. 48, chú 1. Báo cáo của Sogny cũng ghi năm 1867; “Agitation ... 1905-1908;” CAOM (Aix), PA 13. Một tài liệu văn khố khác ghi Phan Bội Châu sinh năm 1868. (Xem Phụ Bản)

2. Tăng Bạt Hổ (?-1906) là một võ quan gốc Bình Định, từng tham gia phong trào Cần Vương; sau lưu lạc qua Xiêm-la và và Nhật. Tăng Bạt Hổ còn thiết lập một tiệm thuốc ở Lạng Sơn, dùng làm cơ sở liên lạc của Tôn Thất Thuyết và Tán Thuật. Tiệm này trên phố Colonel Martin, năm 1903 hãy còn. Sau bị cháy. Phần Tăng Bạt Hổ chết vào tháng 10/1906; “Agitation ... 1905-1918;” CAOM (Aix), PA 13.

3. “Agitation ... 1905-1918;” Ibid. Trong Tự Phán, ấn bản năm 1950 tại Sài Gòn, Đào Trinh Nhất ghi chính Nguyễn Thành đã đưa ra ý kiến phò lập dòng dõi Hoàng tử Cảnh; Prison Notes (1914), tr. 17. Xem thêm nhận xét về Cường Để trong báo cáo ngày 26/11/1906, Khâm sứ Brière gửi Toàn quyền; CAOM (Aix), GGI, dossier 9577/53.

4. Ngày 17/10/1909, từ Bao Nham, Adolphe J. Louis Klingler và 8 cố đạo (A. Bonnet, Martin, André Massaudie, A. Eloy, Blanc, Chapelle, E. Bélière, Loucauf(?)]viết thư tố cáo Giám mục Louis M. Pineau–đã thay Yves Marie Croc làm Giám mục Nam Đàng Ngoài từ năm 1886–dung túng cho 3 giáo mục Việt cao cấp ở Xã Đoài theo Cường Để. Theo Klingler, từ năm 1908, hai giáo mục Việt là Chức và Hoàng đã thông báo cho Pineau biết, nhưng Pineau không có phản ứng. Khi Công sứ Vinh thông báo nội vụ, Pineau đang tuần du, nên cho lệnh Klingler, Eloy và Chauvet điều tra. Khám xét nhà ba giáo mục Tường, Đông và Lịnh, ngày 2/5/1909, tìm thấy nhiều tài liệu quan trọng. Qua các tài liệu trên giáo mục Lịnh [Đậu Quang Lĩnh], dưới tên giả Mai, sẽ đại diện tất cả dân Ki-tô. Được Klingler báo cáo, Pineau không chịu về ngay giải quyết, lại muốn đi thăm họ đạo Kim Lũ ở vùng núi, mãi tới ngày 13/5/1909 mới trở lại Xã Đoài. Hai ngày sau, 15/5, khi Lịnh tới nơi, mọi việc vỡ lở. Thoạt tiên, Pineau chỉ trao cho Công sứ Vinh những tài liệu không đáng kể của thày kẻ giảng Khanh. Pineau cũng tự lo việc một mình, khiến cố vấn riêng phải xin từ chức. Những ngày kế tiếp, quan chức Pháp và Việt tra vấn khoảng 150 người, kể cả Klingler. Kết cuộc, 3 giáo mục Việt thân cận với Pineau bị kết án 9 năm tù. Ngày 11/9/1909, họ bị mang gông dẫn qua đường phố Vinh, xuống tàu ở Bến Thủy, giải giao vào Huế, rồi đầy ra Côn đảo. Vì việc này, Pineau xin từ chức. Ngày 9/2/1911, Francois Belleville, Giám mục Amisus, lên thay. Lịch chết ở Côn Đảo; hai người khác được can thiệp tha khỏi Côn đảo, an trí ở Nam Kỳ; ASME (Paris), vol 710B, Tư liệu số 229 và 240. Phan Bội Châu cho rằng Ngô Quảng, một người đã cải đạo, làm môi giới; NB (Chương Thâu), tr. 73.

5. Tài liệu Mật Thám Pháp ghi hội kín này có tên Việt Nam Quang Phục Hội. Trong số các thành viên có Trần Đình Phát, Nguyễn Hữu Bài, Nguyễn Thuật, Nguyễn Thảng, Đào Tiến, Phạm Tấn, Đốc vận Hiền; hầu hết là quan lại Ki-tô. Phó bảng Đặng Nguyên Cẩn (1867-1923), sau này trở thành Đốc học Hà Tĩnh rồi Bình Thuận, cũng biết rõ mọi chi tiết; “Agitation ... 1905-1908,” CAOM (Aix), PA 13, tr. 12. Cường Để cũng liệt kê những hội viên trên; CĐCMCĐ 1957, tr. 14. Khi viết tập Niên Biểu, Phan Bội Châu không nhắc tên Bài có lẽ vì lúc ấy Bài đang nắm chức Tể tướng triều đình. Hoặc, vì một lý do nào đó. Tài liệu các giáo sĩ ghi là Việt Nam Cống Hiến Hội; ASME (Paris), vol. 710B, tài liệu 231, 232. Xem thêm, Vinh Sinh, ed.,. Phan Boi Chau and the Dong Du Movement (New Haven: Yale Center for International and Area Studies, 1988).

6. NB 1971:54-7; GGI, Commission criminelle du Tonkin (Année 1925), “Affaire Phan Boi Chau: Rapport du Président de la Commission criminelle” (25 nov 1925); “Agitation .... 1905-1918,” tr. 8, và Báo cáo của Sogny; CAOM (Aix), PA 13. Xem thêm lời cung của Nguyễn Thái Bạt (tức Nguyễn Phong Gi) ngày 31/12/1912 (?);Ibid. 9 PA, carton 5.

7. Theo một tài liệu Pháp, Cao Xuân Dục cũng dính líu; Ibid.

8. Tài liệu Pháp ghi nhân dịp này Cử nhân Châu gặp Phan Châu Trinh và Phan Thúc Duyện [Diện], tại nhà Nguyễn Thành (1863-1911), tức Ấm Hàm, ở xã Thạnh Mỹ, huyện Lễ Dương (nay là Thăng Bình), Quảng Nam; và hai người phản đối việc lập Cường Để, vì dưới ảnh hưởng của vài người Pháp, nhóm Phó bảng Trinh và Cử nhân Diện bắt đầu cổ võ chủ trương Cộng Hoà, coi chế độ quân chủ như chẳng mang lại lợi ích gì cho đất nước; “Agitation ... 1905-1918,” tr. 12; Ibid., PA 13. Tài liệu khác ghi Phan Châu Trinh, cùng Huỳnh Thúc Kháng, được mời tới nhà Ấm Hàm gặp Phan Bội Châu.

9. Ibid. Theo Cường Để, ngày 27/1/1906 [Mồng 3 Tết Bính Ngọ], Hoàng thân rời Huế, vào Quảng Nam. Ngày 4/2/1906 [11/1 Bính Ngọ], xuống tàu ở Đà Nẵng cùng Đặng Tử Kính và Đặng Thái Thân, ra Hải Phòng. Vào Nam Định ít ngày, rồi trở lại Hải Phòng, cùng Đặng Tử Kính xuống tàu của Lý Tuệ (Tăng Bạt Hổ) chạy đường Hong Kong; CĐCMCĐ (1957), tr. 20-22.

10. David G. Marr, Vietnamese Anticolonialism, 1885-1925 (Berkeley: Univ. of California Press, 1971), tr. 136; Nguyễn Thế Anh 1970, tr. 300-301.

11. Từ tháng 7 Đinh Mùi (9/8-7/9/1907), Khâm sứ Huế đã cho lệnh quan tỉnh Hà Tĩnh bắt giữ 12 người: Ngô Đức Kế, Đặng Văn Bá, Đào Văn Huân, Đào Sứ, Nguyễn Sĩ Văn, Nguyễn Đông, Phan Hải Châu, Cậu Hai, Tú [Lê] Ngôn, Ấm [Lê] Võ, Phan Hữu Nghi, Đầu xứ Kỷ; Xem “Bản án chống Phan Bội Châu, Ấm Võ, Ngô Đức Kế và đồng bọn (Hà Tĩnh, 7/5/1908);” CAOM (Aix), GGI, d. 5887. Không hài lòng với bản án này, nhân dịp rối loạn ở Hà Tĩnh năm 1908, Levecque cho lệnh bắt Phó bảng Cẩn, đưa ra Hà Tĩnh xét xử, và thay Tuần phủ Hường Khản bằng cựu Bố chính Khánh Hòa Phạm Ngọc Quát, người từng làm án tử hình Tiến sĩ Trần Quí Cáp. (Nên lưu ý là theo thông lệ, việc làm án giao cho Án Sát, Tuy nhiên, trong vụ dân biến 1908, Hội đồng xết xử gồm cả Tổng đốc (hay Tuần vũ), Bố chính và Án Sát. Quan trọng hơn nữa là chỉ thị của các công sứ hay Khâm sứ). Xem infra.

12. CARAN (Paris), F7-13405. Xem thêm “Sơ lược gia hệ Phan Tây Hồ;” Bách Khoa (Sài Gòn), Giai phẩm D [tức số 405, ngày 1/3/1973], tr. 16-18; Chính Đạo, Hồ Chí Minh, tập I (1997), tr. 113-23.

13. “Agitation ... 1905-1918,” p. 31n2; CAOM (Aix), PA 13.

14. NB 1971, tr. 70-74; NB (Chương Thâu), tr. 113-116; Prison Notes (1914), tr. 38. Tài liệu Mật thám Pháp ghi Phan Châu Trinh qua Nhật năm 1907; “Agitation ... 1905-1918;” CAOM (Aix), PA 13.

15. Thư này đề ngày “15 tháng 9 năm Thành Thái thứ 16”, tức ngày 1/11/1906; BEFEO (Hà-nội), VII:1-2 (1-6/1907), tr. 166-75.

16. Báo cáo số 21, ngày 6/4/1908, của công sứ Phan Thiết.

17. Xem, Ernest Babut, “A propos de Phan Chu Chinh;” L’Indo-Chinois, 30/4/1908. Xem thêm CAOM (Aix), INF, carton 51, d. 604, và SLOTFOM, Séries II, carton 6.

18. Xem, chẳng hạn, báo cáo ngày 3/5/1908 của Công sứ Charles; CAOM (Aix), GGI, d.

19. ASME (Paris), vol. 705, tr. 574-5.

20. Ibid., vol 705, tr. 578-9; vol. 759, tr. 452.

21. De Mayréna (1840-1890), tên thực Charles Marie David, từng tham dự cuộc chiến 1870, được thăng cấp Đại úy. Tháng 5/1885 cùng em tới Sài Gòn. Nhờ sự trợ giúp của bạn là Mercurol, lập được đồn điền cao su ở Bà Rịa. Tháng 1/1888, được phép lên Attopeu (Pleiku-Kontum ngày nay) thám hiểm và khai thác vàng. Nhờ các giáo sĩ Erigoyen và Guerlach giúp đỡ, ngày 3/6/1888 Mayréna thành lập vương quốc Sedang, tự xưng làm Marie Đệ I, đặt kinh đô tại làng Plei Maria (Pleiku). Quốc kỳ là cờ xanh dương, với chữ thập trắng, và một ngôi sao đỏ ở giữa. Linh mục Vialleton làm quốc sư. Hai ngày sau, các giáo sĩ cũng lập Liên bang Bahnar-Rơngao, lấy Kon Rơ-hai (Kontum) làm kinh đô, liên kết với “Marie Đệ I” chống lại Thủy Xá và Hỏa Xá (của dân Jarai). Tháng 9/1888, Mayréna xuống Qui Nhơn xin gặp Khâm sứ Huế. Toàn quyền Richaud không thuận. Ngày 25/10/1888, Mayréna ra Hải Phòng, rồi lên Hà Nội. Tuyên bố sự thành lập vương quốc Sedang và xin yết kiến Richaud. Richaud không tiếp. Ngày 11/11/1888, Mayréna qua Hong Kong, rồi ngày 20/1/1889 về Pháp vận động. Bộ trưởng Thuộc Địa và Tổng thống Pháp đều từ chối tiếp kiến. Được một tư bản Belgium yểm trợ, Mayréna trở lại Viễn đông; nhưng bị rắn cắn chết ngày 11/11/1890 tại Malaysia. Ngày 21/3/1899, công sứ Qui Nhơn là Guiomar lên Kontum, giải tán vương quốc Sedang, nhưng thành lập một liên bang mới “Liên bang Bahnar-Rơn-gao-Sedang,” vẫn do tù trưởng Krui làm Quốc trưởng, và Linh mục Vialleton chỉ huy tổng quát. Năm 1895, Liên bang này bị giải tán, sát nhập vào lãnh thổ Kontum. Từ tháng 6/1907, Kontum thuộc địa phận tỉnh Bình Định, và được nâng lên cấp tỉnh năm 1913. Xem thư ngày 27/12/1888, Khâm sứ gửi Giám mục Van Camelbeke; AME (Paris), vol 751, Tư liệu số 109; bản tự bào chữa ngày 9/3/1889 của de Mayréna; Ibid., số 110; và “Làm vua lối mới;” Tiếng Dân (Huế), 18, 22, 25 & 29/6/1932.

22. ASME (Paris), vol 759, Tư liệu số 451 và 452.

23. Xem, chẳng hạn, Ibid., vol 710B.

24. Báo cáo ngày 24/8/1896, 16/9/1896, và 5/11/1896, Brière gửi Toàn quyền; CAOM (Aix), AF, carton 8, d. A-20 (43); Báo cáo ngày 17/12/1907, Beau gửi BT Thuộc địa; Ibid., carton 9, d. A-20 (54).

25. Báo cáo ngày 18/8/1887, Khâm sứ gửi Toàn quyền; Ibid., Amiraux 10508; Báo cáo ngày 2/9/1889, Piquet gửi BT Thuộc địa; Ibid., carton 7, d. A-20 (34); Cao Huy Thuần 1990, tr. 407.

26. Giám mục Pineau của Nam Đàng Ngoài, chẳng hạn, đã bị các linh mục trẻ như A. Louis Klingler tố cáo quay mặt làm ngơ cho ba giáo mục bản xứ gia nhập tổ chức Cường Để. Xem chú 4, supra.

27. Năm 1908, Tây Đàng Ngoài có 1 Giám mục (GM), 48 Linh mục Pháp (LM), 95 giáo mục bản xứ (curé, sẽ viết tắt gm), 365 thày kẻ giảng (tkg), 140,379 tín đồ (tđ); Nam Đàng Ngoài: 1GM, 38 LM, 81 gm, 290 tkg, 139,276 tđ; Đàng Ngoài Cao: 1 GM, 27 LM, 21 lm, 105 tkg, 21,730 tđ; Đàng Ngoài Biển: 1 GM, 36 LM, 59 gm, 189 tkg, 89,000, tđ; Đông Đàng Trong: 1 GM, 65 LM, 40 gm, 82 tkg, 72,636 tđ; Tây Đàng Trong: 1 GM, 71 LM, 78 gm, 30 tkg, 66,163 tđ; Nam Đàng Trong: 2 GM, 43 LM, 60 gm, 30 tkg, 57,886 tđ; Société des Missions-Etrangères, Bảng thống kê (1908).

27bis. Bulletin de l’Ecole francaise d’Extrême-Orient [BEFEO] (Hà Nội), VII:3-4 (7-12/1907), tr. 413-14. Trần Tấn Bình đáp từ bằng tiếng Việt; Đỗ Thận bằng tiếng Pháp (tr. 416).

28. CAOM (Aix), GGI, dossier 9578/3. Dục nguyên là Hậu bổ ở Quảng Nam từ năm 1873. Năm 1882, tham gia sứ đoàn của Trần Đình Túc để nghị hòa với Pháp về vấn đề Bắc Kỳ. Tháng 1/1888, Dục được bổ làm Hải phòng sứ. Sau đó, lên tới Tổng đốc Nam Định. Tháng 6/1898, Công sứ Auvergne đề nghị cách chức Tổng đốc vì Dục đã để cho con trai của Tán Thuật tự do đi lại trong tỉnh suốt 3 tuần lễ. Sau đó, Dục đổi làm Tổng đốc Nghệ An vì ngại Dục tạo nên những ảnh hưởng xấu quanh việc ép Thành Thái thoái vị. Ngày 23/10/1913, Dục bị ép về hưu; Ibid., dossier 9602.

29. Direction Générale de l’Instruction Publique, “Rapport No. 813G, ngày 14/8/1908,Ể tr. 8-9; Ibid., GGI, dossier 7707.

30. Đã có nhiều nghiên cứu về phong trào chống sưu thuế 1908. Xem David G. Marr, Vietnamese Anticolonialism, 1885-1925 (Berkeley: Univ. of California Press, 1971), tr. 187-95; Nguyễn Thế Anh, Phong trào kháng thuế miền Trung năm 1908 qua châu bản triều Duy Tân (Sài-gòn: 1972). Về quan điểm của các tác nhân, xem Phan Chu Trinh, A Complete Account of the Peasants’ Uprising in the Central Region, bản dịch Peter Baugher và Vũ Ngự Chiêu (Madison, WI: Univ. of Wisconsin, Center for Southeast Asian Studies, Monograph No. 1, 1983) [sẽ dẫn A Complete Account], và Huỳnh Thúc Kháng, “Cuộc kháng thuế ở Trung Kỳ năm 1908,” trong Nguyễn Quốc Thắng, Huỳnh Thúc Kháng: Con người và thơ văn (Sài-gòn: 1972). Tài liệu sử dụng trong phần này đa số rút ra từ CAOM (Aix), GGI, dossiers 5886, 5887 và F03 (54); AF, cartons 9 & 22; và 9 PA cartons 2-3; Chính Đạo, Hồ Chí Minh, 1892-1969, tập I: 1892-1924, tái bản có bổ sung (Houston: Văn Hoá, 1997), tr. 117-23. Lưu ý là có sự khác biệt đáng kể về ngày giờ của các sự cố ghi trong các tư liệu. Ngoài ra, lập luận của viên chức Pháp-Việt, dĩ nhiên, khác hẳn cung từ của các nạn nhân. Peter Baugher và tôi đã cố gắng đối chiếu, so sánh sự khác biệt trên trong phụ chú của A Complete Account. Bản tin báo chí đương thời–trên các tờ L’Avenir du Tonkin, Le Courrier d’Haiphong, L’Indo-Chinois, v.. v...– cũng rất tóm lược. Kết luận duy nhất có thể rút ra là viên chức Pháp-Việt đã mượn cuộc dân biến để truy diệt nhóm duy tân Quảng Nam, cũng như bất cứ nho gia nào đáng nghi ngờ. Những bản án được lưu giữ và báo cáo chính trị của Bonhoure, Levecque cùng công sứ các tỉnh Trung Kỳ bộc lộ rõ ràng tâm ý họ.

31. Báo cáo tổng quát năm 1908, ngày 25/9/1909, Groleau gửi Toàn quyền; Ibid., GGI, F-03 (54). Xem thêm Thư ngày 20 tháng 3 [Mậu Thân, hay 20/4/1908], dân Quảng Ngãi gửi Toàn quyền [Bonhoure]; CAOM (Aix), GGI, dossier 5887.

32. Báo cáo ngày 23/7/1913, Giám đốc Hành chính gửi Toàn quyền; Ibid., 9 PA, carton 4.

33. Trương Tôn, một trong 6 tù nhân đầu tiên bị làm án đầy đi Lao Bảo, cung cấp một chi tiết khác. Theo Phủ Phụ chính Huế, Trương Tôn cung khai rằng khi đoàn biểu tình từ Đại Lộc tới dinh Tống đốc ở Điện Bàn, họ được Bố chính và Án sát Quảng Nam mời vào trong Dinh, yêu cầu giữ im lặng và bầu ra một đoàn đại diện đi gặp Công sứ. Ba anh em ông cùng những người đại diện khác sau đó được dẫn vào hậu viên, đóng gông cổ, giải ra Faifo.

34. Ngày 2/6/1908 [tức 4/5 Duy Tân II (Mậu Thân)], Bộ Lại truy phong tước Bát phẩm văn giai cho Chánh tổng Trần Quát bị dân Duy Xuyên dìm chết; TTLTQG 1 (Hà Nội), Mục lục Châu Bản Triều Duy Tân, XIV:423.

35. Báo cáo tháng 3 & 4/1908, R/Quảng Ngãi gửi RSA; CAOM (Aix), GGI, d. 5887.

36. Xem, đơn khiếu nại gửi Toàn quyền ngày 20/3 Mậu Thân [20/4/1908] của nông dân Quảng Ngãi; CAOM (Aix), GGI, d. 5887.

37. Trong số 25 người bị coi như thủ lãnh, Danh Ngan, một cựu lính khố đỏ, đã trói và đe dọa các lính lệ ở Công Lương, bị làm án tử hình. Đỗ Huyên, lý trưởng làng Tây Phú, bị bắt ở An Cựu khi đang xúi dục dân biểu tình trở lại thành phốá; Nguyễn Ngạc, tức Cậu Cả, con trai Nguyễn Tri Phương; một chủ sự về hưu; một võ quan ngũ phẩmá; một cựu phụ đạo của Đồng Khánh (Huỳnh Bá Đảm); Nguyễn Can Định, cựu Tri huyện, và Hoàng Thông, một quan tứ phẩm, cựu học sinh Quốc học, giáo sư trường Pháp-Việt, chủ nhân sở buôn ở Bảo Vĩnh; Trần Trọng Cảnh, Đốc học ở Phan Rang; Rapport No. 33, 4/5/1908, R/Thua Thien gửi RSA; CAOM (Aix), GGI, d. 5887.

38. Báo cáo tháng 5, tháng 4 và tháng 5/1908, R/Qui Nhơn gửi RSA; Ibid., d. 5887.

39. Báo cáo ngày 16/3/1908, Bonhoure gửi BTĐ; Ibid., GGI, dossier 5886.

40. Ngày 8/3/1909, khi tái thẩm vụ PCT, Phủ Phụ chính khẳng định vào tháng 4/1908, thoạt tiên PPC buộc tội PCT âm mưu làm loạn [mưu bạn], kết án chung thân, đầy đi Lao Bảo. Nhưng Levecque muốn PCT bị án tử hình vì tội “mưu bạn dĩ hành” (âm mưu làm loạn và đã làm loạn). Cuối cùng, PPC đổi thành “mưu bạn vi hành,” (âm mưu nhưng không làm loạn). Nguyễn Thế Anh, Châu Bản, TL 13, 51-52; Phan Chu Trinh, A Complete Account, 1983:124n 25.

41. Tel. Cabinet 209C, 19/6/1908, RSA gửi Gougal; CAOM (Aix), d. 5886; Nguyễn Thế Anh, Châu Bản, TL 30, tr. 105-107. Nên ghi thêm là tổng số 66 người bị bắt ở Khánh. [Xem danh sách trong Aix, GGI, d. 5886]. Vì số người bắt quá nhiều mà chỉ có 50 lính lệ, Quát xin tuyển thêm lính và được chấp thuận; TTLTQG 1 (Hà Nội), Mục lục Châu Bản Triều Duy Tân, XIII:359. Sau vụ này, Quát đổi làm lãnh Tuần vũ hộ lý Hà Tĩnh; Ibid., X:182. Ngày 14/7/1908, Quát cùng nhóm Cao Ngọc Lệ hoàn thành bản án định tội Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn và 23 ngưới khácá; CAOM (Aix), GGI, d. 5886.

42. Xem, chẳng hạn, thư số 14-C ngày 27/6/1908, Levecque gửi Bonhoure; Ibid.; hay, bản án tỉnh Hà Tĩnh kết tội Phan Bội Châu, Tiến sĩ Ngô Đức Kế, Giải nguyên Lê Văn Huân và Ấm [Lê] Võ ngày 7/5/1908á; Ibid. (Bản án này dựa theo lời khai của Lê Văn Hạ, một cựu thủ hạ của Phan Đình Phùng). Mãi tới ngày 14/8/1908, Phủ Phụ chính mới giúp Levecque giải quyết được cơn nhức đầu này: Dựa theo bản án ngày 14/7/1908 của Hà Tĩnh, PPC kết án Tiến sĩ Ngô Đức Kế và Đốc học Đặng Nguyên Cẩn giảo giam hậu; Cử nhân Đặng Văn Bá và Tú Tài Lê Văn Huân bị 9 năm khổ sai; cùng 23 người khác bị đầy ra Côn Đảo. Thư số 281 ngày 14/8/1908, RSA gửi Gougal; (Aix), GGI, d. 5887.

43. Xem Phụ bản 6, “Thư Quảng Nam Thân sĩ gửi Toàn quyền Pháp (13/6/1908);” Chính Đạo, Hồ Chí Minh, tập I: 1892-1924 (1997), đã dẫn, tr. 272-5; BAA, 1908, No. 9, tr. 244-5; CAOM (Aix), AF, carton 22, d. A-30 (115).

44. Biên bản buổi họp Phủ Phụ chính ngày 23/4/1908; & báo cáo ngày 3/5/1908, Charles gửi Khâm sứ; Ibid., GGI, dossier 5887.

45. Ibid., AF, carton 22, d. A-30 (115).

46. Báo cáo ngày 6/3/1909; Ibid.; Gouvernement Général d’Indochine [GGI], Sureté Général, “L’Agitation anti-francaise dans les pays annamites de 1905 à 1918 [Biến loạn chống Pháp tại các xứ An-nam-mít từ 1905 tới 1918];” Ibid., PA 13 [Papiers Jules Bride], tr. 40-4, 49. Sẽ dẫn: “Agitation... 1905-1918.” Những người bị tử hình: Ngày 3/8/1908, Hai Hiên, bếp Cai Nga, và Vũ Văn Xuân, Nguyễn Van Ngoc tự Áo Dài và Thiên; Ngày 25/8/1908: Lang Seo, Cai Than, và Tran Van Ton; trong các phiên tòa ngày 10/9, 15/10, và 25/11/1908: Đồ Đảm, Đội Hổ, Do Vinh, Ang Chanh; hành quyết ngày 3/12/1908. Tổng cộng: 13 tử hình, 31 án tù, 14 người được tha bổng; Ibid. Xem thêm Phạm Văn Sơn, Việt Sử Tân Biên, quyển VI (Sài-gòn: 1963), tr. 422-5; Marr 1971, tr. 193-4.

47. Biên bản buổi họp Phủ Phụ chính ngày 13/10/1908; CAOM (Aix), AF, carton 21, d. A-30 (113), [FM, SG, Indo/A//21, A-30 (113)]

48. Thư ngày 2/10/1908, Klobukowski gửi BTTĐ; Ibid., carton 22, d. A-30 (115).

49. Ibid., carton 21, A-30 (113); BAA (1908), số 21, tr. 569; CĐCMCĐ 1957, tr. 30-6; NB 1971, tr. 132-6. Xem thêm tờ khai của Nguyễn Thái Bạt ngày 23/12/1912; CAOM (Aix), 9 PA, carton 2.

50. Báo cáo ngày 24/8/1910, Klobukowski gửi BTTĐ; Ibid., carton 10, d. A-20 (63); Cao Huy Thuần 1990, tr. 386.

51. Ibid., Amiraux 47473. Ngạch giáo dục gồm 6 bậc: sư phạm (tòng bát phẩm), huấn đạo (huyện), giáo thụ (phủ), điển học (Giáo quan một tỉnh nhỏ, từ chánh ngũ phẩm tới tòng tứ phẩm), đốc học (Giáo quan một tỉnh lớn, từ chánh tứ phẩm tới tòng tam phẩm), và Thanh tra (tòng nhị phẩm).

52. Nghị định thành lập trường Luật ngày 29/3/1910 do Albert Picquié ký. Picquié là Tổng thanh tra Thuộc địa, quyền Toàn quyền từ 13/1 tới 11/6/1910; Ibid., GGI, dossier 2687.

53. Về việc chấm dứt nhiệm vụ của các cơ quan tại Pháp, xem Ibid., dossier 2562. Xem thêm Vũ Ngự Chiêu và Nguyễn Thế Anh, Một ngôi trường khác cho Nguyễn Tất Thành / Another School for Young Nguyen Tat Thanh / Une autre école pour le jeune Nguyen Tat Thanh (Paris: Văn Hoá, 1983). Sẽ dẫn: Vũ Ngự Chiêu & Nguyễn Thế Anh (1983). Trong số 20 người bị gửi về nước ngày 30/11/1908, có Hồ Đắc Đệ, giáo viên Pháp văn trường Quốc học, em (hoặc anh) của Hồ Đắc Trung, và Lương Văn Phúc.

54. Báo cáo ngày 7/2/1907; Ibid., AF, carton 9, d. A-20 (54).

55. Patrick J. N. Tuck, French Catholic Missionaries and the Politics of Imperialism in Vietnam, 1857-1914: A Documentary Survey. (London: Liverpool Univ. Press). tr. 287.

56. NB 1971, tr. 138-9; Báo cáo chính trị năm 1910, trong CAOM (Aix), GGI, F-03 (55) & (56); Ibid., AF, carton 24, d. A-50 (34) & d. A-20 (54); Marr 1971, tr. 150, chú 107. Đặng Thái Thân còn có biệt danh là Ngư Hải tiên sinh.

57. CAOM (Aix), 9PA, carton 4.

58. CAOM (Aix), GGI, d. 5886. Xem thêm báo cáo tổng quát năm 1908, ngày 29/5/1909, Groleau gửi Toàn quyền; Ibid., GGI, F-03 (54).

59. Xem, L’Avenir du Tonkin (Hà-nội), 14/6/1910, & 2/3/1910; Báo cáo năm 1913 của Violette, Phúc trình viên (rapporteur) ngân sách thuộc địa năm 1911, 1912, và 1913; Cao Huy Thuần 1990, tr. 395-7. Alssace là vùng đất tranh chấp lâu đời giữa Germany và Pháp.

60. JORF, Débats parlementaires (3/4/1909), tr. 980, 981-3, 984, 989, 993.

61. CAOM (Aix), Indo, RSA, F1; Indo, GGI, dossiers 2563, 2578; & 9 PA, Cartons 2 & 3; Vũ Ngự Chiêu và Nguyễn Thế Anh (1983), tr. 43-4.; JOIF (Hà-nội), XXIII:26 (30/3/1911), tr. 678-9.

62. Ibid., INF, carton 101, d. 975; Báo cáo ngày 6/3/1912, Sarraut gửi Bộ Thuộc địa; Ibid., AF, carton 10, d. A-20 (65); Cao Huy Thuần 1990, tr. 398-9.

63. Biên bản buổi họp số 336 của Hội đồng Quản trị; Ibid., ECOLE COLONIAL, Registre 5, tr. 413-5.

64. Ibid., Amiraux 47473.

65. Báo cáo ngày 1/5/1911, Khâm sứ gửi Toàn quyền; Ibid., Amiraux 47473, 51112. Ngày 18/5/1911, Toàn quyền phê chuẩn. Trường Quốc học thì từ ngày 1/12/1913, một nửa nội trú, giá 8 đồng, bán nội trú, 4 đồng, và ngoại trú, giá 1 đồng. Chương trình học 10 tháng một năm; Ibid., Amiraux 23750, & 51077.

66. Ibid., 9PA, carton 4.

67. Paul Isoart, Le phénomène national vietnamien (Paris: Librairie général de droit et de jurisprudence, 1961), tr. 213.

68. L’Avenir du Tonkin, 21/10/1912; Cao Huy Thuần 1990, tr. 402.

69. L’Avenir du Tonkin, 7/8/1912; Cao Huy Thuần 1990, tr. 403.


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
07 Tháng Mười 20189:13 SA(Xem: 1425)
Sinh ngày 6/10 Nhâm Ngọ, tức 13/11/1942, tại thôn “Me Vừng,” làng Phụng Viện thượng Hải Dương, Bình Giang, Hải Dương—nhưng trên khai sinh, đề ngày 6/0/1942—tôi có một lá tử vi khá kỳ lạ. Giáo sư Nguyễn Bỉnh Tuyên—một lãnh tụ Đại Việt Quốc Xã, thày dạy kèm chữ Pháp cho tôi trong hai năm Đệ Tam, Đệ Nhị (1957-1959)—nói tôi có số “ở tù;” nên “ở lính” có thể giải thích như ở tù. Mãi tới năm 1971, bác Phan Vọng Húc—bạn cha tôi ở Hải Dương, phụ thân nhà thơ Phan Lạc Giang Đông—mới đưa ra lời giải đoán khá chính xác: Tôi có số “Ngựa Trời,” sẽ xuất ngoại, đỗ đại khoa, và thọ tới hơn 70.
02 Tháng Chín 200912:00 SA(Xem: 59590)
Khái Hưng gốc làng Cổ Am, Vĩnh Bảo, Hải Dương–nơi chính quyền Bảo hộ Pháp từng dùng bom đạn san bằng sau cuộc khởi nghĩa mùa Xuân năm 1930 của Việt Nam Quốc Dân Đảng [VNQDĐ]. Thân phụ là Trần Mỹ, Tuần phủ Phú Thọ [Thái Bình?].
12 Tháng Mười Một 20189:44 CH(Xem: 389)
Bức điện ngắn ngủi. Tôi đọc và không tin ở mắt mình. Chiếc ấm điện chưa đổ nước đã cắm phích, vài khắc nổ tung. Thach giật minh chúi đầu vào bức chân dung đang vẽ dở. Tôi nhẩm nhẩm đọc lại: ‘’Em hay vô đây, anh đã xây cho chúng ta một ngôi nhà...’’.Thạch dành bức điện, lướt mắt rồi vò nát:’’ Thằng nào?’’ .Tôi không trả lời, ểu oải nằm vật ra giường.Thạch tức tối vò bức tranh. Tôi như trượt về ký ức. Đà Lạt năm ấy giữa mùa hạ chói gắt, chiecs xe khách vất vả vượt đèo Ngoạn Mục. Tôi đến Đà Lạt, bên này đỉnh đèo là mùa dông rét mướt. Cái lạnh đột ngột phả vào nỗi bức bối mà tôi đang phải chốn chạy.
12 Tháng Mười Một 20187:44 CH(Xem: 346)
Tôi chọn em và thơ để sống mỗi ngày được nhiều hơn 24 tiếng. / Em đừng treo anh vắt vẻo lên câu thơ, bắt anh giữ thăng bằng cùng thời cuộc. Anh yêu mến đám đông nhưng đám đông trì níu anh đến chết. / Em chỉ đau ngón chân đã làm anh đau cả bàn tay phải. Những bờ huyền thuần khiết đã nhường nhịn em, những hờ lan mệt mỏi đã nhường nhịn em. Anh cũng nhường nhịn em dù anh không phải là người đàn ông tốt nhịn. /
04 Tháng Mười Một 20188:37 CH(Xem: 584)
Những đứa trẻ mùa đông / Nô đùa cùng giá rét / Củ khoai lùi ấm áp khất thực tuổi thơ / Còng lưng chữ nghĩa đu đưa sợi dây vực thẳm trố mắt ngẩn ngơ /
04 Tháng Mười Một 20188:27 CH(Xem: 564)
không thề xác tín được / nụ hôn luôn bí mật hiện đang phiêu du / nó sẽ dành cho bóng hình ẩn mặt / khi ý thức chẳng hiểu gì về sự phỉnh dụ của giọng nói /
31 Tháng Mười 20186:16 CH(Xem: 781)
Vài phút nữa em thức dậy / Vậy là tháng mười sắp hết / Tình rét co ro em con mèo nhỏ / Em khoác áo vàng mùa dã quỳ mưa /
30 Tháng Mười 20189:28 CH(Xem: 730)
Mưa không ngưng từ ngày cô bỏ đi. / Cô đếm từng đêm. / Đã 4000 đêm mưa. Từ khi cô đã cuống cuồng bỏ chạy, đã hấp tấp đến nỗi không kịp mang theo một thứ gì, cô lật đật lưỡi đưỡi, vấp váp, rồi vùng dậy, đứng lên, lao ra khỏi vùng phai tàn. / Phải rồi, ở đó, trong bóng tối mát dịu của người đàn ông ấy, quanh chỗ rợp đổ xuống của bờ vai rộng mà cô dựa vào mỗi đêm, quanh vồng ngực ấm mà cô chúi vào mỗi đêm, giờ chỉ là một vùng phai tàn. / Từ khi cô bỏ chạy, đã được 4000 đêm.
26 Tháng Mười 20188:54 CH(Xem: 536)
Nhân dịp nhà văn Nguyên Ngọc giõng dạc tuyên bố ra khỏi Đảng Cộng Sản Việt Nam ngày 26/10/2018, xin đăng lại cuộc chuyện trò đã đăng trên Hợp Lưu mới chớp mắt đây mà đã 15 năm truân chuyên vận nước (ND)
26 Tháng Mười 20185:31 CH(Xem: 648)
Từ nhiều năm qua, tôi nhận thấy Đảng ngày càng xa rời lý tưởng ban đầu của mình, “tự diễn biến” thành một tổ chức chuyên quyền, phản dân hại nước. Tôi không thể còn đứng trong một tổ chức như vậy. Tôi vẫn tin ở tương lai của đất nước, nhất là ở lớp trẻ, vì không có lực lượng vô luân nào có thể ngăn trở dân tộc này quyết định vận mệnh của mình. Nguyên Ngọc Ngày 26-10-2018