- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

" Marguerite Duras Đã Cư Ngụ Nơi Đây..."

20 Tháng Bảy 201012:00 SA(Xem: 34035)

the-lover-duras_0_195x300_1Trên đường dẫn tôi đi thăm Honfleur, một thành phố hải cảng trong vùng Normandy còn giữ được nhiều kiến trúc từ thời Trung cổ vô cùng bắt mắt đối với một người yêu kiến trúc và ham chụp hình như tôi, cô bạn Thế Dung đã dành cho tôi một ngạc nhiên thú vị khi dừng xe lại trước một toà nhà năm tầng bằng gạch ngó ra biển Đại Tây Dương, trong vùng Trouville-sur-Mer, giục tôi xuống xem.

Toà nhà trông cũng giống như nhiều ngôi nhà tôi đã thấy quanh đó -- kiến trúc kiên cố song vẫn giữ được nét duyên dáng, bảo trì kỹ lưỡng. Chỉ khác một điều: trên cái cột bên phải nơi cổng ra vào khép kín có một tấm biển bằng đá mầu hồng với những chấm đen, trên ghi:

Ancien Hôtel des Roches Noires
Marguerite Duras a résidé ici
de longues periodes entre 1963 et 1996
"Regarder la mer c’est regarder le tout"

 

Bên tay mặt của toà nhà là những nấc thang dẫn xuống bãi biển, với một tấm biển đề, "Escalier Marguerite Dugas 1914-1996". Tôi không khỏi bồi hồi.

Marguerite Duras là một trong những tác giả mà tôi yêu thích. Yêu vì tài văn chương, khả năng điện ảnh và sức sáng tác vô cùng phong phú của bà. Song, một cách thiên vị, tôi cũng còn mến bà ở chỗ bà đã tạo nên ba tác phẩm đặt bối cảnh là Nam Việt Nam, tức Nam Kỳ thời còn là thuộc địa Pháp, và là ba tác phẩm quan trọng nhất vì chúng là nền tảng của thân thế và sự nghiệp của bà.

 Đó là cuốn tiểu thuyết "Un barrage contre le Pacific" (1950), bản dịch Anh ngữ là "The Sea Wall"; cuốn "L’Amant" (1984), bản dịch Anh ngữ là "The Lover"; và cuốn "L’Amant de la Chine du Nord" (1991), bản dịch Anh ngữ là "The North China Lover". Hai cuốn đầu, "Un barrage contre la Pacific" và "L’Amant", đã được dựng thành phim. Riêng cuốn "Un barrage" được dựng thành phim tới hai lần, lần đầu vào năm 1957, tựa là "This Angry Age", do Rene Clement đạo diễn và tài tử Anthony Perkins đóng một trong các vai chính; và mới năm ngoái, 2008, "Un barrage" được dàn dựng lại dưới tựa cùng tên với sách, do nhà làm phim tài liệu người Pháp gốc Miên Rithy Panh đạo diễn, quay tại Prey Nup, Cambodia.

Marguerite Duras ra đời ngày 4 tháng 4, 1914, dưới tên Marguerite Donnadieu, tại Gia Định, Sàigòn, là con gái duy nhất và út trong ba người con. Duras, mà bà chọn làm bút hiệu, là tên một làng nhỏ ở miền nam nước Pháp, nơi cha bà làm chủ một ngôi nhà. Cha mẹ của bà, Henri và Marie Donnadieu, là giáo sư toán và Pháp văn, sang Đông Dương dậy học cho chính quyền thuộc địa. Năm cô bé Marguerite lên 4 tuổi, ông bị bệnh nặng, phải đưa về Pháp điều trị, và chết tại đó. Bốn mẹ con bà Donnadieu sau đó trở lại Việt Nam sống và lâm vào cảnh nghèo khó vì bao nhiều tiền để dành bà giáo Marie đã đổ vào miếng đất ven Vịnh Thái Lan thuê lại của chính quyền thuộc địa, một phần để xây bức tường (nhiều lần) ngăn nước biển tràn vào đất trồng trọt, phần khác để kiện tụng các viên chức thuộc địa đã lừa gạt bà.

Những chi tiết của quãng đời này đã được Duras mô tả cùng với các nhân vật được xây dựng tài tình trong cuốn tiểu thuyết "Un barrage contre le Pacific" (Sea Wall), cuốn tiểu thuyết đã chính thức đưa tên tuổi bà lên tại Pháp và tại những quốc gia cựu thuộc địa của Pháp, trong đó có Việt Nam, và mở đầu cho một chuỗi những sáng tác quan trọng khác, nổi bất nhất là "Hiroshima Mon Amour" (1959). "Hiroshima", về mối tình giữa một phụ nữ Pháp và một người đàn ông Nhật, do bà viết truyện phim và Alain Renais đạo diễn, đã đưa tên tuổi bà lên văn đàn quốc tế.

Sau vụ khẩn hoang thất bại, bà Donnadieu đem các con về Sadec sống bằng nghề dậy học. Trường là một ngôi biệt thự kiểu thuộc địa hiện vẫn tồn tại, vẫn được dùng làm trường học, đứng cũ kỹ ở góc đường Hồ Xuân Hương và Hùng Vương, do một số ký gỉả Tây phương tìm ra trước sự vô tình thờ ơ của người địa phương, cũng như họ không hiểu tại sao mấy ông bà ngoại quốc này lại để ý tới tòa nhà chả có gì đặc biệt đó. Gia đình bà giáo Marie sống ở ngôi nhà nhỏ nằm phía sau ngôi biệt thự được dùng làm trường học. Cô bé Marguerite lớn lên tại đây, nói thông thạo tiếng Việt, và là một cô gái da trắng duy nhất sống trà trộn, nhưng không hòa đồng, với người Việt bản xứ, chung đụng vớí họ trên các chuyến phà và xe buýt, cho đến khi xong trung học thì được mẹ gửi về Pháp theo học đại học bằng tiền dành giụm của bà.

Cũng trong thời kỳ này, cô thiếu nữ Marguerite, trong những chuyến từ Sàigòn, nơi cô học nội trú, về Sadec thăm nhà, quen với một thanh niên người Tầu hơn cô trên 10 tuổi, con của một điền chủ giầu có trong vùng. Họ trở thành tình nhân, tạo nên một sì-căng-đan hồi ấy ở cả Sàigòn lẫn Sadec. Cô thiếu nữ Marguerite được mẹ khuyến khích quyến rũ anh chàng người Tầu giầu có để moi của, làm người đã đọc hay xem phim "Un barrage contre le Pacific" liên tưởng đến cũng một bà mẹ, cay đắng vì thất bại, cũng đã từng thúc đẩy con gái quyến rũ một người đàn ông giầu có để moi của. Cuộc tình đầy đam mê, sôi nổi và không dẫn tới đâu này giữa Marguerite và người thanh niên Tầu là nền tảng của cuốn tiểu thuyết L’Amant (The Lover), xuất bản năm 1984, đã đem về cho Duras giải Goncourt, được dịch ra hơn 40 ngôn ngữ, được quay thành phim năm 1992, do Jean-Jaques Anneaud đạo diễn với nhiều cảnh quay ngay tại Sadec, và đã được đón tiếp nồng nhiệt.

Người mẹ trong cả hai cuốn tiểu thuyết "Un barrage contre le Pacific" và "L’Amant" đã được Duras mô tả như một người nhiều bất mãn, cay đắng, chua chát trước số phận không may của mình -- một người đàn bà da trắng, có học song đời sống vật chất còn thua xa cả nhiều người dân thuộc địa --, song cũng là một người đầy nghị lực, ngoan cố, không chịu khuất phục trước nghịch cảnh, kể cả thiên tai. Trong "Un barrage", bà không những chỉ xây bức tường để ngăn nước biển tràn vào ruộng một lần, mà nhiều lần, tới khi kiệt quệ tiền bạc. Cũng chính cá tính ấy, đặc biệt là sự bất khuất và thái độ thách thức, đã ảnh hưởng sâu xa tới con người và đời sống của Duras sau này.

Điển hình hơn cả là vào đầu thập niên 1980, khi bà đã xấp xỉ 70 tuổi, gan thận đã nát bấy vì bệnh nghiện rượu, trong khi mọi người nghĩ bà đã hết, thì bà trỗi dậy, như người gần chết sống lại, cho ra đời cuốn tiểu thuyểt "L’Amant", một thứ tiểu thuyết hồi ký về tuổi mới lớn của bà ở vùng đồng bằng song Cửu Long, được giải Goncourt, trở thành best-seller và đã được dịch ra trên 40 thứ tiếng với số bán cả triệu ấn bản.

Chưa hết, khi cuốn truyện được dựng thành phim vào năm 1992 và cũng thành công không kém, nhưng Duras không hài lòng với cuốn phim. Bà bèn ngồi xuống, ở tuổi gần 80, viết một cuốn truyện khác để "nói lại cho rõ", kể cả việc dùng những trích đọan của cuốn "L’Amant" trong cuốn sau này. Đúng ra thì bà không tự tay viết, mà là đọc cho người bạn đường Yann Andréa, trẻ hơn bà tới cả 40 tuổi, ghi và đánh máy lại vì bà bị hư cánh tay mặt, tại Ancien Hotel des Roches Noires ở Trouville, nơi tôi đã có dịp ghé qua chụp hình. Cuốn tiểu thuyết mang tựa đề "L’Amant de la Chine du Nord" ("The North China Love") cũng đã được đón nhận nồng nhiệt, mặc dù những bình phẩm bất lợi, cho là bà đã lợi dụng sự thành công của cuốn phim. Đến cả chủ bút Jérôme Lindon của nhà xuất bản Minuit, là nhà xuất bản đã in cuốn "L’Amant", cho rằng bà đã sai lầm khi viết một ấn bản khác của cùng một câu chuyện.

Duras không quan tâm tới những bình phẩm. Bà là một mẫu người cực đoan, tự tin tới độ ngoan cố, nhiều định kiến, bất chấp dư luận và nguyên tắc, kể cả những nguyên tắc của một nghề nghiệp, song hùng biện và quyến rũ. Bà thích nghe người ta tán thưởng bà, theo nhà phê bình Edmund White (1940-), người đã từng tiếp xúc với bà ở Paris. Edmund đã mô tả bà như "một người tự kỷ ám thị và thường xuyên nói về mình", rằng bà "yêu bà, trích dẫn chính mình, bà hồ hởi, như một đứa trẻ, đọc những gì bà viết và xem những phim cũ của bà, những cuốn phim mà bà cho tất cả đều tuyệt vời." (*)

Như thể cô bé Marguerite ương ngạnh, phục sức lố lăng, bất cần đời trên những chuyến phà ở vùng đồng bằng sông Cửu Long dạo nào vẫn không chịu lớn, mặc dù cái thân xác chứa đựng cô đang héo úa, tàn tạ. Có lẽ vì thế mà bà đã không ngần ngại bước sang những lãnh vực khác, như viết kịch, truyện phim và đạo diễn điện ảnh, với cùng một niềm tự tin như với văn chương, và gặt hái phần nào thành công. Bà cũng đã thử nghiệm với vài thể văn chương mới, như trong "L’Amant", với lối viết rất đơn giản, như loại tranh thủy mạc đơn sơ, ít chi tiết, hoặc như một sơ lược chi tiết của một truyện phim (scenario), khác hẳn với thể loại truyền thống của "Un barrage contre le Pacific". Cũng có một dạo bà nhúng tay vào tường thuật báo chí, nhưng vì đầy định kiến, bị nhiều người không tán thành. 

Rồi ở tuổi 66, Duras gặp Yann Andréa Steiner, lúc ấy là một thanh niên mới chớm 20, thuộc giới đồng tính luyến ái và là người mến mộ bà (fan), và nhận anh ta làm người bạn đường suốt quãng đời còn lại. Cũng chính nhờ Andréa, đặc biệt là tình yêu và sự tận tụy của anh ta, mà mặc dù đã bị liệt cánh tay mặt và đi lại khó khăn, Duras vẫn sáng tác bằng cách đọc cho Andréa chép rồi đánh máy lại. Đã hẳn Andréa, vì lòng mến mộ văn chương bà, có lẽ đã khích lệ bà rất nhiều. Chính Duras nhìn nhận cuốn "M.D." (1983) Andréa viết về bà đã gợi hứng cho bà viết "L’Amant".

Cuộc hành trình 16 năm của Andréa với Duras đã được đạo diễn Josée Dayan dựng lại trong phim "Cet amour-là" (2001), nói tiếng Pháp với phụ đề Anh ngữ, với Andréa đóng góp phần đối thoại. Phim do nữ tài tử Jeanne Moreau thủ vai Marguerite Duras và Aymeric Demarigny, một diễn viên mới vào nghề, đóng vai Andréa. Sự "hợp tác văn chương" khá đặc biệt này đã được James S. Williams khai thác trong bài "A Beast of a Closet: The Sexual Differences of Literary Collaboration in the Work of Marguerite Duras and Yann Andréa". (**)

Dù Duras lập đi lập lại cùng một câu chuyện, với bấy nhiêu nhân vật -- người mẹ cay đắng nhưng bất khuất/ngoan cố, người anh trai vô dụng, người tình đầu đời khác chủng tộc lúc xấu xí (khi người mẹ bắt con gái quyến rũ để moi của), khi đẹp trai, sang trọng và ngoài tầm tay với (khi Duras về già nhìn lại mối tình đầu) -- qua hết cuốn này này tới cuốn khác, kể cả hồi ký, tùy bút, độc giả hình như vẫn chưa thấy đủ. Họ vẫn yêu và tìm đọc bà, vì họ đã "phải lòng" bà, như tựa bài biên khảo rất sâu sắc về con người và sự nghiệp của Marguerite Duras của Edmund White, "In Love with Duras". (*)

Trước sau, Duras đã để lại cho nền văn học Pháp và những nguời yêu mến bà, dù có thể chỉ qua vài tác phẩm quan trọng của bà, một sư nghiệp đồ sộ: Trên 40 tác phẩm vừa tiểu thuyết vừa kịch bản, truyện phim, hồi ký, và khoảng 20 cuốn phim ngắn và dài do chính bà đạo diễn. (***) 

Tên tuổi và sự nghiệp đồ sộ như vậy, khi chết, được chôn ở Nghĩa Trang Montparnass, Quận 14, Paris, mộ bia của Duras chỉ khắc vỏn vẹn hai chữ "M.D."

Ghi chú:

(*) Edmund White, "In Love with Duras", The New York Review, June 26, 2008, http://www.nybooks.com/articles/21556.

(**) James S. Williams, "A Beast of a Closet: The Sexual Differences of Literary Collaboration in the Work of Marguerite Duras and Yann Andréa", Vol. 87, No. 3 (Jul., 1992), pp. 576-584, (article consists of 9 pages), The Modern Language Review, published by: Modern Humanities Research Association, http://www.jstor.org/stable/3732921

(***) Thư mục của Marguerite Duras, http://en.wikipedia.org/wiki/Marguerite_Duras.

Hình ảnh và chú thích:

blank

Hình cực trái, cô thiểu nữ Marguerite Donnadieu, chụp tại Đông Dương. Hình giữa, với mẹ, Marie Donnieu, tại Pháp, 1932. Hình cực phải, không rõ năm. (Ảnh Internet)

blank

 

Hình cực trái, Ancien Hôtel des Roches Noires mặt hướng ra biển Đại Tây Duưong, được xây cất vào năm 1866, nay là di sản văn hóa quốc gia Pháp. Toà nhà từ năm 1959 không còn là khách sạn nữa mà được bán cho dân, như condominium, để ở. Marguerite Duras đã mua một căn vào năm 1963 và cư ngụ tại đây tới khi bà mất vào năm 1996. Hình giữa là phòng làm việc của Duras. Hình phải, ngôi mộ của Marguerite Duras, với chữ "M.D." đơn giản, tại Nghĩa trang Montparnasse, Quận 14, Paris. (Ảnh Internet)

blank

Hinh bên trái, một góc của toà nhà Ancien Hôtel des Roches Noires, 89 rue de General-Leclerc, Trouville-sur-Mer. Được xây cất vào năm 1886, tòa nhà này nay là một di sản văn hóa quốc gia Pháp. Marguerite Duras đã lui tới nơi đây thường xuyên để sáng tác, từ năm 1963 tới khi bà mất vào năm 1996, và đã dùng nơi đây làm bối cảnh cho ba cuốn phim của bà. Phía tay mặt trong hình là một tấm bảng dựng bên cạnh cầu thang dẫn xuống bãi biển, trên đề "Escalier Marguerite Duras 1914-1996". Hình bên phải, tấm biển bằng đá gắn trên một cái cột bên cổng ra vào, trên có hàng chữ, "Khách sạn cổ kính Roches Noires / Marguerite Duras đã cư ngụ ở đây trong nhiều thời kỳ dài giữa 1963 và 1996 / ‘Thấy biển là thấy tất cả’." (Ảnh Trùng Dương, 06/2009)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
12 Tháng Chín 20242:10 CH(Xem: 26658)
Ngày xưa hồi còn nhỏ, tui hay nghe bà cố tui đọc câu: "Còn duyên kẻ đón người đưa. Hết duyên đi sớm về trưa một mình". Tui thấy ngồ ngộ dễ thương nên tui nhớ luôn câu ấy ở trong đầu. / Mấy mươi năm trôi qua cho đến giờ tuổi đã về chiều, ngồi ngẫm lại đời mình. À! người ta thì "còn duyên kẻ đón người đưa" còn mình hết cả một đời người trôi qua mà mình có chút duyên nào đâu, vì từ nhỏ cho tới lớn đâu có ai đón đưa, thương nhớ mình chứ ... Xấu hổ thiệt nhưng cũng phải thú thiệt vì ở cái tuổi này rồi, có níu kéo gì nữa đâu hè!! Nói thiệt may ra ông trời ổng thấy tội tội mà kiếp sau ổng cho mình có chút "diên" (duyên)làm vốn lận lưng.
31 Tháng Tám 202410:09 CH(Xem: 30546)
Tôi bán đồ trang sức si mạ ở chợ lớn QuI Nhơn gồm kẹp tóc, nơ cài và cả vòng đeo tay cho con gái. Có một thời tôi bán rất đắt hàng kể cả bán sỉ và lẻ. / Trong chợ có một chị làm công cho các quầy hàng bún phở. Chi tên Xíu, chuyên đi bưng bê các tô bún, tô cháo, hoặc là trà đá chanh, sinh tố cho bạn hàng buôn bán trong chợ. Ngày nào chị cũng ngang qua hàng của tôi mà ngắm nhin. Một buổi chiều sau khi xong việc, chị dừng lại hàng tôi và chỉ chiếc vòng mã não Mỹ mà tôi chưng bày trong tủ kính ( hồi thời đó vòng mã não rất quý).
18 Tháng Tám 20243:37 SA(Xem: 28953)
Tôi không bao giờ nghĩ rằng mình sẽ là cô giáo. Nhưng có lẽ là duyên trời nên tôi đã từng đứng trên bục giảng, dưới kia là những đôi mắt thơ ngây của các em thơ ngày ấy- học trò nhỏ của tôi và tôi đã là cô giáo.
05 Tháng Tám 202412:31 SA(Xem: 29281)
Ông Võ Phiến gọi Nguyễn Mộng Giác là một người “thàng”(hậu). Ông Nguyễn Mộng Giác cũng gọi Võ Phiến là “thàng”. Và, hai ông định nghĩa thàng như sau: Nguyễn Mộng Giác: "Thàng" không phải là hiền. "Thàng" là một chữ định hình, chứ không định tính. Người thàng, là người ít nói, tránh né những tranh chấp rắc rối, sẵn sàng chịu phần thua thiệt để giữ hoà khí, cố giữ bề ngoài đơn giản lùi xùi để không bị ai xem là kẻ quan trọng. Người thàng có thể hiền lành vì không dám làm việc dữ. Nhưng người thàng cũng có thể có những phản ứng bất ngờ dữ dội khi đột nhiên không thể chịu đựng được mãi sự thua thiệt. Người ta bảo người thàng hay cộc.” (Đặc san Tây sơn –Bình Định,1999) Và Võ Phiến: “Thàng là chữ riêng của người Bình Định, và cũng là chữ riêng để mô tả người Bình Định. Thàng cũng nói là thàng hậu; thàng hậu nghiã gần như hiền hậu, nhưng còn đi xa hơn hiền hậu nữa kia, vì nó có khả năng mô tả, hiền hậu thì không. Hiền hậu, thực thà là một đức tình, một nết hay; thàng hậu còn là một...
16 Tháng Bảy 202411:32 CH(Xem: 29518)
Năm tôi 37 tuổi tôi đã chia tay chồng, tôi gặp một người đàn ông do sư thầy ở chùa giới thiệu để giúp tôi một công việc. Ông lớn hơn tôi đúng 12 tuổi, là phật tử hay làm công quả ở chùa tư cách đứng đắn đàng hoàng; thật lạ ngày đầu tiên vừa thấy tôi, ông nhìn sững như quen tự đời nào, ông đưa tay chùi một vết lấm lem trên mặt tôi và sau này bảo rằng ông yêu tôi ngay từ ngày đầu gặp mặt. Mà hồi đó tôi ốm nhom xơ xác xấu xí tựa như con chim bị mắc mưa rủ cánh giữa đông tàn. Qua ngày sau, ông ta đem tới tặng tôi hai quả xoài cát và bảo rằng: "cây xoài nhà anh trồng hơn mười năm đến năm nay nó mới có trái anh hái liền cho em" Tôi cảm thấy cảm động. Tôi thấy mình được quan tâm, cái mà 15 chung sống cùng chồng tôi chưa hề có được ...
05 Tháng Bảy 202410:37 CH(Xem: 29732)
Tình cờ tôi gặp một tấm ảnh trên mạng, trong một album ảnh cũ về Nha Trang - Khánh Hoà trước năm 1975. Tấm ảnh được chụp trên đồi Trại Thuỷ, từ phía sau lưng Kim Thân Phật Tổ (tượng Phật trắng), có lẽ vào quãng những cuối những năm 60 của thế kỷ trước.
05 Tháng Bảy 202410:17 CH(Xem: 28506)
Năm tới 2025, người Việt gốc Mỹ sẽ kỷ niệm 50 năm định cư tại Hoa Kỳ. Chúng tôi cũng sẽ có thêm một kỷ niệm định cư tại Seattle đươc nửa thế kỷ. Thời gian không còn nhiều sao tôi cứ băn khoăn không hiểu mọi người sẽ chuẩn bị tổ chức ra sao?
05 Tháng Bảy 20249:12 CH(Xem: 26476)
Tháng 6. Sài Gòn buổi chiều thường mưa. Mưa to lắm, mây đen kịt kéo nhanh làm tối cả bầu trời, nhìn xa xa sau màn nước mưa mù trời những đoàn xe trên đường cao tốc xuôi ngược nối dài nhau trên con đường quốc lộ xa tắp mịt mù.
15 Tháng Sáu 20244:38 SA(Xem: 28540)
Trước hết, tôi cần nhắc lại với bạn câu nói: “Sự thật cũng là một thứ Nhân đức” của nhà triết học cổ Hy Lạp Aristotle. Ngắn gọn thôi nhưng chân lý đó đủ sức vượt bao thế kỷ để trở thành bài học quan trọng nhất đối với một kẻ cầm bút, cầm máy quay, và vĩnh viễn không bao giờ cùn mòn, mất tính thời sự!
15 Tháng Sáu 20243:48 SA(Xem: 28866)
Những đổi thay khốc liệt sau cuộc chiến 75 đã đưa đẩy một nhóm bạn bè chúng tôi gần gũi, siêng năng gặp gỡ nhau hơn những ngày tháng trước đó. Một ngày của mùa hè 1978, đi với anh Nguyễn Đình Toàn đến nhà chúng tôi ở cư xá Thanh Đa là Trần Quang Lộc trạc tuổi hai mươi tám, ba mươi, với cây guitar trên vai. Nghiêu Đề và tôi luôn vồn vã, thân thiện rất nhanh với bạn mới gặp, nhất là lại có thêm cây đàn. Ham vui như chúng tôi, sự thân thiện sau đó đã tăng lên gấp bội.