- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,501,761

" Marguerite Duras Đã Cư Ngụ Nơi Đây..."

20 Tháng Bảy 201012:00 SA(Xem: 23354)

the-lover-duras_0_195x300_1Trên đường dẫn tôi đi thăm Honfleur, một thành phố hải cảng trong vùng Normandy còn giữ được nhiều kiến trúc từ thời Trung cổ vô cùng bắt mắt đối với một người yêu kiến trúc và ham chụp hình như tôi, cô bạn Thế Dung đã dành cho tôi một ngạc nhiên thú vị khi dừng xe lại trước một toà nhà năm tầng bằng gạch ngó ra biển Đại Tây Dương, trong vùng Trouville-sur-Mer, giục tôi xuống xem.

Toà nhà trông cũng giống như nhiều ngôi nhà tôi đã thấy quanh đó -- kiến trúc kiên cố song vẫn giữ được nét duyên dáng, bảo trì kỹ lưỡng. Chỉ khác một điều: trên cái cột bên phải nơi cổng ra vào khép kín có một tấm biển bằng đá mầu hồng với những chấm đen, trên ghi:

Ancien Hôtel des Roches Noires
Marguerite Duras a résidé ici
de longues periodes entre 1963 et 1996
"Regarder la mer c’est regarder le tout"

 

Bên tay mặt của toà nhà là những nấc thang dẫn xuống bãi biển, với một tấm biển đề, "Escalier Marguerite Dugas 1914-1996". Tôi không khỏi bồi hồi.

Marguerite Duras là một trong những tác giả mà tôi yêu thích. Yêu vì tài văn chương, khả năng điện ảnh và sức sáng tác vô cùng phong phú của bà. Song, một cách thiên vị, tôi cũng còn mến bà ở chỗ bà đã tạo nên ba tác phẩm đặt bối cảnh là Nam Việt Nam, tức Nam Kỳ thời còn là thuộc địa Pháp, và là ba tác phẩm quan trọng nhất vì chúng là nền tảng của thân thế và sự nghiệp của bà.

 Đó là cuốn tiểu thuyết "Un barrage contre le Pacific" (1950), bản dịch Anh ngữ là "The Sea Wall"; cuốn "L’Amant" (1984), bản dịch Anh ngữ là "The Lover"; và cuốn "L’Amant de la Chine du Nord" (1991), bản dịch Anh ngữ là "The North China Lover". Hai cuốn đầu, "Un barrage contre la Pacific" và "L’Amant", đã được dựng thành phim. Riêng cuốn "Un barrage" được dựng thành phim tới hai lần, lần đầu vào năm 1957, tựa là "This Angry Age", do Rene Clement đạo diễn và tài tử Anthony Perkins đóng một trong các vai chính; và mới năm ngoái, 2008, "Un barrage" được dàn dựng lại dưới tựa cùng tên với sách, do nhà làm phim tài liệu người Pháp gốc Miên Rithy Panh đạo diễn, quay tại Prey Nup, Cambodia.

Marguerite Duras ra đời ngày 4 tháng 4, 1914, dưới tên Marguerite Donnadieu, tại Gia Định, Sàigòn, là con gái duy nhất và út trong ba người con. Duras, mà bà chọn làm bút hiệu, là tên một làng nhỏ ở miền nam nước Pháp, nơi cha bà làm chủ một ngôi nhà. Cha mẹ của bà, Henri và Marie Donnadieu, là giáo sư toán và Pháp văn, sang Đông Dương dậy học cho chính quyền thuộc địa. Năm cô bé Marguerite lên 4 tuổi, ông bị bệnh nặng, phải đưa về Pháp điều trị, và chết tại đó. Bốn mẹ con bà Donnadieu sau đó trở lại Việt Nam sống và lâm vào cảnh nghèo khó vì bao nhiều tiền để dành bà giáo Marie đã đổ vào miếng đất ven Vịnh Thái Lan thuê lại của chính quyền thuộc địa, một phần để xây bức tường (nhiều lần) ngăn nước biển tràn vào đất trồng trọt, phần khác để kiện tụng các viên chức thuộc địa đã lừa gạt bà.

Những chi tiết của quãng đời này đã được Duras mô tả cùng với các nhân vật được xây dựng tài tình trong cuốn tiểu thuyết "Un barrage contre le Pacific" (Sea Wall), cuốn tiểu thuyết đã chính thức đưa tên tuổi bà lên tại Pháp và tại những quốc gia cựu thuộc địa của Pháp, trong đó có Việt Nam, và mở đầu cho một chuỗi những sáng tác quan trọng khác, nổi bất nhất là "Hiroshima Mon Amour" (1959). "Hiroshima", về mối tình giữa một phụ nữ Pháp và một người đàn ông Nhật, do bà viết truyện phim và Alain Renais đạo diễn, đã đưa tên tuổi bà lên văn đàn quốc tế.

Sau vụ khẩn hoang thất bại, bà Donnadieu đem các con về Sadec sống bằng nghề dậy học. Trường là một ngôi biệt thự kiểu thuộc địa hiện vẫn tồn tại, vẫn được dùng làm trường học, đứng cũ kỹ ở góc đường Hồ Xuân Hương và Hùng Vương, do một số ký gỉả Tây phương tìm ra trước sự vô tình thờ ơ của người địa phương, cũng như họ không hiểu tại sao mấy ông bà ngoại quốc này lại để ý tới tòa nhà chả có gì đặc biệt đó. Gia đình bà giáo Marie sống ở ngôi nhà nhỏ nằm phía sau ngôi biệt thự được dùng làm trường học. Cô bé Marguerite lớn lên tại đây, nói thông thạo tiếng Việt, và là một cô gái da trắng duy nhất sống trà trộn, nhưng không hòa đồng, với người Việt bản xứ, chung đụng vớí họ trên các chuyến phà và xe buýt, cho đến khi xong trung học thì được mẹ gửi về Pháp theo học đại học bằng tiền dành giụm của bà.

Cũng trong thời kỳ này, cô thiếu nữ Marguerite, trong những chuyến từ Sàigòn, nơi cô học nội trú, về Sadec thăm nhà, quen với một thanh niên người Tầu hơn cô trên 10 tuổi, con của một điền chủ giầu có trong vùng. Họ trở thành tình nhân, tạo nên một sì-căng-đan hồi ấy ở cả Sàigòn lẫn Sadec. Cô thiếu nữ Marguerite được mẹ khuyến khích quyến rũ anh chàng người Tầu giầu có để moi của, làm người đã đọc hay xem phim "Un barrage contre le Pacific" liên tưởng đến cũng một bà mẹ, cay đắng vì thất bại, cũng đã từng thúc đẩy con gái quyến rũ một người đàn ông giầu có để moi của. Cuộc tình đầy đam mê, sôi nổi và không dẫn tới đâu này giữa Marguerite và người thanh niên Tầu là nền tảng của cuốn tiểu thuyết L’Amant (The Lover), xuất bản năm 1984, đã đem về cho Duras giải Goncourt, được dịch ra hơn 40 ngôn ngữ, được quay thành phim năm 1992, do Jean-Jaques Anneaud đạo diễn với nhiều cảnh quay ngay tại Sadec, và đã được đón tiếp nồng nhiệt.

Người mẹ trong cả hai cuốn tiểu thuyết "Un barrage contre le Pacific" và "L’Amant" đã được Duras mô tả như một người nhiều bất mãn, cay đắng, chua chát trước số phận không may của mình -- một người đàn bà da trắng, có học song đời sống vật chất còn thua xa cả nhiều người dân thuộc địa --, song cũng là một người đầy nghị lực, ngoan cố, không chịu khuất phục trước nghịch cảnh, kể cả thiên tai. Trong "Un barrage", bà không những chỉ xây bức tường để ngăn nước biển tràn vào ruộng một lần, mà nhiều lần, tới khi kiệt quệ tiền bạc. Cũng chính cá tính ấy, đặc biệt là sự bất khuất và thái độ thách thức, đã ảnh hưởng sâu xa tới con người và đời sống của Duras sau này.

Điển hình hơn cả là vào đầu thập niên 1980, khi bà đã xấp xỉ 70 tuổi, gan thận đã nát bấy vì bệnh nghiện rượu, trong khi mọi người nghĩ bà đã hết, thì bà trỗi dậy, như người gần chết sống lại, cho ra đời cuốn tiểu thuyểt "L’Amant", một thứ tiểu thuyết hồi ký về tuổi mới lớn của bà ở vùng đồng bằng song Cửu Long, được giải Goncourt, trở thành best-seller và đã được dịch ra trên 40 thứ tiếng với số bán cả triệu ấn bản.

Chưa hết, khi cuốn truyện được dựng thành phim vào năm 1992 và cũng thành công không kém, nhưng Duras không hài lòng với cuốn phim. Bà bèn ngồi xuống, ở tuổi gần 80, viết một cuốn truyện khác để "nói lại cho rõ", kể cả việc dùng những trích đọan của cuốn "L’Amant" trong cuốn sau này. Đúng ra thì bà không tự tay viết, mà là đọc cho người bạn đường Yann Andréa, trẻ hơn bà tới cả 40 tuổi, ghi và đánh máy lại vì bà bị hư cánh tay mặt, tại Ancien Hotel des Roches Noires ở Trouville, nơi tôi đã có dịp ghé qua chụp hình. Cuốn tiểu thuyết mang tựa đề "L’Amant de la Chine du Nord" ("The North China Love") cũng đã được đón nhận nồng nhiệt, mặc dù những bình phẩm bất lợi, cho là bà đã lợi dụng sự thành công của cuốn phim. Đến cả chủ bút Jérôme Lindon của nhà xuất bản Minuit, là nhà xuất bản đã in cuốn "L’Amant", cho rằng bà đã sai lầm khi viết một ấn bản khác của cùng một câu chuyện.

Duras không quan tâm tới những bình phẩm. Bà là một mẫu người cực đoan, tự tin tới độ ngoan cố, nhiều định kiến, bất chấp dư luận và nguyên tắc, kể cả những nguyên tắc của một nghề nghiệp, song hùng biện và quyến rũ. Bà thích nghe người ta tán thưởng bà, theo nhà phê bình Edmund White (1940-), người đã từng tiếp xúc với bà ở Paris. Edmund đã mô tả bà như "một người tự kỷ ám thị và thường xuyên nói về mình", rằng bà "yêu bà, trích dẫn chính mình, bà hồ hởi, như một đứa trẻ, đọc những gì bà viết và xem những phim cũ của bà, những cuốn phim mà bà cho tất cả đều tuyệt vời." (*)

Như thể cô bé Marguerite ương ngạnh, phục sức lố lăng, bất cần đời trên những chuyến phà ở vùng đồng bằng sông Cửu Long dạo nào vẫn không chịu lớn, mặc dù cái thân xác chứa đựng cô đang héo úa, tàn tạ. Có lẽ vì thế mà bà đã không ngần ngại bước sang những lãnh vực khác, như viết kịch, truyện phim và đạo diễn điện ảnh, với cùng một niềm tự tin như với văn chương, và gặt hái phần nào thành công. Bà cũng đã thử nghiệm với vài thể văn chương mới, như trong "L’Amant", với lối viết rất đơn giản, như loại tranh thủy mạc đơn sơ, ít chi tiết, hoặc như một sơ lược chi tiết của một truyện phim (scenario), khác hẳn với thể loại truyền thống của "Un barrage contre le Pacific". Cũng có một dạo bà nhúng tay vào tường thuật báo chí, nhưng vì đầy định kiến, bị nhiều người không tán thành. 

Rồi ở tuổi 66, Duras gặp Yann Andréa Steiner, lúc ấy là một thanh niên mới chớm 20, thuộc giới đồng tính luyến ái và là người mến mộ bà (fan), và nhận anh ta làm người bạn đường suốt quãng đời còn lại. Cũng chính nhờ Andréa, đặc biệt là tình yêu và sự tận tụy của anh ta, mà mặc dù đã bị liệt cánh tay mặt và đi lại khó khăn, Duras vẫn sáng tác bằng cách đọc cho Andréa chép rồi đánh máy lại. Đã hẳn Andréa, vì lòng mến mộ văn chương bà, có lẽ đã khích lệ bà rất nhiều. Chính Duras nhìn nhận cuốn "M.D." (1983) Andréa viết về bà đã gợi hứng cho bà viết "L’Amant".

Cuộc hành trình 16 năm của Andréa với Duras đã được đạo diễn Josée Dayan dựng lại trong phim "Cet amour-là" (2001), nói tiếng Pháp với phụ đề Anh ngữ, với Andréa đóng góp phần đối thoại. Phim do nữ tài tử Jeanne Moreau thủ vai Marguerite Duras và Aymeric Demarigny, một diễn viên mới vào nghề, đóng vai Andréa. Sự "hợp tác văn chương" khá đặc biệt này đã được James S. Williams khai thác trong bài "A Beast of a Closet: The Sexual Differences of Literary Collaboration in the Work of Marguerite Duras and Yann Andréa". (**)

Dù Duras lập đi lập lại cùng một câu chuyện, với bấy nhiêu nhân vật -- người mẹ cay đắng nhưng bất khuất/ngoan cố, người anh trai vô dụng, người tình đầu đời khác chủng tộc lúc xấu xí (khi người mẹ bắt con gái quyến rũ để moi của), khi đẹp trai, sang trọng và ngoài tầm tay với (khi Duras về già nhìn lại mối tình đầu) -- qua hết cuốn này này tới cuốn khác, kể cả hồi ký, tùy bút, độc giả hình như vẫn chưa thấy đủ. Họ vẫn yêu và tìm đọc bà, vì họ đã "phải lòng" bà, như tựa bài biên khảo rất sâu sắc về con người và sự nghiệp của Marguerite Duras của Edmund White, "In Love with Duras". (*)

Trước sau, Duras đã để lại cho nền văn học Pháp và những nguời yêu mến bà, dù có thể chỉ qua vài tác phẩm quan trọng của bà, một sư nghiệp đồ sộ: Trên 40 tác phẩm vừa tiểu thuyết vừa kịch bản, truyện phim, hồi ký, và khoảng 20 cuốn phim ngắn và dài do chính bà đạo diễn. (***) 

Tên tuổi và sự nghiệp đồ sộ như vậy, khi chết, được chôn ở Nghĩa Trang Montparnass, Quận 14, Paris, mộ bia của Duras chỉ khắc vỏn vẹn hai chữ "M.D."

Ghi chú:

(*) Edmund White, "In Love with Duras", The New York Review, June 26, 2008, http://www.nybooks.com/articles/21556.

(**) James S. Williams, "A Beast of a Closet: The Sexual Differences of Literary Collaboration in the Work of Marguerite Duras and Yann Andréa", Vol. 87, No. 3 (Jul., 1992), pp. 576-584, (article consists of 9 pages), The Modern Language Review, published by: Modern Humanities Research Association, http://www.jstor.org/stable/3732921

(***) Thư mục của Marguerite Duras, http://en.wikipedia.org/wiki/Marguerite_Duras.

Hình ảnh và chú thích:

blank

Hình cực trái, cô thiểu nữ Marguerite Donnadieu, chụp tại Đông Dương. Hình giữa, với mẹ, Marie Donnieu, tại Pháp, 1932. Hình cực phải, không rõ năm. (Ảnh Internet)

blank

 

Hình cực trái, Ancien Hôtel des Roches Noires mặt hướng ra biển Đại Tây Duưong, được xây cất vào năm 1866, nay là di sản văn hóa quốc gia Pháp. Toà nhà từ năm 1959 không còn là khách sạn nữa mà được bán cho dân, như condominium, để ở. Marguerite Duras đã mua một căn vào năm 1963 và cư ngụ tại đây tới khi bà mất vào năm 1996. Hình giữa là phòng làm việc của Duras. Hình phải, ngôi mộ của Marguerite Duras, với chữ "M.D." đơn giản, tại Nghĩa trang Montparnasse, Quận 14, Paris. (Ảnh Internet)

blank

Hinh bên trái, một góc của toà nhà Ancien Hôtel des Roches Noires, 89 rue de General-Leclerc, Trouville-sur-Mer. Được xây cất vào năm 1886, tòa nhà này nay là một di sản văn hóa quốc gia Pháp. Marguerite Duras đã lui tới nơi đây thường xuyên để sáng tác, từ năm 1963 tới khi bà mất vào năm 1996, và đã dùng nơi đây làm bối cảnh cho ba cuốn phim của bà. Phía tay mặt trong hình là một tấm bảng dựng bên cạnh cầu thang dẫn xuống bãi biển, trên đề "Escalier Marguerite Duras 1914-1996". Hình bên phải, tấm biển bằng đá gắn trên một cái cột bên cổng ra vào, trên có hàng chữ, "Khách sạn cổ kính Roches Noires / Marguerite Duras đã cư ngụ ở đây trong nhiều thời kỳ dài giữa 1963 và 1996 / ‘Thấy biển là thấy tất cả’." (Ảnh Trùng Dương, 06/2009)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
27 Tháng Tám 201412:00 SA(Xem: 19004)
Gia đình chúng tôi có mười bốn anh chị em, gồm năm anh em trai và chín chị em gái. Anh Mai Thảo là người thứ năm trong gia đình. Hai người chị và một người em gái mất sớm. Tới năm 1975, chúng tôi còn lại là mười một người. Tính theo anh em trai, anh là con trai thứ ba. Anh cả tôi là Nguyễn Đăng Thiện, anh kế là Nguyễn Đăng Viên rồi đến chị Tuyết là người chị gái đã mất vì bệnh thương hàn năm chị hai mươi tuổi. Tiếp đến là anh Mai Thảo...
07 Tháng Tám 201412:00 SA(Xem: 19259)
Tháng 6, khi những cơn gió Lào khô rốc từ Vịnh Bengan thổi vào dãy Trường Sơn đem hơi nóng ngùn ngụt lửa phả vào mặt, đó là lúc các tin buồn tới tấp bay về bên tôi. Từng người, từng người bạn thay nhau giã từ cuộc chơi. Cái nóng hực lửa bên ngoài, và cái nóng trong lòng tôi ngày một dâng cao. ..Mới tuần trước thôi, anh Nguyễn Xuân Hoàng vẫn còn email trả lời, anh nói bài viết này anh thích quá cho anh post trên Voa đi, tôi còn đùa anh mệt như vậy mà vẫn còn làm việc sao, tùy anh thôi...
17 Tháng Bảy 201412:00 SA(Xem: 17438)
Nghe nhiều người khen cuốn Ba người khác của nhà văn Tô Hoài, tôi cố tìm đọc. Đọc xong thì hoang mang… Nói cho ngay, đấy là cuốn sách viết khéo với nhiều cảnh đời sống động và được “lên hương” bằng yếu tố gợi dục đậm đà. Quả là cái khéo của bà hàng xén chợ phiên biết bày bán bắt mắt những món hàng xanh xanh đỏ đỏ …
18 Tháng Sáu 201412:00 SA(Xem: 19462)
Mấy dòng viết vội và muộn màng này chỉ là những hồi tưởng đứt đoạn để gửi tới một người bạn là Nguyễn-Xuân Hoàng...Nguyễn- Xuân Hoàng lại được biết tới nhiều hơn như một nhà văn một nhà báo tên tuổi từ những năm 1970.Hoàng là tổng thư ký tạp chí Văn Sài Gòn từ 1972, tiếp nối Trần Phong Giao, cùng với những tác phẩm đã xuất bản gồm tuyển tập truyện ngắn: Mù Sương, Sinh Nhật; tuỳ bút: Bất Cứ Lúc Nào Bất Cứ Ở Đâu; tạp ghi: Ý Nghĩ Trên Cỏ; và hai truyện dài: Khu Rừng Hực Lửa, Kẻ Tà Đạo…
05 Tháng Sáu 201412:00 SA(Xem: 21704)
T uần rồi, nhân kỷ niệm 70 năm ngày 6 tháng 6 năm 1944 khi quân Đồng Minh đổ bộ chiếm bờ biển Normandy để từ đó tiến vào giải phóng Âu Châu đang bị Đức Quốc Xã chiếm đóng, hệ thống truyền hình PBS chiếu một loạt phim tài liệu liên hệ, trong số đó tôi có dịp xem hai phim, đó là “D-Day 360” do Windfall Films của Anh Quốc sản xuất dưới quyền đạo diễn của Ian Duncan; và phim “D-Day’s Sunken Secrets” do NOVA thuộc PBS thực hiện.
30 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 19023)
LTS: N guyệt Quỳnh với bài viết “ Nhìn Vượt Qua Một Ước Mơ Tan Vỡ” vào những ngày 30 tháng 4 năm nay, bằng những giấc mơ tan vỡ đó không riêng của Nguyệt Quỳnh và cũng không có gì ngạc nhiên và mới mẻ, nhưng đó chính là nỗi đau chung của nhiều người, của thân phận con người Việt nam. Chúng tôi hân hạnh giới thiệu bài viết của Nguyệt Quỳnh cùng bạn đọc của Hợp Lưu khắp nơi.
30 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 18316)
LTS: Chúng tôi nhận được bài viết của Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân vào những ngày tưởng niệm 30 tháng 4 vào năm thứ 39 . Ông Nguyễn Quốc Quân cho biết đây là bài viết đầu tiên của ông về ngày 30/4 từ hơn 30 năm vượt biển và bài này cũng để ghi lại cảm xúc sâu đậm của ông khi đón nhận nhận sự ra đi của thầy giáo Đinh Đăng Định. Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu bài “30 tháng 4 tôi nhìn lại mình” cùng độc giả Hợp Lưu .
17 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 20129)
LTS: Một năm rưỡi trước khi từ trần, tướng Trần Độ đã hoàn thành một tập nhật ký mà ông đặt tên là Nhật Ký Rồng Rắn: bắt đầu từ cuối năm 2000, viết xong tháng 5 năm 2001. Nhật ký Rồng Rắn là một bút ký chính trị trong đó, với tất cả tâm huyết, tác giả trình bày suy nghĩ của mình về các vấn đề chính trị của đất nước. Tháng 6.2001, Trần Độ vào Sàigòn thăm con và nhờ người đánh máy bản thảo. Ngày 10.6, ông đi lấy bản thảo, bản vi tính và sao chụp thành 15 bản. Trên đường về nhà, ông bị tịch thu toàn bộ các bản thảo và bản in chụp, xem là "tang chứng" của tội "viết và lưu hành tài liệu xấu". Cho đến ngày từ trần 9.8.2002, tướng Trần Độ không được trả lại nhật ký của mình. Trích đoạn dưới đây là một phần của nhật ký này. {theo tạp chí Diễn Đàn}.
17 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 18844)
Đ ại văn hào Gabriel Garcia Márquez, tác giả cuốn tiểu thuyết danh tiếng “One Hundred Years of Solitude” và là người đã đoạt giải Văn Chương Nobel năm 1982, đã qua đời ngày 17 tháng 4 vừa qua, hưởng thọ 87 tuổi.
17 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 17238)
Đ ặng Mỹ Hạnh là một nữ nhiếp ảnh gia của những “Xứ sở rừng mưa” như tựa một bút ký của cô. Nếu nhiếp ảnh là đam mê chính, văn chương là đam mê thứ nhì mà cô tự định nghĩa: "Tiếp cận với nghệ thuật bằng ngữ ảnh của cảm xúc và viết ra cõi lặng bên trong như một nhu cầu thở." Một cõi lặng đôi khi ngấm ngầm dữ dội, như tùy bút "Những cơn man dại của trái phá".