- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

NGƯỜI CỦA “TRĂM NĂM CÔ ĐƠN”

Saturday, February 20, 20213:06 PM(View: 38419)

tncd 4

 

Nếu con gái và con rể chúng tôi không chuyển đến đó làm việc thì chắc chúng tôi không bao giờ nghĩ đi đến nơi đó.

Khi chúng tôi báo cho bạn bè biết là chúng tôi sẽ đi thăm gia đình con gái ở Colombia thì có nhiều người lo ngại vì xứ đó là một nơi hỗn loạn, chiến tranh ma túy,  giết người như nghóe, nhưng cũng có người gây hứng thú cho chúng tôi, vì đó là nơi mà là một nhà văn được giải Nobel với tác phẩm “Trăm Năm Cô Đơn”, cái tên truyện khá hấp dẫn được cả thế giới biết đến của nhà văn Grabiel Garcia Marquez.  

Trong thời gian nhiệm kỳ ba năm của con rể tôi, chúng tôi đã đến thủ đô Bogota, của Colombia  hai lần. Lần nào cũng ở đó đến mấy tuần, tạm đủ để đi thăm nhiều nơi trong thành phố và một vài vùng lân cận. Bogota nằm trên cao độ 8660ft so với mặt biển, nên khí hậu lúc nào cũng êm dịu. Là một trong những thành phố lớn nhất của Châu Mỹ La tinh, dân số hiện nay ước chừng 8 triệu người, từng được mệnh danh là “The Athen of South America”.

Dân số Colombia trên 50 triệu người. Diện tích khoảng 440.000 square miles, (So với Việt Nam dân số trên 97 triệu và diện tích chỉ là 127,882 square miles). Hầu hết theo đạo Thiên Chúa. Tỷ số đô thị hóa khá cao 80% , còn lại 20% sống tại nông thôn. Lợi tức cá nhân rất xa cách. Thành phố mở rộng ra ngoài ven đô với nhiều cao ốc, trong khi đó, nhiều nơi đồng ruộng chúng tôi đi qua bỏ hoang, xác xơ. Xứ này, sản xuất dứa, thơm đứng hàng thứ 10 thế giới, avocado hàng thứ 5, về hoa xuất cảng sang Mỹ khá nhiều thường thấy trong các siêu thị lớn. 

 

tncd 1

 

Trong thập niên 1990, Columbia từng bị liệt là một thành phố có nhiều tội phạm nhất thế giới, với tỉ lệ là 81 người bị giết trên 100,000 người. Nhờ chính sách “Communidad Segura” (safe community) thành công, tỉ lệ này ngày càng hạ xuống thấp chỉ còn là 25 trong năm 2018. Tại Mỹ, đứng đầu là Delaware 11.7, Louisana 11.4. trong khi đó California 4.4. Trên thế giới đứng đầu là Lesotho 41.25, Hondura 38.93, South Africa 36.40.  Tuy nhiên, đối với nhiều người bên ngoài, nỗi ám ảnh về hình ành cũ của Colombia vẫn chưa tan hẳn. Ma túy vẫn là nỗi bất an, đồng thời cũng là nguồn thu nhập của xứ này.

Đối với chúng tôi trong những ngày ở đó, Bogota là một thành phố an bình, mọi người ngoài phố ăn mặc lịch sự, chỉnh đốn. Phố xá không có rác. Trong một chuyến xe bus ở phi trường, vừa thấy chúng tôi lên, hai người đã đứng dậy nhường ghế. Chỉ phiền một nỗi là rất ít người nói tiếng Anh.  Giao thông cũng có giờ kẹt xe, nhưng không đến nỗi gây tắc nghẽn. Họ giải quyết bằng cách chia xe số chẵn số lẻ, cách một ngày mới được phép chạy trong thành phố.  Họ đã giảm được nửa số lượng xe lưu thông trong một ngày cho thành phố. Một số người có khả năng đã mua hai xe giữ hai số chẵn lẻ. Xe cộ không bóp còi inh ỏi, phương tiện di chuyển hầu hết bằng xe hơi. Vỉa hè nhiều chỗ của họ rất rộng, nhiều khu hai bên bằng 4 lằn xe, thế mà chỉ có hai ba lằn xe mỗi chiều dành cho xe hơi, nhưng không thấy có một xe gắn máy nào chạy trên lề đường. Phương tiện công cộng xe bus và xe van của tư nhân chỉ vài phút là có một chuyến. Không thấy hàng quán chiếm lề đường. Ngoài xa lộ, nhiều nơi khoảng giữa chia hai chiều nhiều nơi rộng như một công viên trải dài, cây cối xanh tươi được chăm sóc cẩn thận. Chúng tôi nói với nhau sao họ không thu hẹp vỉa hè và khoảng cách giữa hai chiều để nới rộng thêm lằn cho xe hơi thì giao thông sẽ thoải mái hơn nhiều. Chắc hẳn họ đã nghĩ hi sinh cái này để giữ cái kia, cho người đi bộ được an toàn và thành phố thêm được nhiều cây xanh. Tại những địa điểm du lịch, cũng có nhiều người bán hàng rong đến mời chào, nếu không muốn mua chỉ cần nói một tiếng cám ơn gracias là họ đi ngay, không đeo lằng nhằng, co quéo. Có một số nhỏ tiệm fast food như McDonald, Starsbuck mới len vào mở một vài tiệm đầu tiên, nhưng phải dùng cà phê bản xứ. Tiệm ăn Á châu rất ít. Các tiệm ăn của họ phần đông trang trí trang nhã, và tiếp đãi lịch sự đúng tiêu chuần mà giá chỉ bằng một ba so với ở Mỹ.  Tại các siêu thị thực phẩm nhập cảng cũng khó tìm thấy và rất đắt.

Chúng tôi cũng đã đến Buenos Aires, Argentina theo con gái tôi trong thời gian ba năm ở đó, nay là Colombia, có cảm tưởng rõ rệt là Nam Mỹ La tinh vẫn giữ gần như nguyên bản sắc của họ và rất ít chịu ảnh hưởng của thế giới bên ngoài về mọi mặt, ngay cả với Hoa Kỳ. 

Cà phê Colombia nổi tiếng thế giới, Chúng tôi có thăm đồn điền “Café Plantation Hacienda Coloma” cách Bogota hai giờ lái xe.  Đường đồi núi quanh co như cao nguyên Việt Nam. Trên đường đi, có các quán bán thịt nướng không phải thịt rừng. Tại đồn điền này, ngay khu mới vào, họ trồng rất nhiều lan treo dính vào các cây cổ thụ, bên canh đó là những nhà cổ tích như trong truyện Bạch Tuyết và Bẩy Chú Lùn. Chúng tôi được dẫn đi và chỉ dẫn qua mọi giai đoạn từ khi ươm hạt trồng cây cho dến giai đoạn chót xay thành bột cà phê, và cuối cùng cầm ly nếm hương vị cà phê mới xay tưởng như mình đang lạc vào một thiên đường cà phê.

 

Cà phê Colombia là một lọai cà phê nổi tiếng thế giới, thuộc loại Arabia có hương vị đặc biệt và được nhiều người ưa thích, khác với cà phê Việt Nam là Robusta vị đắng hơn. Arabia cần một khí hậu thích hợp, ít mưa hơn và giá cao gấp đôi Robusta. Ngẫu nhiên có một mẫu cà phê Việt Nam ở đó, tôi hỏi thì được biết, cà phê này được nhập cảng để chế biến cho dân chúng dùng, còn cà phê Colombia để xuất cảng. Tự nhiên, tôi thấy thương cho Việt Nam chỉ cố chạy theo số lượng mà quên mất phẩm chất như gạo, cà phê, tiêu, nước mắm… đã không những đánh mất thương hiệu và còn mất giá thảm thương.

 

Chúng tôi đã đi thăm một thi trấn cổ “Villa de Leyva”, ba giờ lái xe, được tìm thấy năm 1572. Những đường phố ở đó trải đá tảng cobblestone,  người và xe đã đi qua  mấy trăm năm nên mặt đá nhẵn thín. Có một nhà thờ cổ và một quảng  trường lớn.

Đi thăm trung tâm thủ đô Bogota, trong khu phố cổ của thành phố Bogota, ở đó có một quảng trường cổ rộng hơn St. Mark square ở Venice, cũng có hàng ngàn chim bồ câu, và có những con thú nhỏ giống như lạc đà.

Trong khu này có Trung tâm Văn Hoá Marquez và hai bảo tàng. Bảo tàng vàng là nơi hấp dẫn hàng đầu của du khách, trưng bầy 55.000 hiên vật được chế tác từ vàng, nổi tiếng nhất là tác phẩm kiệt tác “Muisca Boat”, chiếc bè bằng vàng bên trên là là những người Muisca đang làm lễ tế thần.

Bảo tàng của Fernando Botero, họa sĩ này đặc biệt nổi danh thế giới về những họa phẩm cùng điêu khắc vẽ những người đàn bà, đàn ông mập căng tròn.

 

 tncd 2

tncd 3

                                                              

Trung tâm văn hóa Garcia Marquez gần đó gồm một tiệm sách lớn, trưng bầy tại quầy chính các ấn phẩm tái bản mới nhất của Marquez. Bên ngoài sân trước là những cột xây kỷ niệm về Marquez và một tiệm cà phê. Nhớ nhất là có mấy người nhạc sĩ vỉa hè, mặc đồ bộ đuôi tôm đen, đội mũ cao như kiểu Ăng Lê, đứng nghiêm chỉnh chơi các đàn dây như đại hồ cầm, lục huyền cầm…Chúng tôi đứng lại nghe một nhạc sĩ chơi vĩ cầm, anh ta chơi khá điêu luyện, tôi cố nói chuyện và yêu cầu anh cho nghe thêm mấy bản nhạc quốc tế quen thuộc nữa như Come Back to Sorrento, La Paloma… Tôi tặng anh mấy đô la và từ giã bắt chặt tay anh…    

                                                                      *

Chúng tôi lấy chuyến bay từ Bogota, khoảng 45 phút để đến thành phố ven biển Cartagena, nơi mà Marquez, để lại nhiều ghi dấu của cuộc đời và sự nghiệp văn chương trên quê hương của ông. Marquez đoạt giải thưởng Nobel về văn chương năm 1982, vừa qua đời năm nay 2014 tại Mexico, nơi ông đã di trú 30 năm trong đoạn cuối cuộc đời.

 

 

 tncd 5 

Cartagena xưa là thuộc địa của Tây Ban Nha, thành lập năm 1503, nằm trên bờ biển Carabian, được Unessco công nhận là di sản thế giới. Đặc biêt có những đồn lũy cổ, xưa kia để chống lại tầu cướp biển. Hiện nay là một thành phố du lịch, với gần một triệu dân. Bãi biển khá rộng và dài đến chục miles

 

Chúng tôi đến thăm ngôi nhà của Marquez, nhưng đến muộn họ đã đóng cửa. Đến thăm quán Càfé Havana, mà Marquez đến hàng ngày trong lúc còn sống, nay cũng đóng cửa để tân trang. Sau đó, chúng tôi được giới thiệu đến một quán ăn mà Marquez thường đến, vì chủ quán là bạn. Quán này được báo ở New York cho vào mục food critic, là quán ăn nổi tiếng của Colombia.

 

Grabriel Garcia Marquez sinh năm 1927 tại Aracataca, một ngôi làng hẻo lánh ở miền Bắc Colombia. Marquez là con cả trong một gia đình có tới 12 anh em. Cha mẹ ông sớm rời đi nơi khác kiếm sống và Marquez chủ yếu được ông bà nuôi dưỡng. Làng Aracatata, cũng như bà ngoại ông với cá tính mạnh và một chút gì huyền bí, với hình dáng hơi giống một bà phù thủy, chính là nguồn cảm hứng để Marquez sau này tạo ra bối cảnh cho tiểu thuyết nổi tiếng nhất của ông : “Trăm Năm Cô Đơn”, mà bà ngoại ông là hình bóng cho nhân vật nữ chính trong gia đình Buendia trong truyện.

Marquez nguyên là một sinh viên Luật khoa tại Bogota. Trường đóng cửa, về Cartagena làm báo, và là một nhà báo tranh đấu, viết truyện ngắn, truyện phim và truyện dài. Ông quen biết Hemmingway, chịu ảnh hưởng của Faulkner, Kaffa. Và viết theo cách ‘’Hiện Thực Huyền ảo’’, (Magic Reality).

Những tác phẩm được nhắc nhiều đến là:

-          Ngài Đại Tá Chờ Thư,  (El coronel no tiene quien le escriba, 1959)

-          Trăm Năm Cô Đơn, (Cien años de soledad, 1967)

-          Mùa Thu Của Trưởng Lão, (El otoño del patriarca, 1975)

-          Mối Tình Trong Thời Dịch Tả, (El amor en los tiempos del colera,1985)  

 

“Trăm năm cô đơn” viết bằng tiếng Tây Ban Nha, được nhà xuất bản Sudamericana cho in lần đầu vào năm 1967 tại Buenos Aires (Argentina). Đến năm 1970, truyện  được tái bản hơn nửa triệu bản, chưa kể hai lần in ở Cuba là một trăm nghìn bản. Cho đến nay, tác phẩm nổi tiếng của ông đã chuyển dịch qua hơn 35 ngôn ngữ trên thế giới trong đó có Việt Nam với 50 triệu cuốn. “Trăm Năm Cô Đơn” được tặng giải Chianchiano của Ý, được Pháp công nhận là cuốn sách hay nhất trong năm và được giới phê bình văn học Mỹ đánh giá là một trong 12 cuốn sách hay nhất trong thập niên 1960. Đây là một kiệt tác của Marquez, đã mang đến cho tác giả vinh dự đoạt giải Nobel Văn học vào năm 1982. 

Bản dịch tiếng Việt của dịch giả Nguyễn Trung Đức, với sự cộng tác của Phạm Đình Lợi và Nguyễn Quốc Dũng, ở miền Bắc, họ dịch thẳng từ nguyên bản tiếng Tây Ban Nha, cố giữ nguyên bản nên đọc hơi khúc mắc. Họ đã dịch thêm nhiều tác phẩm khác bằng tiếng Tây Ban Nha và  đã có công đưa văn học La Tinh cho các độc gỉả Việt Nam. Tuy vậy, Nguyễn Trung Đức trong khi dịch chỉ giới thiệu các tác phẩm văn chương nổi tiếng thế giới của Marquez, mà không đề cập đến Marquez là người mê chủ nghĩa Cộng Sản có hạng, nên bị chính quyền có ác cảm nặng với dịch giả.  

 

Trong khi đó ở miền Nam, nhà văn Trùng Dương trong một bài được đăng trên Diễn Đàn Thế Kỷ  có viết, nhà văn  Hoàng Hải Thủy đã dịch xong cuốn này, lấy tên là “Trăm năm Quạnh Hiu”. Đem đưa kiểm duyệt, đã không được phép in vì cho là Marquez theo Cộng Sản. Tôi rất thích đọc văn dịch phóng tác của Hoàng Hải Thủy, như cuốn “Jane Eyre” qua bản dịch “Kiều Giang”, vừa văn chương, vừa lãng mạn lại dễ đọc. Không hiểu bản dịch này nay ở đâu?   

 

 tncd 6

   

 

           “Trăm Năm Cô Đơn” đã có những đặc điểm về văn chương và thông điệp gì cho mọi người, dịch giả Trương Duy Đức viết:

-          Trăm năm cô đơn là câu chuyện về dòng họ Buênđya tồn tại bảy thế hệ, có tới 60 nhân vật. Người đầu tiên bị trói vào gốc cây và người cuối cùng bị kiến ăn. Một dòng họ tự lưu đày vào cõi cô đơn để chạy trốn tội loạn luân.

-          Điều gì khiến "Trăm năm cô đơn" - một tiểu thuyết theo chủ nghĩa "Hiện thực huyền ảo", dày tới hơn 600 trang, chỉ kể về câu chuyện loạn luân của một dòng họ ở một ngôi làng "huyền thoại", dành được giải Nobel phải chăng tác phẩm đã đạt tới hai mục tiêu cơ bản của giải thưởng. Đó là bút pháp độc đáo, mới mẻ và ý nghĩa nhân văn của thông điệp tác phẩm gửi tới người đọc.

-          "Trăm năm cô đơn" được đánh giá là sản phẩm tuyệt vời của hư cấu nghệ thuật. Với bút pháp "Hiện thực huyền ảo", Márquez đã dựng nên một ngôi làng có tên gọi Macondo. Đó là ngôi làng không một người dân nào sống quá ba mươi tuổi và chưa có nghĩa địa, đã từng xảy ra những chuyện hoang đường như cơn mưa hoa trong một đám tang, những con người được hoài thai bởi bướm và bọ cạp, những người có đuôi, có người bay lên trời không trở lại... Ở ngôi làng đó, những người con trai và con gái cùng huyết thống đã yêu nhau, lấy nhau, sinh ra những đứa con dị tật có đuôi như lợn hoặc như khỉ!

-          Nỗi ám ảnh về tội loạn luân đã đẩy những con người nơi đây chìm sâu vào nỗi cô đơn. Họ cô đơn trong ngôi nhà của mình. Cô đơn giữa những người thân thuộc. Cô đơn trên chiếc giường của mình, trong giấc mơ của mình... Cuối cùng, sau một trăm năm sống trong cô đơn, làng Macondo bị một cơn cuồng phong cuốn mất khỏi thế giới. Rõ ràng là, về phương diện xã hội, Márquez muốn viện dẫn một vấn đề có tính quy luật. Đó là, nếu anh đơn lẻ trong cuộc đấu tranh đối đầu với thiên nhiên và con người, anh sẽ thất bại. Nếu anh khép mình, đóng kín, quay lưng lại với thế giới, đi ngược lại những quy luật vốn có, anh sẽ bị hủy diệt. Tương tự như thế, đất nước Colombia cùng với lục địa Mỹ La Tinh nếu đóng cửa, tuyệt giao với thế giới bên ngoài, sẽ vĩnh viễn bị giam cầm trong lạc hậu, đói nghèo.

-          Còn về thông điệp, Márquez muốn nhắn nhủ một điều giản dị, nhưng sâu đậm tính nhân văn: Mọi người hãy sống đúng bản chất người, hòa hợp với các mối quan hệ xã hội của mình, hãy vượt qua mọi định kiến, thành kiến cá nhân, hãy lấp bằng mọi hố ngăn cách cá nhân để cá nhân tự hòa đồng với gia đình, xã hội.

 

Gabriel Garcia Márquez khởi sự nghiệp sáng tác rất sớm, khi đang là sinh viên. Bắt đầu là những bài viết gửi đăng trên tờ El Espectador. Tiếp đến là hơn một chục truyện ngắn. Năm thứ hai ở đại học, Márquez quyết định bỏ học để theo nghề báo và viết văn. Nhờ nghề báo, Márquez được gửi đến Thụy Sĩ, Pháp, Anh, Venezuela, Cuba, Nga, Mỹ... để viết nên những thiên phóng sự nổi tiếng và một số tiểu thuyết khi tuổi đời còn rất trẻ. Sau mấy chục năm có mặt ở tất cả những "điểm nóng" trên thế giới, năm 1961. Márquez đã viết gần hai chục cuốn tiểu thuyết, một trăm truyện ngắn và một số kịch bản phim truyện. Song ông vẫn cho rằng, cuốn sách cuộc đời ông là cuốn sách về "cái cô đơn", đã miêu tả, mổ xẻ, huyền ảo hóa "cái cô đơn" để gửi gắm một thông điệp cho cuộc sống.

Márquez trở về quê hương, sử dụng tất cả vốn liếng tích cóp trong gần hai chục năm để viết cuốn sách để đời, cuốn "Trăm Năm Cô Đơn". Netflix đang dựng tác phẩm này thành bộ phim nhiều kỳ trên màn ảnh nhỏ.

"Trăm năm cô đơn" được Márquez chính thức viết năm 1965, đến năm 1967 thì hoàn thành và đưa đi xuất bản. Nhưng theo như lời ông nói, "Trăm năm cô đơn" đã được ông "hoài thai" từ gần hai mươi năm trước. Đó là quãng thời gian ông làm nghề báo và viết các tiểu thuyết đầu tay, như: "Ngôi nhà", "Bão lá", "Một trong những ngày này", " Ngài đại tá chờ thư", "Đôi mắt chó xanh", "Đám tang bà mẹ vĩ đại"... Ông cho rằng, việc viết các tiểu thuyết trên là bản thảo lần đầu cho "Trăm năm cô đơn".

Sau khi đoạt giải Nobel Văn học, năm 1985, Márquez tiếp tục chứng tỏ khả năng bứt phá bằng "Tình Yêu Thời Thổ Tả", cuốn tiểu thuyết được ông xây dựng trên nguyên mẫu mối tình của cha mẹ mình. Truyện này đã được dựng thành phim. Đó là một mối tình bền vững, dẫu người cha có con ngoài giá thú! Tác phẩm được đánh giá là "một trong những cuốn tiểu thuyết hay nhất về tình yêu mà con người có thể viết nên". 

Không chỉ là một người có tài kể chuyện xuất chúng, Marquez chinh phục độc giả nhờ lối viết hiện thực, lồng trong bối cảnh lịch sử, chính trị, của đất nước, của châu Mỹ La Tinh, của thời cuộc. Đồng thời những tác phẩm của ông có thể đọc như một bài ngụ ngôn, trong đó cái « thực » luôn kèm cả với những truyền thuyết dân gian, những mê tín dị đoạn, với những lời nguyền, cộng thêm với một chút gì huyền bí. Marquez được tôn vinh và làm mê hoặc cả thế giới do ông là một trong những nhà cầm bút hiếm hoi thành công trong việc đưa lịch sử, văn hóa, đời sống không chỉ của một dân tộc mà là của cả châu Mỹ La Tinh đến với độc giả. 

Nhưng bên cạnh sự nghiệp văn chương đồ sộ, Marquez còn là một nhà báo. Chính tác giả của « Ký Sự Về Một Cái Chết Được Báo Trước » từng nói: “ Làm báo là cái nghề đẹp nhất trần gian”. Từ giữa thập niên 1940 Marquez đã bước vào nghề, cộng tác tờ El Espectador, rồi điều hành tạp chí Venezuela Grafica tại Caracas. Ông được phái đi nhiều nước, nhất là Âu châu

Sau cuộc cách mạng Cuba, Marquez là một người rất hâm mộ Fidel Castro, ông đã hợp tác với hãng thông tấn Prensa Latina tại La Habana. Ông sống một thời gian ở Cuba, được Castro cấp nhà, sau đó, Marquez rời khỏi Cuba về định cư hẳn tại Mễ Tây Cơ, và cũng tại đây ông đã đóng cửa với thế giới bên ngoài trong 18 tháng liền, để hoàn tất tác phẩm để đời « Trăm Năm Cô Đơn ».

Ông sống dưới chế độ độc tài Nam Mỹ, nên ông không chỉ là một nhà báo thiên tả, mà đã đưa ông đến là một nhà báo thiên cộng. Năm 1986, ông viết một bài báo tố cáo chiến hạm hải quân chở ma túy, bị chính quyền truy lùng, may trốn được vào tòa đại sứ Mể Tây. Sau dó ông được tị nạn và qua đời ở đó sau gần 30 năm.

Ông đến thăm nhiều nước cộng sản của Liên sô, là bạn của Fidel Castro, có những bài viết bênh vực Castro và hỗ trợ các hoạt động du kích cộng sản ở Nam Mỹ. Ông bị mê hoặc và tin tưởng vào chủ nghĩa xã hội. Ông có đến thăm VN hai lần, lần đầu trong chiến tranh và lần sau năm 1980. Ông bị chính phủ Mỹ cấm nhập cảnh, mãi đến thời kỳ Clinton mới bãi bỏ. 
                                                                    

Dù Marquez phải sống lưu vong ở Mễ Tây Cơ, 30 năm cuối cuộc đời vì chống độc tài tham nhũng, dù ông bị thuyết Cộng Sản mê hoặc, dù Colombia và cả đại lục Nam Mỹ không nước nào theo Cộng Sản, nhưng khi ông mất năm 2014, ông vẫn là niềm hãnh diện của họ.

Tổng thống Colombia Juan Manuel Santos tuyên bố ba ngày quốc tang. Qua mạng Twitter ông viết : « Sự ra đi của tác giả Trăm Năm Cô Đơn, người con vĩ đại nhất mọi thời đại của Colombia để lại “Một ngàn năm cô đơn và đau buồn cho đất nước “. Marquez được mệnh danh là « cha đẻ của trường phái hiện thực huyền ảo ». Tro cốt của Marquez được mang về Cartagena cất giữ, thành phố nơi ông khởi nghiệp và hoàn thành những tác phẩm trứ danh. Sau này hình của ông còn được in trên tiền giấy lưu hành ở Colombia.

Năm 1991, Liên Sô Cộng Sản tan rã, là một thất vọng nảo nề cho Marquez. Không hiểu sau đó ông có phản tỉnh không khi nhìn lại còn một vài nước còn theo chế độ cộng sản như Cuba, Triều Tiên, Việt Nam, Trung Hoa, độc tài và tham nhũng còn gấp trăm lần so với chế độ mà ông sống thời ông còn ở Colombia.

                                                                        *

Chúng tôi không hiểu còn lần nào để có dịp đến tìm Marquez nữa hay không?

NGUYỄN CÔNG KHANH

Send comment
Your Name
Your email address
Friday, June 26, 20262:03 PM(View: 5413)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
Friday, June 5, 20262:52 PM(View: 7421)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
Saturday, February 28, 20263:32 AM(View: 9104)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
Thursday, February 19, 202611:49 PM(View: 11547)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
Sunday, February 8, 20267:36 PM(View: 10512)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
Saturday, February 7, 202610:48 PM(View: 11513)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
Tuesday, December 30, 20252:15 AM(View: 11549)
Nhờ có Facebook mình và Miên đã gặp lại nhau. Cô bạn thuở xưa của tuổi học trò đầy mơ và mộng. Bây giờ mỗi đứa một mảnh đời riêng, Miên sung sướng bình yên và hạnh phúc bên chồng. Mình gãy cánh uyên ương từ khi còn rất trẻ nhưng cuối cùng mình cũng có được chút hạnh phúc bình yên bên con và cháu của mình. Hai đứa gặp nhau mình tíu tít kể chuyện vui buồn nhắc chuyện ngày xưa.
Monday, December 29, 20252:21 AM(View: 12230)
Tôi là người vượt biển. Một người tỵ nạn của những năm đầu thập niên 80. Đặt chân lên đất Mỹ với hai bàn tay trắng và vài bộ quần áo cũ — cùng một niềm tin mỏng manh rằng, ở đâu đó phía trước, đời mình rồi cũng sẽ có mùa đông bớt lạnh. Đêm Giáng Sinh vừa qua, trong căn nhà yên ắng, con gái tôi kể lại một câu chuyện cũ. Một mùa Giáng Sinh của nhiều năm về trước, khi anh em nó còn đang đi học, khi BA tôi — ông nội của tụi nhỏ — vẫn còn ngồi đó, chậm rãi nhìn quanh căn phòng. Hôm ấy, gần đến lễ Noel, ông nội bỗng chép miệng, giọng buồn buồn: “Nô-en năm nay sẽ vui biết mấy nếu nhà mình có cây thông để đón lễ Chúa Giáng Sinh…” Nói xong, ông im lặng. Khuôn mặt già nua thoáng một nỗi buồn không giấu được.
Saturday, December 13, 20254:25 PM(View: 12576)
Được tin nghệ sĩ Thương Tín mất, xin được thắp nén nhang tưởng nhớ anh bằng kỷ niệm sâu sắc này, trong lần duy nhất được cộng tác với anh trong bộ phim “Thì thầm cao nguyên”: ...Thế là, tôi đã có dịp lang thang mấy tuần liền ở những vùng sâu vùng xa gian khổ nhất của tỉnh Bình Phước để lấy cảm xúc và thu thập tư liệu viết kịch bản phim... Ở xứ sở cao su bạt ngàn, một số cán bộ huyện - xã đã trở thành những “lãnh chúa” mới, chiếm dụng những diện tích đất lớn cho bản thân, còn không ít người công nhân cao-su đang dần trở lại thân phận chẳng kém thời mộ phu thực dân… Tại những vùng của người dân tộc S’ tiêng nơi cực Nam dãy Trường Sơn này, cuộc sống của đồng bào vô cùng gian khổ…
Monday, December 8, 20257:59 PM(View: 10757)
Hồi còn nhỏ tôi thích nhất là được đi chùa với bà Nội. Lớn lên tí nữa tôi cũng thích đi chùa. Và sau này tôi không còn trẻ nữa tôi vẫn thích đi chùa nhưng thường tự đi chỉ một mình. Nơi tôi đến đó là chùa Long Khánh Qui Nhơn, nhưng chẳng phải đến để tu tập đâu mà đến chỉ để tìm khoảng không gian yên tĩnh chỉ có ở cảnh chùa.