- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

NGƯỜI CỦA “TRĂM NĂM CÔ ĐƠN”

20 Tháng Hai 20213:06 CH(Xem: 36948)

tncd 4

 

Nếu con gái và con rể chúng tôi không chuyển đến đó làm việc thì chắc chúng tôi không bao giờ nghĩ đi đến nơi đó.

Khi chúng tôi báo cho bạn bè biết là chúng tôi sẽ đi thăm gia đình con gái ở Colombia thì có nhiều người lo ngại vì xứ đó là một nơi hỗn loạn, chiến tranh ma túy,  giết người như nghóe, nhưng cũng có người gây hứng thú cho chúng tôi, vì đó là nơi mà là một nhà văn được giải Nobel với tác phẩm “Trăm Năm Cô Đơn”, cái tên truyện khá hấp dẫn được cả thế giới biết đến của nhà văn Grabiel Garcia Marquez.  

Trong thời gian nhiệm kỳ ba năm của con rể tôi, chúng tôi đã đến thủ đô Bogota, của Colombia  hai lần. Lần nào cũng ở đó đến mấy tuần, tạm đủ để đi thăm nhiều nơi trong thành phố và một vài vùng lân cận. Bogota nằm trên cao độ 8660ft so với mặt biển, nên khí hậu lúc nào cũng êm dịu. Là một trong những thành phố lớn nhất của Châu Mỹ La tinh, dân số hiện nay ước chừng 8 triệu người, từng được mệnh danh là “The Athen of South America”.

Dân số Colombia trên 50 triệu người. Diện tích khoảng 440.000 square miles, (So với Việt Nam dân số trên 97 triệu và diện tích chỉ là 127,882 square miles). Hầu hết theo đạo Thiên Chúa. Tỷ số đô thị hóa khá cao 80% , còn lại 20% sống tại nông thôn. Lợi tức cá nhân rất xa cách. Thành phố mở rộng ra ngoài ven đô với nhiều cao ốc, trong khi đó, nhiều nơi đồng ruộng chúng tôi đi qua bỏ hoang, xác xơ. Xứ này, sản xuất dứa, thơm đứng hàng thứ 10 thế giới, avocado hàng thứ 5, về hoa xuất cảng sang Mỹ khá nhiều thường thấy trong các siêu thị lớn. 

 

tncd 1

 

Trong thập niên 1990, Columbia từng bị liệt là một thành phố có nhiều tội phạm nhất thế giới, với tỉ lệ là 81 người bị giết trên 100,000 người. Nhờ chính sách “Communidad Segura” (safe community) thành công, tỉ lệ này ngày càng hạ xuống thấp chỉ còn là 25 trong năm 2018. Tại Mỹ, đứng đầu là Delaware 11.7, Louisana 11.4. trong khi đó California 4.4. Trên thế giới đứng đầu là Lesotho 41.25, Hondura 38.93, South Africa 36.40.  Tuy nhiên, đối với nhiều người bên ngoài, nỗi ám ảnh về hình ành cũ của Colombia vẫn chưa tan hẳn. Ma túy vẫn là nỗi bất an, đồng thời cũng là nguồn thu nhập của xứ này.

Đối với chúng tôi trong những ngày ở đó, Bogota là một thành phố an bình, mọi người ngoài phố ăn mặc lịch sự, chỉnh đốn. Phố xá không có rác. Trong một chuyến xe bus ở phi trường, vừa thấy chúng tôi lên, hai người đã đứng dậy nhường ghế. Chỉ phiền một nỗi là rất ít người nói tiếng Anh.  Giao thông cũng có giờ kẹt xe, nhưng không đến nỗi gây tắc nghẽn. Họ giải quyết bằng cách chia xe số chẵn số lẻ, cách một ngày mới được phép chạy trong thành phố.  Họ đã giảm được nửa số lượng xe lưu thông trong một ngày cho thành phố. Một số người có khả năng đã mua hai xe giữ hai số chẵn lẻ. Xe cộ không bóp còi inh ỏi, phương tiện di chuyển hầu hết bằng xe hơi. Vỉa hè nhiều chỗ của họ rất rộng, nhiều khu hai bên bằng 4 lằn xe, thế mà chỉ có hai ba lằn xe mỗi chiều dành cho xe hơi, nhưng không thấy có một xe gắn máy nào chạy trên lề đường. Phương tiện công cộng xe bus và xe van của tư nhân chỉ vài phút là có một chuyến. Không thấy hàng quán chiếm lề đường. Ngoài xa lộ, nhiều nơi khoảng giữa chia hai chiều nhiều nơi rộng như một công viên trải dài, cây cối xanh tươi được chăm sóc cẩn thận. Chúng tôi nói với nhau sao họ không thu hẹp vỉa hè và khoảng cách giữa hai chiều để nới rộng thêm lằn cho xe hơi thì giao thông sẽ thoải mái hơn nhiều. Chắc hẳn họ đã nghĩ hi sinh cái này để giữ cái kia, cho người đi bộ được an toàn và thành phố thêm được nhiều cây xanh. Tại những địa điểm du lịch, cũng có nhiều người bán hàng rong đến mời chào, nếu không muốn mua chỉ cần nói một tiếng cám ơn gracias là họ đi ngay, không đeo lằng nhằng, co quéo. Có một số nhỏ tiệm fast food như McDonald, Starsbuck mới len vào mở một vài tiệm đầu tiên, nhưng phải dùng cà phê bản xứ. Tiệm ăn Á châu rất ít. Các tiệm ăn của họ phần đông trang trí trang nhã, và tiếp đãi lịch sự đúng tiêu chuần mà giá chỉ bằng một ba so với ở Mỹ.  Tại các siêu thị thực phẩm nhập cảng cũng khó tìm thấy và rất đắt.

Chúng tôi cũng đã đến Buenos Aires, Argentina theo con gái tôi trong thời gian ba năm ở đó, nay là Colombia, có cảm tưởng rõ rệt là Nam Mỹ La tinh vẫn giữ gần như nguyên bản sắc của họ và rất ít chịu ảnh hưởng của thế giới bên ngoài về mọi mặt, ngay cả với Hoa Kỳ. 

Cà phê Colombia nổi tiếng thế giới, Chúng tôi có thăm đồn điền “Café Plantation Hacienda Coloma” cách Bogota hai giờ lái xe.  Đường đồi núi quanh co như cao nguyên Việt Nam. Trên đường đi, có các quán bán thịt nướng không phải thịt rừng. Tại đồn điền này, ngay khu mới vào, họ trồng rất nhiều lan treo dính vào các cây cổ thụ, bên canh đó là những nhà cổ tích như trong truyện Bạch Tuyết và Bẩy Chú Lùn. Chúng tôi được dẫn đi và chỉ dẫn qua mọi giai đoạn từ khi ươm hạt trồng cây cho dến giai đoạn chót xay thành bột cà phê, và cuối cùng cầm ly nếm hương vị cà phê mới xay tưởng như mình đang lạc vào một thiên đường cà phê.

 

Cà phê Colombia là một lọai cà phê nổi tiếng thế giới, thuộc loại Arabia có hương vị đặc biệt và được nhiều người ưa thích, khác với cà phê Việt Nam là Robusta vị đắng hơn. Arabia cần một khí hậu thích hợp, ít mưa hơn và giá cao gấp đôi Robusta. Ngẫu nhiên có một mẫu cà phê Việt Nam ở đó, tôi hỏi thì được biết, cà phê này được nhập cảng để chế biến cho dân chúng dùng, còn cà phê Colombia để xuất cảng. Tự nhiên, tôi thấy thương cho Việt Nam chỉ cố chạy theo số lượng mà quên mất phẩm chất như gạo, cà phê, tiêu, nước mắm… đã không những đánh mất thương hiệu và còn mất giá thảm thương.

 

Chúng tôi đã đi thăm một thi trấn cổ “Villa de Leyva”, ba giờ lái xe, được tìm thấy năm 1572. Những đường phố ở đó trải đá tảng cobblestone,  người và xe đã đi qua  mấy trăm năm nên mặt đá nhẵn thín. Có một nhà thờ cổ và một quảng  trường lớn.

Đi thăm trung tâm thủ đô Bogota, trong khu phố cổ của thành phố Bogota, ở đó có một quảng trường cổ rộng hơn St. Mark square ở Venice, cũng có hàng ngàn chim bồ câu, và có những con thú nhỏ giống như lạc đà.

Trong khu này có Trung tâm Văn Hoá Marquez và hai bảo tàng. Bảo tàng vàng là nơi hấp dẫn hàng đầu của du khách, trưng bầy 55.000 hiên vật được chế tác từ vàng, nổi tiếng nhất là tác phẩm kiệt tác “Muisca Boat”, chiếc bè bằng vàng bên trên là là những người Muisca đang làm lễ tế thần.

Bảo tàng của Fernando Botero, họa sĩ này đặc biệt nổi danh thế giới về những họa phẩm cùng điêu khắc vẽ những người đàn bà, đàn ông mập căng tròn.

 

 tncd 2

tncd 3

                                                              

Trung tâm văn hóa Garcia Marquez gần đó gồm một tiệm sách lớn, trưng bầy tại quầy chính các ấn phẩm tái bản mới nhất của Marquez. Bên ngoài sân trước là những cột xây kỷ niệm về Marquez và một tiệm cà phê. Nhớ nhất là có mấy người nhạc sĩ vỉa hè, mặc đồ bộ đuôi tôm đen, đội mũ cao như kiểu Ăng Lê, đứng nghiêm chỉnh chơi các đàn dây như đại hồ cầm, lục huyền cầm…Chúng tôi đứng lại nghe một nhạc sĩ chơi vĩ cầm, anh ta chơi khá điêu luyện, tôi cố nói chuyện và yêu cầu anh cho nghe thêm mấy bản nhạc quốc tế quen thuộc nữa như Come Back to Sorrento, La Paloma… Tôi tặng anh mấy đô la và từ giã bắt chặt tay anh…    

                                                                      *

Chúng tôi lấy chuyến bay từ Bogota, khoảng 45 phút để đến thành phố ven biển Cartagena, nơi mà Marquez, để lại nhiều ghi dấu của cuộc đời và sự nghiệp văn chương trên quê hương của ông. Marquez đoạt giải thưởng Nobel về văn chương năm 1982, vừa qua đời năm nay 2014 tại Mexico, nơi ông đã di trú 30 năm trong đoạn cuối cuộc đời.

 

 

 tncd 5 

Cartagena xưa là thuộc địa của Tây Ban Nha, thành lập năm 1503, nằm trên bờ biển Carabian, được Unessco công nhận là di sản thế giới. Đặc biêt có những đồn lũy cổ, xưa kia để chống lại tầu cướp biển. Hiện nay là một thành phố du lịch, với gần một triệu dân. Bãi biển khá rộng và dài đến chục miles

 

Chúng tôi đến thăm ngôi nhà của Marquez, nhưng đến muộn họ đã đóng cửa. Đến thăm quán Càfé Havana, mà Marquez đến hàng ngày trong lúc còn sống, nay cũng đóng cửa để tân trang. Sau đó, chúng tôi được giới thiệu đến một quán ăn mà Marquez thường đến, vì chủ quán là bạn. Quán này được báo ở New York cho vào mục food critic, là quán ăn nổi tiếng của Colombia.

 

Grabriel Garcia Marquez sinh năm 1927 tại Aracataca, một ngôi làng hẻo lánh ở miền Bắc Colombia. Marquez là con cả trong một gia đình có tới 12 anh em. Cha mẹ ông sớm rời đi nơi khác kiếm sống và Marquez chủ yếu được ông bà nuôi dưỡng. Làng Aracatata, cũng như bà ngoại ông với cá tính mạnh và một chút gì huyền bí, với hình dáng hơi giống một bà phù thủy, chính là nguồn cảm hứng để Marquez sau này tạo ra bối cảnh cho tiểu thuyết nổi tiếng nhất của ông : “Trăm Năm Cô Đơn, mà bà ngoại ông là hình bóng cho nhân vật nữ chính trong gia đình Buendia trong truyện.

Marquez nguyên là một sinh viên Luật khoa tại Bogota. Trường đóng cửa, về Cartagena làm báo, và là một nhà báo tranh đấu, viết truyện ngắn, truyện phim và truyện dài. Ông quen biết Hemmingway, chịu ảnh hưởng của Faulkner, Kaffa. Và viết theo cách ‘’Hiện Thực Huyền ảo’’, (Magic Reality).

Những tác phẩm được nhắc nhiều đến là:

-          Ngài Đại Tá Chờ Thư,  (El coronel no tiene quien le escriba, 1959)

-          Trăm Năm Cô Đơn, (Cien años de soledad, 1967)

-          Mùa Thu Của Trưởng Lão, (El otoño del patriarca, 1975)

-          Mối Tình Trong Thời Dịch Tả, (El amor en los tiempos del colera,1985)  

 

Trăm năm cô đơn viết bằng tiếng Tây Ban Nha, được nhà xuất bản Sudamericana cho in lần đầu vào năm 1967 tại Buenos Aires (Argentina). Đến năm 1970, truyện  được tái bản hơn nửa triệu bản, chưa kể hai lần in ở Cuba là một trăm nghìn bản. Cho đến nay, tác phẩm nổi tiếng của ông đã chuyển dịch qua hơn 35 ngôn ngữ trên thế giới trong đó có Việt Nam với 50 triệu cuốn. “Trăm Năm Cô Đơn” được tặng giải Chianchiano của Ý, được Pháp công nhận là cuốn sách hay nhất trong năm và được giới phê bình văn học Mỹ đánh giá là một trong 12 cuốn sách hay nhất trong thập niên 1960. Đây là một kiệt tác của Marquez, đã mang đến cho tác giả vinh dự đoạt giải Nobel Văn học vào năm 1982

Bản dịch tiếng Việt của dịch giả Nguyễn Trung Đức, với sự cộng tác của Phạm Đình Lợi và Nguyễn Quốc Dũng, ở miền Bắc, họ dịch thẳng từ nguyên bản tiếng Tây Ban Nha, cố giữ nguyên bản nên đọc hơi khúc mắc. Họ đã dịch thêm nhiều tác phẩm khác bằng tiếng Tây Ban Nha và  đã có công đưa văn học La Tinh cho các độc gỉả Việt Nam. Tuy vậy, Nguyễn Trung Đức trong khi dịch chỉ giới thiệu các tác phẩm văn chương nổi tiếng thế giới của Marquez, mà không đề cập đến Marquez là người mê chủ nghĩa Cộng Sản có hạng, nên bị chính quyền có ác cảm nặng với dịch giả.  

 

Trong khi đó ở miền Nam, nhà văn Trùng Dương trong một bài được đăng trên Diễn Đàn Thế Kỷ  có viết, nhà văn  Hoàng Hải Thủy đã dịch xong cuốn này, lấy tên là “Trăm năm Quạnh Hiu”. Đem đưa kiểm duyệt, đã không được phép in vì cho là Marquez theo Cộng Sản. Tôi rất thích đọc văn dịch phóng tác của Hoàng Hải Thủy, như cuốn “Jane Eyre” qua bản dịch “Kiều Giang”, vừa văn chương, vừa lãng mạn lại dễ đọc. Không hiểu bản dịch này nay ở đâu?   

 

 tncd 6

   

 

           “Trăm Năm Cô Đơn” đã có những đặc điểm về văn chương và thông điệp gì cho mọi người, dịch giả Trương Duy Đức viết:

-          Trăm năm cô đơn là câu chuyện về dòng họ Buênđya tồn tại bảy thế hệ, có tới 60 nhân vật. Người đầu tiên bị trói vào gốc cây và người cuối cùng bị kiến ăn. Một dòng họ tự lưu đày vào cõi cô đơn để chạy trốn tội loạn luân.

-          Điều gì khiến "Trăm năm cô đơn" - một tiểu thuyết theo chủ nghĩa "Hiện thực huyền ảo", dày tới hơn 600 trang, chỉ kể về câu chuyện loạn luân của một dòng họ ở một ngôi làng "huyền thoại", dành được giải Nobel phải chăng tác phẩm đã đạt tới hai mục tiêu cơ bản của giải thưởng. Đó là bút pháp độc đáo, mới mẻ và ý nghĩa nhân văn của thông điệp tác phẩm gửi tới người đọc.

-          "Trăm năm cô đơn" được đánh giá là sản phẩm tuyệt vời của hư cấu nghệ thuật. Với bút pháp "Hiện thực huyền ảo", Márquez đã dựng nên một ngôi làng có tên gọi Macondo. Đó là ngôi làng không một người dân nào sống quá ba mươi tuổi và chưa có nghĩa địa, đã từng xảy ra những chuyện hoang đường như cơn mưa hoa trong một đám tang, những con người được hoài thai bởi bướm và bọ cạp, những người có đuôi, có người bay lên trời không trở lại... Ở ngôi làng đó, những người con trai và con gái cùng huyết thống đã yêu nhau, lấy nhau, sinh ra những đứa con dị tật có đuôi như lợn hoặc như khỉ!

-          Nỗi ám ảnh về tội loạn luân đã đẩy những con người nơi đây chìm sâu vào nỗi cô đơn. Họ cô đơn trong ngôi nhà của mình. Cô đơn giữa những người thân thuộc. Cô đơn trên chiếc giường của mình, trong giấc mơ của mình... Cuối cùng, sau một trăm năm sống trong cô đơn, làng Macondo bị một cơn cuồng phong cuốn mất khỏi thế giới. Rõ ràng là, về phương diện xã hội, Márquez muốn viện dẫn một vấn đề có tính quy luật. Đó là, nếu anh đơn lẻ trong cuộc đấu tranh đối đầu với thiên nhiên và con người, anh sẽ thất bại. Nếu anh khép mình, đóng kín, quay lưng lại với thế giới, đi ngược lại những quy luật vốn có, anh sẽ bị hủy diệt. Tương tự như thế, đất nước Colombia cùng với lục địa Mỹ La Tinh nếu đóng cửa, tuyệt giao với thế giới bên ngoài, sẽ vĩnh viễn bị giam cầm trong lạc hậu, đói nghèo.

-          Còn về thông điệp, Márquez muốn nhắn nhủ một điều giản dị, nhưng sâu đậm tính nhân văn: Mọi người hãy sống đúng bản chất người, hòa hợp với các mối quan hệ xã hội của mình, hãy vượt qua mọi định kiến, thành kiến cá nhân, hãy lấp bằng mọi hố ngăn cách cá nhân để cá nhân tự hòa đồng với gia đình, xã hội.

 

Gabriel Garcia Márquez khởi sự nghiệp sáng tác rất sớm, khi đang là sinh viên. Bắt đầu là những bài viết gửi đăng trên tờ El Espectador. Tiếp đến là hơn một chục truyện ngắn. Năm thứ hai ở đại học, Márquez quyết định bỏ học để theo nghề báo và viết văn. Nhờ nghề báo, Márquez được gửi đến Thụy Sĩ, Pháp, Anh, Venezuela, Cuba, Nga, Mỹ... để viết nên những thiên phóng sự nổi tiếng và một số tiểu thuyết khi tuổi đời còn rất trẻ. Sau mấy chục năm có mặt ở tất cả những "điểm nóng" trên thế giới, năm 1961. Márquez đã viết gần hai chục cuốn tiểu thuyết, một trăm truyện ngắn và một số kịch bản phim truyện. Song ông vẫn cho rằng, cuốn sách cuộc đời ông là cuốn sách về "cái cô đơn", đã miêu tả, mổ xẻ, huyền ảo hóa "cái cô đơn" để gửi gắm một thông điệp cho cuộc sống.

Márquez trở về quê hương, sử dụng tất cả vốn liếng tích cóp trong gần hai chục năm để viết cuốn sách để đời, cuốn "Trăm Năm Đơn". Netflix đang dựng tác phẩm này thành bộ phim nhiều kỳ trên màn ảnh nhỏ.

"Trăm năm cô đơn" được Márquez chính thức viết năm 1965, đến năm 1967 thì hoàn thành và đưa đi xuất bản. Nhưng theo như lời ông nói, "Trăm năm cô đơn" đã được ông "hoài thai" từ gần hai mươi năm trước. Đó là quãng thời gian ông làm nghề báo và viết các tiểu thuyết đầu tay, như: "Ngôi nhà", "Bão lá", "Một trong những ngày này", " Ngài đại tá chờ thư", "Đôi mắt chó xanh", "Đám tang bà mẹ vĩ đại"... Ông cho rằng, việc viết các tiểu thuyết trên là bản thảo lần đầu cho "Trăm năm cô đơn".

Sau khi đoạt giải Nobel Văn học, năm 1985, Márquez tiếp tục chứng tỏ khả năng bứt phá bằng "Tình Yêu Thời Thổ Tả", cuốn tiểu thuyết được ông xây dựng trên nguyên mẫu mối tình của cha mẹ mình. Truyện này đã được dựng thành phim. Đó là một mối tình bền vững, dẫu người cha có con ngoài giá thú! Tác phẩm được đánh giá là "một trong những cuốn tiểu thuyết hay nhất về tình yêu mà con người có thể viết nên". 

Không chỉ là một người có tài kể chuyện xuất chúng, Marquez chinh phục độc giả nhờ lối viết hiện thực, lồng trong bối cảnh lịch sử, chính trị, của đất nước, của châu Mỹ La Tinh, của thời cuộc. Đồng thời những tác phẩm của ông có thể đọc như một bài ngụ ngôn, trong đó cái « thực » luôn kèm cả với những truyền thuyết dân gian, những mê tín dị đoạn, với những lời nguyền, cộng thêm với một chút gì huyền bí. Marquez được tôn vinh và làm mê hoặc cả thế giới do ông là một trong những nhà cầm bút hiếm hoi thành công trong việc đưa lịch sử, văn hóa, đời sống không chỉ của một dân tộc mà là của cả châu Mỹ La Tinh đến với độc giả. 

Nhưng bên cạnh sự nghiệp văn chương đồ sộ, Marquez còn là một nhà báo. Chính tác giả của « Ký Sự Về Một Cái Chết Được Báo Trước » từng nói: “ Làm báo là cái nghề đẹp nhất trần gian. Từ giữa thập niên 1940 Marquez đã bước vào nghề, cộng tác tờ El Espectador, rồi điều hành tạp chí Venezuela Grafica tại Caracas. Ông được phái đi nhiều nước, nhất là Âu châu

Sau cuộc cách mạng Cuba, Marquez là một người rất hâm mộ Fidel Castro, ông đã hợp tác với hãng thông tấn Prensa Latina tại La Habana. Ông sống một thời gian ở Cuba, được Castro cấp nhà, sau đó, Marquez rời khỏi Cuba về định cư hẳn tại Mễ Tây Cơ, và cũng tại đây ông đã đóng cửa với thế giới bên ngoài trong 18 tháng liền, để hoàn tất tác phẩm để đời « Trăm Năm Cô Đơn ».

Ông sống dưới chế độ độc tài Nam Mỹ, nên ông không chỉ là một nhà báo thiên tả, mà đã đưa ông đến là một nhà báo thiên cộng. Năm 1986, ông viết một bài báo tố cáo chiến hạm hải quân chở ma túy, bị chính quyền truy lùng, may trốn được vào tòa đại sứ Mể Tây. Sau dó ông được tị nạn và qua đời ở đó sau gần 30 năm.

Ông đến thăm nhiều nước cộng sản của Liên sô, là bạn của Fidel Castro, có những bài viết bênh vực Castro và hỗ trợ các hoạt động du kích cộng sản ở Nam Mỹ. Ông bị mê hoặc và tin tưởng vào chủ nghĩa xã hội. Ông có đến thăm VN hai lần, lần đầu trong chiến tranh và lần sau năm 1980. Ông bị chính phủ Mỹ cấm nhập cảnh, mãi đến thời kỳ Clinton mới bãi bỏ. 
                                                                    

Dù Marquez phải sống lưu vong ở Mễ Tây Cơ, 30 năm cuối cuộc đời vì chống độc tài tham nhũng, dù ông bị thuyết Cộng Sản mê hoặc, dù Colombia và cả đại lục Nam Mỹ không nước nào theo Cộng Sản, nhưng khi ông mất năm 2014, ông vẫn là niềm hãnh diện của họ.

Tổng thống Colombia Juan Manuel Santos tuyên bố ba ngày quốc tang. Qua mạng Twitter ông viết : « Sự ra đi của tác giả Trăm Năm Cô Đơn, người con vĩ đại nhất mọi thời đại của Colombia để lại Một ngàn năm cô đơn và đau buồn cho đất nước “. Marquez được mệnh danh là « cha đẻ của trường phái hiện thực huyền ảo ». Tro cốt của Marquez được mang về Cartagena cất giữ, thành phố nơi ông khởi nghiệp và hoàn thành những tác phẩm trứ danh. Sau này hình của ông còn được in trên tiền giấy lưu hành ở Colombia.

Năm 1991, Liên Sô Cộng Sản tan rã, là một thất vọng nảo nề cho Marquez. Không hiểu sau đó ông có phản tỉnh không khi nhìn lại còn một vài nước còn theo chế độ cộng sản như Cuba, Triều Tiên, Việt Nam, Trung Hoa, độc tài và tham nhũng còn gấp trăm lần so với chế độ mà ông sống thời ông còn ở Colombia.

                                                                        *

Chúng tôi không hiểu còn lần nào để có dịp đến tìm Marquez nữa hay không?

NGUYỄN CÔNG KHANH

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
10 Tháng Chín 202612:47 SA(Xem: 201)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
10 Tháng Chín 202612:22 SA(Xem: 133)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2308)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 1499)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 1369)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2372)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 1878)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2522)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
07 Tháng Tám 202610:29 CH(Xem: 1768)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 2276)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 1768)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11681)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18260)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17307)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2372)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2522)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 3797)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 3824)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 201)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
(Xem: 1878)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 3527)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 3161)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2308)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 2276)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 2441)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 2625)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
10 Tháng Chín 2026(Xem: 133)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1499)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1369)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 2545)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 4372)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14840)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30986)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 37637)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12687)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13994)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 5030)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 7492)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 6636)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 7035)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 7969)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9718)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8944)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11842)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.